Martin Paz

Chapter 6

Chapter 65,077 wordsPublic domain

Ngâm rồi bèn lấy cục than, Viết vào tấm vách rõ ràng tám câu Anh em trước án khấu đầu, Lạy ông Quan hầu, lui gót trở ra. Đem nhau vội vã về nhà, Thưa với mẹ già, đặng rõ nguồn cơn Nàng rằng: tấc dạ keo sơn, Thấy con lại nhớ công ơn của chồng. Tưởng là tách dặm non sông, Am vân hôm sớm ra công tu hành, Hay đâu còn nỗi Lưu linh. Trời dài đất rộng, một mình bơ vơ. Xiết bao khe suối, bụi bờ, Nắm xương già rụi, biết nhờ ai hang? Khóc thôi dùng lễ để tang, Mẹ con chịu phục cho chàng họ Dương. Lần hồi ở chốn quê hương, Anh em Trân, Bửu theo phương học hành. Tiếng hay đâu cũng biết danh, Tuổi vừa hai tám, tài anh khác thường. Xảy nghe trên huyện Nam khương, Tờ đòi sĩ tử tựu trường phú thi. Bao nhiêu chúng bạn đều đi, Anh em giành thứ nhất nhì đậu cao. Về nhà sắm sửa níp, bao, Lên Hà đông trấn đặng vào thu vi, Hai chàng cất gánh ra đi, Nửa đường xảy gặp trò thi trở về. Nói rằng có bản treo đề, Rao cho sĩ tử trở về khoa sau Ngày nay có giặc Tây châu, Lịnh sai quân trấn, lo âu giẹp loàn, Học trò ai nấy đều than: Ba năm một hội, lỡ làng công phu, Xảy về đương lúc sơ thu, Đi đường thấy cảnh dạ sầu nào nguôi! Khắp nơi bờ cõi ngậm ngùi, Gió tây dìu dặt mấy mùi kỳ hoa. Lá cây vàng rụng giơ chà, Chim kêu déo dắt người xa thêm sầu, Hai chàng nghĩ việc trước sau, Về đường phân nói cùng nhau mấy lời, Trân rằng: Hổ đứng dưới trời, Phận làm nhân tử ở đời chẳng may, Cha thời sống thác nào hay, Mẹ thời già yếu, liền ngày ngồi trông. Tưởng là đèn sách nên công, Sớm cho gặp hội mây rồng hiển vang. Hay đâu gặp buổi ly loàn, Lỡ bề báo hiếu, lỡ đàng lập thân, Luận theo trong cõi phàm trần, Ngọc lành chờ giá, biết phần ai mua? Sau dầu đặng lộc nhà vua, Xuân huyên chếch mác, se sua ai nhờ? Bửu rằng: Danh lợi phỉnh phờ, Ví như hình vẽ khó đo lòng trời, Trời tây khó nỗi vị lòng Ngày xuân nhặt thúc như vòng én mau, Thương thay mẹ đã bạc đầu! Chưa hay bóng xế nhành dâu buổi nào! Không nhà, không cửa, nài sao? Chịu ơn nghĩa cậu biết bao giờ rồi. Tình người ở bạc như vôi, Mấy ai biết đạo tài bồi lấy nhau, Ta dầu tốt báu như châu, Về nơi đáy biển, ai hầu biết cho! Anh em tỏ tấm lòng lo, Xảy đà gần đến bến đò sông Tương, Thấy tòa cổ miếu bên đường, Cây cao, bóng mát, vách tường phấn tô, Cùng nhau tránh nắng bước vô, Trước sân thấy có một hồ hoa sen, Một hồ sen nở lõa bè, Đóa đua nở nhụy, đóa chen ngậm cười. Trân rằng: Cảnh khéo trêu ngươi, Gẫm hoa sen nọ giống người tài hoa, Ta nghe sen nở bông ra, Sớm: là mùa hạ; muộn: là mùa thu, Hỡi ôi! Sen chẳng gặp chầu Muộn, dầu trổ tốt, ai hầu khen chi? Hai chàng làm một bài thi, Vịnh hoa sen muộn, ngụ suy việc mình,

Vịnh Thu Liên: Sen hỡi là sen! tiếng chẳng hèn Thấy sen lỡ vận tiếc cho sen Ngậm cười trước hạ: hèn cũng thưởng, Đua nở mùa thu: tốt mấy khen? Gương mặt bất phàm đâu biết đặng, Bèo tai vô dụng gọi rằng quen. Phải mà sanh gặp nơi tiên cảnh, Lá rộng cao che khắp các bèn.

Anh em họa sướng thơ rồi, Viết vô trong vách tô vôi rõ ràng. Sau thơ, lạc khoản hai hàng, Một hàng quê quán, một hàng tánh danh. Đem nhau trở lại gia đình, Nhờ cậu nuôi mình, chờ đợi khoa sau, Lối nầy tới chuyện tây châu, Có người Vương Phục lòng âu phản thần. Riêng cầu bên nước Nữ Chân, Đem quân mọi rợ đánh phần Hà đông. Tần khanh làm chức Nguyên nhung. Ra ngăn Vương Phục, đánh cùng Nữ Chân. Giặc hung, oai thế lẫy lừng, Nguyên nhung đánh giẹp đã gần hai đông, Đánh rồi lũ kiến, chòm ong, Tây châu một cõi lặng trong như tờ, Ải lang vắng khói như xưa, Nguyên nhung binh mã về bờ cõi châu. Quân đi tới rừng Tương châu, Tới tòa cổ miếu gặp chầu mưa đông. Đóng quân vào nghỉ miếu trung, Chờ trời tạnh ráo sẽ mong kéo về. Tần Khanh ngồi ngó tư bề, Thấy trên vách phấn có đề "thơ sen". Xem qua thơ ấy liền khen, Khiến đem bút mực, đọc bèn sao qua. Nói rằng: Trời đất khiến ta, Gặp trang tài sĩ sớm hòa nghĩa thân, Nhớ nay Xuân Tuyết, Thu Băng, Tuổi vừa hai bảy, vừa chừng đào yêu, Đà nên lập lớp thước kiều, Giàn binh xạ tước, ngỏ chiêu anh tài. Sao cho xứng gái, xứng trai, Chữ tài, chữ sắc, sánh hai đôi lành. Nói rồi, lịnh dạy kéo binh, Xếp thơ bỏ hộp, về thành Hà đông. Đãi đằng tướng sĩ đã xong, Về dinh ngồi nghĩ lại trong việc nhà. Tây châu từ thuở kéo ra, Phu nhân có nghén đặng ba tháng rồi. Nay về con đã biết ngồi, Thật trời thêm phước còn roi họ Tần, Bèn đem chuyện ở miếu thần, Cùng "thơ sen" ấy tố Trần Phu nhân, Nói rằng: Hai gái Tuyết, Băng; Đã thông chữ nghĩa, lại nhuần nết na, Người xưa muốn tính việc nhà, Thấy người văn học, mới là xứng đôi, Bấy lâu giặc giã chưa rồi, Những lo sĩ tử bỏ nơi học trường Ai dè bên huyện Nam khương, Có hai sĩ tử họ Dương tài tình. Muốn cho nên việc con mình, Phải đòi phủ huyện, hỏi minh việc chàng, May đâu có huyện Nam khương, Tên Trần Đoan, tới dân chương mừng hầu, Mừng cho chín huyện, bảy châu, Ở an lạc nghiệp đọc câu thăng bình, Tần Khanh ngồi chốn hậu dinh, Đòi vào han hỏi sự tình họ Dương. Trần Đoan thưa chuyện họ Dương, Mẹ con, nhà cửa, tỏ tường đầu đuôi, Tần Khanh nghe rất mừng vui, Cười rằng: Máy tạo khéo xui hiệp hòa. Họ Dương sánh với họ Hà, Song sanh điềm ấy, đôi đà xứng hai, Nấy cho quan Huyện làm mai, Xe dây Nguyệt Lão đặng hài lương duyên, Trần Đoàn vâng lịnh về liền, Trở về tống bảng, tờ truyền theo sau, Rằng: Nay yên giặc Tây châu, Tấn vương bệ ngọc mở chầu ân khoa. Huyện quan viết bảng treo ra, Rao cho sĩ tử gần xa đặng tường. Anh em Trân Bửu hai chàng, Đem nhau tới chốn huyện đàng ứng thi. Anh em cùng đậu nhất nhì, Trở về sắm sửa cùng đi tựu trường. Trần Đoàn ngồi chốn hậu đường, Đòi lại hai chàng, nói chuyện cầu hôn. Dạy về thưa với gia tôn, Đều dùng sáu lễ nghinh hôn một lần, Trước lo kết nghĩa châu trần, Sau là một nỗi lập thân khoa này, Hai chàng ngẫm nghĩ một giây, Thưa rằng: Công học bấy chầy ra chi! Ân vua đã mở khoa thi, Để cho thử sức một kỳ sẽ hay, May mà cánh nhạn cao bay, Trấn quan khỏi tiếng bằng nay tư tình. Chẳng may bảng hổ vô danh, Huyện quan cũng khỏi nho sanh chê cười, Trần Đoàn nghe thấm mấy lời, Dạy về lo liệu tới nơi khoa trường. Hai chàng về lạy gia nương, Cùng nhau bàn luận mọi đường gần xa. Nàng rằng: Chút phận không nhà, Mặc con toan liệu, mẹ già cũng ưng, Chớ lo dây đỏ vấn chưn, Lo công nghiệp buổi thanh xuân cho tròn. Sau dầu danh tạc bia son, Trời dành trong sách có con gái hiền. Hai chàng thâm tạ nhà huyên, Mang đồ tứ bửu lên miền Hà đông. Mười ngày lên tới Hà đông, Tìm nơi lánh ở, mình không dạo đường, Cùng nhau vô đủ ba trường, Còn chờ treo bảng, chưa tường đỗ không, Trần Đoàn lãnh việc mai dong, Phải đi lên trấn, theo cùng họ Dương. Mắc di chuyển vẫn dọc đường, Tới nơi nghe chúng vào trường mới xong. Hỏi tìm khắp hết tây đông, Anh em Trân Bửu, đều không gặp rồi, Bảy ngày kiếm ngược, kiếm xuôi, Tới lui hai lẽ, thẳng dùi khôn toan, Muốn về ra mắt Trấn quan, Sợ e người hỏi hai chàng huyện ta. May vừa cửa bảng xướng ra: Dương Trân tên họ, Thủ khoa chánh vì. Cử nhân Dương Bửu thứ nhì, Ba ngàn sĩ tử một khi khen giồi, Yến diên, áo mão, ban rồi, Trần Đoàn đóng cửa rước lui hai chàng, Đem ngay vào chốn công đàng, Lễ dâng bốn lạy, rỡ ràng nam nhi, Trần Đoàn bèn lấy quyển thi, Dâng lên trước án một khi khen liền Dạy rằng: Hai gã thiếu niên, Chữ danh đã toại, chữ duyên thêm nồng. Vàng dòng ta cũng chẳng dùng, Muốn cho ngọc nhuận, sánh cùng băng thanh. Lứa đôi có số thiên thành, Chờ khi tháng tốt, ngày lành sẽ toan, Nói rồi vào chốn hậu đàng, Khiến đem hai chàng, ra mắt phu nhân. Phu nhân xem thấy rất mừng, Rằng: Ơn trời khéo nhắm chừng định đôi, Trai tài, gái sắc, phải rồi, Nhà loan cửa phụng sánh ngôi, vui vầy, Sai người rước mẹ qua đây, Chủ hôn cho trẻ kết dây sắt cầm, Dương Trân, Dương Bửu đồng tâm, Thưa rằng con nợ thanh khâm chưa rồi. Trên đà thương cảm hai tôi, Xin cho thỏa dạ rạng rồi công danh. Tiểu khoa sau lại phỉ tình bách niên. Công rằng: Lời nói rất miêng Chữ quyền cùng với chữ duyên đi liền, Thi hương sớm đã gặp duyên, Chờ cho thi hội phỉ nguyền mới nên. Nay đà làm lễ hỏi tên Keo sơn chữ dạ cho bền ngày sau. Hai con qua chốn thơ lầu, Ở chơi vài bữa sẽ âu về làng. Trần Khanh lại dạy Trần Đoàn Khá tua bậu bạn hai chàng đi chơi. Huyện quan trước án vâng lời, Phải theo Trân, Bửu, chơi nơi thơ lầu, Tuyết, Băng hai gái riêng sầu, Ngồi nơi hoa viện lo âu việc mình. Tuyết, Băng cám chữ minh linh, Vò vò nuôi nhện công trình biết bao. Riêng than chút phận má đào, Gặp xuân chưa biết ngày nào đền ân. Băng rằng nghe việc hòa thân, Gẫm trong mình lại muôn phần xót xa. Có cha mẹ mới có ta, Có ta, mới có cửa nhà giàu sang. Mẹ kia đã xuống suối vàng, Cha xưa non nước khôn toan mất còn. Hai bên nội ngoại bà con, Đều người về đạo lại lòn cửa quan. Từ ta nương dựa cửa sang, Nào ai lui tới hỏi han thăm tình. Dầu không gặp nghĩa minh linh, Cội cây nguồn nước ở mình còn chi, Mai sau đặng chữ vu quy, Đã đành phận gái phải đi theo chồng. Trăm năm sống thác nhờ chồng, Một môn dòng họ đều không nhìn rồi. May còn chút tiếng con nuôi, Ví như trà dở ướp mùi bông hoa, Nay nghe hai gã tân khoa, Cha đi tu mất, mẹ già khó khăn. Vốn không nhà cửa nghiệp hằng, Nhờ theo họ ngoại ở ăn học hành. Tiếc rằng trời đất thình lình, Khéo xe duyên phận cho mình quá ngang! Cha xưa về đạo Hòa lan, Chẳng ưa đạo Phật, không màng đạo nho, Cha nuôi nay chuộng đạo nho, Gả chồng cũng lựa học trò bậc cao. Cho hay duyên nợ buổi nào, Con Trời, con Phật, đều vào theo nhu (nho) Tuyết rằng: Ta học đạo nhu, Đến nay mới biết công phu thánh hiền, Sửa sang ba mối, năm giềng, Dạy người thiên hạ vẹn tuyền tánh xưa, Đặt làm sáu bản đờn xưa, Có thi vận để tiếng đưa tơ đồng, Ta nay rảnh việc nữ công, Hòa đờn một tiệc giãi lòng buồn ngâm. Chị đờn sắt, em đờn cầm, Tay đờn, miệng đọc, thâm trầm nghe hay.

Xuân Tuyết Đàn Ngâm: Trời che đất chở đức cao dày, Cha mẹ sanh con khó sánh tày. Vậy có người hiền lo báo bổ, Hai mươi bốn thảo dấu còn nay.

Thu Băng Đàn Ngâm: Cha phải cha, con phải đạo con, Rằng lành, rằng thảo, tiếng hay còn. Cây kiều, cây tử, đời thường ví, Chẳng trái lòng nhau mới đặng tròn,

Xuân Tuyết Đàn Ngâm: Vua phải vua, tôi phải đạo tôi, Sửa sang giềng mối mới lên ngôi Minh lương hai chữ vầy trên dưới, Nước trị nhà an, bốn biển vui,

Thu Băng Đàn Ngâm: Vợ phải vợ, chồng phải đạo chồng, Vợ chồng là đạo đất trời thông. Khó nghèo đều chịu giàu đều hưởng, Kết tóc trăm năm trọn một lòng,

Xuân Tuyết Đàn Ngâm: Anh phải anh, em phải đạo em, Huân trì hai ống thổi nghe êm Sang đồng một cội, là xương thịt, Sống thác nương nhau ở dịu niêm.

Thu Băng Đàn Ngâm: Làm người bậu bạn muốn nên danh, Lời thẳng khuyên nhau ở lấy lành, Giao mặt xưa rằng vàng ngọc báu, Giúp lòng nhân nghĩa, lại thêm xanh,

Anh em Trân, Bửu, ngồi buồn, Lén qua hoa viện đi luồn xem chơi, Anh em vừa bước tới nơi, Phút nghe trong viện có lời đờn ngâm, Mấy dây cầm sắt hòa thâm, Đờn ngân tiệp với thơ ngâm ai hoài. Hai chàng dừng bước vách ngoài, Rõ ràng nghe đặng sáu bài thơ xưa. Trời thu đương lúc nắng trưa, Chị em ngồi nực, vừa ưa buông đờn. Hai chàng ngoài vách mau chơn, Bước vào trong viện coi đờn những ai, Hay đâu hiệp mặt gái trai, Mày qua mắt lại, hòa hai ngỡ ngàng. Tuyết, Băng mắc cỡ vội vàng, Cúi đầu che mặt, hậu đàng trở vô. Hai con thể nữ hầu cô, Cất đờn, bưng hộp, nói phô đều cười. Bửu, Trân, thấy cũng nực cười, Bước vô trong viện kiếm lời hỏi qua. Cho hay con tạo khéo ngoa, Dạo tầm hoa, lại bỗng ra thấy người, Trần Đoan bạn với hai người, Ở nơi hoa viện đã mươi ngày rồi, Thưa cùng quan trấn kíp hồi, Tần công bèn dựng lễ bồi đưa ra, Ban cho năm vóc vân sa. Sâm nhung, Thanh quế để già dưỡng thân, Lại cho vàng bạc hai cân, Của đưa chàng rể sắm phần ra đi. Mười ngày về tới châu Khê, Người làng đón rước bộn bề lễ nghi, Tiếng hay, đâu cũng yêu vì, Hai thầy cử nhỏ đậu thi trở về. Ai dè chăn ngỗng, chăn dê, Vận trời ngó lại ra bề người sang, Bà con họ nội xa đàng, Võng dù xin rước về làng thuở xưa. Đỗ nương, Đỗ Khoái đãi, đưa, Tiệc bồi năm bữa, mới vừa rảnh rang. Dương Trân, Dương bửu, hai chàng, Thưa cùng cậu, mẹ, hiệp bàn việc hôn. Nàng rằng: Nhờ của công môn, Ban cho vật quý, mình khôn chối từ. Chưa hay hai gái hoa tươi, Đứng trong đào liễu đua cười mấy xuân? Hai chàng đem việc họ Tần Đờn nơi hoa viện đều phân tỏ tường, Nàng rằng: Nhờ phước tổ đường. Cho con gặp thuở khoa trường nên danh. Nhờ trời phước đặng chữ vinh, Sau rồi sẽ liệu gia đình mới xong. Hai con vào chốn thơ phòng, Ôn nhuần kinh sử lo vòng thi xuân. Lần hồi ngày tháng tới gần, Đem nhau cất gánh trông chừng Tràng an. Hai chàng đi tới Tấn bang, Vào trường thi hội, bảng vàng đỗ cao. Trước đền đứng lặng đầu ngao, Dương Trân Bảng Nhãn, Bửu vào Thám hoa. Tuy không dành Trạng nguyên khoa, Cung thiềm, tháp nhạn cũng là á khôi. Hốt hoa, bào gấm ban rồi, Quỳnh lâm mở tiệc, chúa tôi phỉ lòng. Tờ truyền tới trấn Hà đông, Tần Khanh văn tín vợ chồng đều vui. Truyền quân lập tức trống hồi, Tới Nam khang huyện dọn ngôi công đàng. Cứ theo Trà thạch các làng, Cất làm nhà cửa nghiêm trang một tòa, Giấy nêu rường cột nguy nga, Nam khang một huyện ít nhà dám đang, Dọn rồi án kỷ rỡ ràng, Xảy vừa tới lúc hai chàng vinh quy, Bảng vàng tán đỏ, đều đi, Ngựa xe võng giá oai nghi chói lòa Lại thêm áo mão giồi ra, Lịnh ban gấm nhiễu ngọc ngà thiếu chi, Khắp nơi châu huyện đều vì, Thổi kèn, gióng trống, ra đi rước mừng. Cho hay đỏ tía sắc xuân, Để dành trong sách giồi thân học trò. Thật nhờ họ Đỗ ơn to, Lúc nầy mới đặng trời cho sang giàu. Châu Khê đùm đậu bấy lâu, Đền ơn nhờ cậu, trước sau phỉ tình, Hạc lầu là chỗ dương danh, Anh em trả nghĩa sư sanh cũng tròn. Nay đà đẹp mặt mẹ con, Ở nơi Trà thạch ăn ngon, mặc lành, Nhờ vua hai chữ hiển vinh, Một môn dòng họ linh đình tới lui, Anh em Trân, Bửu chẳng vui, Nhớ cha đi mất, ngùi ngùi thở than. Dọn ra trước chốn công đàng, Đặt làm hương án, một bàn vọng lên, Họ tên bài vị rõ biên, Ăn chay nằm đất chúc nguyền vong linh, Theo nho dùng lễ tam sinh, Đọc bài văn tế phỉ tình cha con.

Văn Tế Rằng: Hỡi ôi! Trăng xế bóng xuân; Mây giăng lầu Hạc. Thấy chữ "mặc liên" thơ cũ, Chi xiết não nùng; Nghĩ câu ""phong mộc" người xưa, Càng thêm bát ngát. Nhớ linh xưa: Kinh sử đều thông; Vận thời chẳng đạt, Công, danh, hai chữ, Mơ màng bên gối hoàng lương; Sự nghiệp một câu, Lấp lửng trong gương bạch phát. Khắp chùa miễu cây hương cầu nòi giống, Nghĩa cha con, nghĩa đã đặng tròn; Trùm non sông lời nói để ghi lòng, Tình chồng vợ, tình đâu ở bạc! Thừa ưa cắp một gậy thiền; Bỗng chốc bẻ hai gương nhạc, Xiết bao đường sá xa xôi; Thêm nỗi cửa nhà man mác! Đau đớn thay! Một cụm tàn huyên; Ủ ê bấy! hai cành hoa ngạc, Ngoài bảy chục xuân thu, Còn thêm nữa: vó câu qua cửa, Khôn rõ nỗi xa gần; Trong ba ngàn thế giới, Biết bao nhiêu dấu thỏ lên đèo, Khó lường nơi sống thác, Tu gặp chùa nghèo; Chơi lầm cảnh khác. Sớm hôm chuông mõ, Xưa am mây đã chót nhọc nhằn; Ngày tháng tương dưa, Nay rừng bụi ai cùng mặn lạt? Làng Trà thạch, đá buông lời nói khống, Biết đâu tìm dấu Như Lai; Đất châu Khê, hoa chảy nước mắt đầm, Khó nỗi hỏi tin Bồ Tát. Phải gặp thuở qua miền Đông độ, Rước cha trở lại, Trong nhà cũng có thích Già; Nào ai biết tới cõi tây phương, Xin cha lộn về, Ở nước há không Di Lặc? Hộ; là cậy, mất cha nào cậy, Muốn hỏi han mà cửa Phật vắng hiu; Ai; là thương, thấy mẹ thêm thương, Luống trong nhớ, mà tuổi trời nặng vác. Hỡi ôi! Sang giàu một giấc, Mây nổi hoa tàn; Sự nghiệp trăm năm, Nước xao, bèo dạt! Đã biết: cha nghề nào, con nghề nấy, Mới phải nhân tình; Há ngờ cha đường nọ, con đường nầy, Cũng vì thiên các... Vái Phật mở câu giới cấm, Hưởng cô nhi mấy tiệc cỗ bàn; Nhờ vua đặng chữ vinh quy; Xin hiển khảo dùng thoi vàng bạc.

Đọc rồi văn tế linh cha, Một môn già trẻ, đều hòa khóc than, Vô, ra, dù, võng, nhộn nhàng, Đãi đàng trên dưới cỗ bàn, no say. Tiệc mừng vừa đủ mười ngày, Tần Khanh sai kẻ lễ bày đính duyên. Mừng cho hai rể đặng tiên Ngàn năm tiếng rạng, danh biên thẻ ngà. Hai chàng Bảng nhãn, Thám hoa, Khiến người lên tạ nhạc gia ơn, rồi. Lương duyên hai chữ thêm giồi, Trần Đoan vừa tới lo bồi nghinh hôn. Đỗ nương vâng lịnh công môn, Chờ ngày giờ tốt nghinh hôn đem về. Sửa sang sáu lễ nên xuê, Họ hàng mới nhóm, toan về phụng chiêm. Hay đâu trăng tỏ mây êm, Hằng ga núp bóng cung Thiềm bạc sao! Hỏi đôi chén ngọc chờ trao, Dương Trân nhuốm bịnh liền đau thương hàn, Trong nhà lo việc thuốc thang, Rước thầy hay trị, ngày càng ốm hư, Tần Khê có dạ ưu tư, Ra tờ khắp chốn cầu sư tới liền. Lối này tới cảnh người tiên, Nơi chùa Linh diệu ở miền Thiên thai. Dương Từ, Hà Mậu hòa hai, Bấy lâu ở chốn Quỳnh đài dạo chơi, Theo tiên hầu nửa tháng trời, Tấm lòng rửa sạch, việc đời lãng xao. Lão Nhan coi số Thiên tào, Đòi hai người vào, nói chuyện trần duyên. Rằng: Hai họ có căn duyên, Trời đà trước định, kết nguyền thân gia. Rày nên sum hiệp một nhà, Con trai, con gái, thảy đà thành thân. Họ Hà nghe nói hỏi phăng, Rằng tôi đi khỏi mới gần nửa trăng. Trong nhà hai gái còn măng, Tuổi trời chưa mấy, sao rằng thành thân? Đáp rằng trên dưới có phần, Non tiên một bữa, cõi trần một năm, Toán theo giáp tý thời lầm, Tuyết, Băng nay đã mười lăm tuổi rồi. Đạo trời đã biết thời thôi, Hai người khá kíp phản hồi cố hương, Lão Nhan làm phép thâu đường, Cho hai hoàn thuốc cứu chàng Dương Trân, Hai người về cõi hồng trần, Sang giàu chung hưởng nhờ phần lộc con, Lộc con là lộc trời còn, Nhân luân hai chữ vuông tròn mới an. Hai người từ biệt Lão Nhan, Ra nơi Vân động, theo đàng ngày xưa. Tri Niên họ Lý theo đưa, Dùng dằng cửa động còn chưa chỉ đường, Rót ra hai chén quỳnh tương, Rằng xin gượng uống về đường cho an, Từ đây xuống chốn dương gian, Non tiên xa cách khôn đàng trở lên. Gặp nhau biết lấy chi đền, Chút duyên bèo nước nào quên tình nầy, Ngàn năm bóng gió ở đây, Riêng than chim nhạn rẽ bầy kêu xa, Vội vàng nào kịp hái hoa, Dương quan cành liễu gọi là đưa nhau, Của đưa nào báu chi đâu, Sao bằng mùi đạo tám câu năm vần. Ta xin bắt chước cổ nhân, Gọi thơ đua bạn dương trần ngày nay.

Thơ Đưa Hà Mậu: Long môn chốn cũ lại bôn ba, Non nước bâng khuâng cám họ Hà. Nước Thánh năm đời lòa mắt tục, Rượu tiên một thuở rửa lòng tà, Đào nguyên khó hẹn tin bèo nhóm, Vân động riêng buồn tiếng hạc xa, Khôn, dại, sự đời ngươi đã thấy, Nên mình rồi phải giúp người ta,

Thơ Đưa Dương Từ: Thiên thai xa cách cõi Nam khương, Hoa cỏ ngùi ngùi cám họ Dương, Chùa Phật khôn cầm cây lão mại, Động tiên xin chuốc chén quỳnh tương. Chút tình bóng gió riêng cưu bạn, Mấy dặm non sông vôi tách đường. Đói lạnh dấu xưa ai cũng biết, Ngươi về, nhà, nước, hiếm người thương

Dương Từ, Hà Mậu nghe thơ, Than rằng: Nào biết bao giờ gặp nhau! Cuộc đời là cuộc bể dâu, Nước về doành thẳm, khôn cầu nguồn xưa. Nói thôi nước mắt như mưa, Tri Niên chỉ nẻo quê xưa đành rành, Thâu đàng nhờ có phép linh Một ngày một ngọ, hồi trình chẳng xa Dương Từ về đến quê nhà, Đoái nhìn cảnh vật thấy ra lạ lùng. Ngẩn ngơ đứng trước bình phong, Minh nghi chưa dám vào trong công đường. May đâu lại có Đỗ nương, Dạo chơi ra cửa nhìn tường phu quân. Hai hàng nước mắt rưng rưng, Nửa thương việc trước, nửa mừng ngày nay, Dương Từ lấy thuốc tiên hay, Cho Dương Trân uống, kịp ngày lành mau. Cha con chồng vợ gặp nhau, Hỏi, phô, chuyện vãn, trước sau tỏ tình. Gần xa đều tới thăm mình, Coi đi tu đã nên hình Phật chi? Mười lăm năm bỏ nhà đi, Nợ oan gia lại khéo ghì vào đây. Nàng rằng: Từ ấy những nay, Nghĩ trong phận thiếp liền ngày lụy tuôn. Xiết bao gió chớp mưa luồn, Chất sầu làm gối, nấu buồn làm cơm. May nhờ hai trẻ danh thơm, So bề nhà cửa đặng nờm nở ra, Phải con chơi vụt theo cha, Ôi thôi! Thân mẹ cũng ra ăn mày, Cho hay một trả một vay, Am mây đã trốn còn đày đi xa, Đói thời phổ khuyến người ta, Tương chua, cơm hẩm, gọi là ăn chay, Coi chim quành quạch thời hay, Theo cây trái chín ăn chay đời đời. Bay đâu cho khỏi dưới trời, Tiếng kêu quành quạch già đời ra chi? Chỉn rằng vận có thạnh suy, Người đời sao khỏi hiệp ly lẽ thường. Bằng nay sum hiệp nhất đường, Hai con dâng lễ thọ trường cho vui, Trong nhà quan khách tới lui bộn bề. Đoạn này Hà Mậu ra về, Long môn đất ấy, quán quê xưa rồi. Trạc nhìn nhà cửa hỡi ôi! Ngói chài, nóc sập, vách vôi gạch nhào, Ổ vò lưới nhện lao xao, Trước sân cỏ lán, ngoài rào ngả xiêu. Vợ con dấu trước vắng hiu, Bếp còn ốc để, thềm nhiều dế ngâm, Họ Hà thấy vậy động tâm. Hai hàng nước mắt ra dầm chéo khăn, Chưa hay duyên cớ sao rằng, Tới nhà em gái hỏi phăng sự tình. Mới hay rằng việc bất bình, Liễu thơ trước dã bỏ mình về quê, Tuyết, Băng, hai gái đương xuê, Ở cùng quan Trấn, bỏ nghề gia tô. Mậu rằng: Hai trẻ cải đồ, Thật trời xui khiến còn mồ mả sau. Cám thương họ Liễu thác mau, Vợ chồng chẳng gặp theo nhau buổi nầy, Phải chi đặng sống lại đây,

(Thiếu một đoạn)

Bà con dòng họ một phồn, Nghe lời nói lạ, tới dồn hỏi xăng. Mậu rằng: Nói việc Hà Năng, Cho con cháu biết, kẻo rằng đạo hay Đốt nhiều vàng bạc thời may. Vái ông khỏi mắc ăn mày âm cung, Ai ai nghe cũng não nùng, Đều lau nước mắt khôn cùng thở than. Tiếng đồn ra khắp các làng, Châu Kỳ tới viếng, hỏi han việc đời, Kỳ rằng: Muốn thấu đạo trời, Mười lăm năm trọn nối hơi đến giờ, Đã đành dấu trước bơ vơ, Đuốc xao vì gió, trăng lờ bởi mây. Vì ai nên cớ sự nầy,

(Thiếu một đoạn)

Đội ơn anh có công đi, Phải, chăng, đã thấy, còn nghi lẽ nào. Ví như một giấc a giao, Mấy nguồn nước đục lòng vào đều trong. Mậu rằng: Nói lại đượm lòng,

(Thiếu một đoạn)

Nay ta cứ gốc mà phăng, Theo đường nhân nghĩa, chi bằng đạo nho. Trời sanh có một đạo nho, Ngàn nghề muôn nghiệp đều lò ấy ra, Cứ theo đơm quảy ông bà, Quỷ thần chẳng giận, mồ ma không hờn. Nay đà rõ đặng nguồn cơn, Dạy đời con cháu đội ơn thánh hiền, Từ đây hai họ đều truyền: Bao nhiêu tả đạo đều nguyền đốt kinh. Phút đâu quan Trấn hay tình, Đòi Hà Mậu tới hỏi minh mọi lời. Tuyết, Băng, hai gái nhờ trời, Cha con vầy hiệp mọi nơi vuông tròn, Cho hay người cách nước non, Thác thời mất dấu, sống còn gặp nhau. Tần Khanh gạn hỏi đuôi đầu, Họ Hà thưa việc trước sau tỏ tường, Liền sai quan huyện Nam khương, Dạy Trần Đoan rước họ Dương đem về. Yến diên thết đãi phủ phê, Cùng nhau bàn luận mọi bề phải chăng. Việc trong trời đất, mấy tầng, Thấy đâu nói đó, nào từng có quên. Dương Từ, Hà Mậu hai tên, Tần Khanh dâng sớ tâu lên cửu trùng. Tấn vương xem sớ lạ lùng, Chỉ đòi nội vụ thảy cùng lai kinh. Tần Khanh vâng chỉ lai kinh, Cha con hai họ sửa mình đều đi, Tấn vương ngự trước đan trì, Cho vào ra mắt một khi xem tường, Tả biên quỳ tấu họ Dương, Anh em Trân, Bửu, hai chàng tân khoa Hữu biên quỳ tấu họ Hà, Chị em Băng, Tuyết, nết na dịu dàng, Tấn vương phán trước ngai vàng, Dương Từ, Hà Mậu có công, Chín Trời, mười Đất, đi thông, Tìm ra mối đạo, trong lòng mới an. Bấy lâu chuộng thói dị đoan, Đến nay mới biết lầm đường đi xa, Có lòng quy chánh, cải tà, Trời liền cho phước, sanh ra con hiền. Thêm giồi hai chữ lương duyên, Song sanh đôi tốt, phỉ nguyền giàu sang, Việc này giao lại Trấn quan, Chủ hôn hai họ, cho an việc nhà, Con hiền là báu nước nhà, Đáng biên vào sử để ra khuyên đời. Tấn vương dụ xuống khắp nơi, Cấm theo đạo Phật, đạo trời, chẳng nên. Dụ rằng: "Đất dưới, Trời trên, Giữa là kẻ thế, bốn bên Mọi, Lào, xưa nay chẳng đặng hỗn hào, Xứ ai nấy ở, loại nào nấy theo, Coi công: lưỡng quốc tương triều, Đường đi cách trở, hãy nhiều non sông. Cớ sao mình ở nước Trung, Lòng theo nước ngoại, còn mong đợi gì. Ông bà mồ mả bỏ đi, Gốc mình chẳng kính, lại vì gốc ai? Cửa nhà làng xóm cách ngoài, Phận gần chẳng đoái, đoái hoài phận xa,

(Thiếu một đoạn)

Cứ theo một đạo nho ta, Giữ câu lễ nghĩa, muôn nhà an vui". Tấn vương dụ xuống cấm rồi, Tần Khanh dâng sớ xin hồi Hà đông. Tấn vương ngự đến đền rồng, Bạc vàng gấm vóc thưởng công Dương, Hà, Làm thơ ngự chế ban ra, Tặng cho hai họ vinh hoa một đời.

Thơ Tặng Dương Từ: Chùa sãi nào hơn gã họ Dương, Đi tu mà biết lẽ du phương, 'Gậy thiền dầu tránh nơi tiên động, Rượu lão đâu say chỗ Phật đường. Thế tục lắm người con mắt thịt, Phong trần mấy kẻ tấm lòng gương, Việc trong trời đất: nên, hư, thấy, Nào để dân ngu phải lỗi đường.

Thơ Tăng Hà Mậu: Qua bếp nên khen gã họ Hà, Năm đời còn biết lẽ ngay tà, Ra đi chẳng nại đường trời đất, Chớ lỗi câu nào việc mẹ cha. Dối thói man di vì nỗi trẻ, Nghĩ ơn thủy thổ cám cho già, Một người tìm đạo, muôn người thấy, Bia để ngàn năm tiếng nước nhà,