Chapter 3
Họ Hà đương gẫm(ngẫm) lời hay, Phút đâu chim hạc lại bay(?) xuống liền. Hóa ra đồng tử có duyên, Tay cầm hai trái đào tiên, miệng cười. Bảo cho hai trái, hai người, Ăn rồi mới biết là người dạy khôn. Ngày nay đã đến hoàng hôn, Hai ngươi dời khỏi động môn hành trình. Theo ta tới Bích Phong Đình, Ở trong hang đá nghỉ mình một đêm. Sáng(rạng) mai có kẻ xuống tìm, Đem lên Vân động, mạ(mựa) hiềm thị(đợi) trông. (tr.39a) Tiểu đồng dạy bảo vừa xong, Hóa ra chim hạc, thinh không bay về. Hai người mắt thấy lòng ghê, Khen rằng: Tiên đạo anh linh nhiều bề. Phỏng chừng đương lúc sơ canh, Ngó ra thấy bóng trăng thanh bên trời. Băng luân một tấm treo khơi, Non sông muôn nước bóng ngời khắp soi. Hai người lần tới ngồi coi, Ngó ra trước cửa, trăng soi như ngày. Vẳng nghe có tiếng đông(động) dầy(dời),(tiếng động nhiều dần) Trần trần (rần rần) ngựa gió, xe mây chật đàng, Trước đi kiệu bạc, tán(ô) vàng, Giữa che phủ phất, sau dàn(giàn) quạt tiêu. Đèn ngân, đuốc ngọc, rất nhiều, Lòa nơi cửa động, hương thiêu thêm nồng. (tr.39b) Ngỡ là Thiên tử ngự phong, Gẫm(ngẫm) trong nghi vệ, cũng đồng thần tiên. Họ Hà coi thấy sợ liền, Than rằng: Mấy ... linh thiên(?) như vầy! Đi tu cũng tiếng ông thầy, Theo làm tôi Phật, bấy chầy thấy không? Từ rằng: Thấy chuyện(truyện), thấy đồng, Tạc(?) hình, đúc tượng ngồi không trên bàn. Ta thường sớm tối đèn(?) nhan(nhang), Thấy ma, thấy quỷ, chàng ràng(rạng) chèo(trêu) ngươi. Phật không thấy nói thấy cười, Cũng không đi đứng cùng người thế gian. Chạnh lòng ta mới hỏi chàng, Xưa nay về đạo Hòa Lang thấy gì? Mậu rằng thấy bức tượng kia, Thấy cây thập ác, thấy kỳ đọc kinh. (tr.40a) (Thiếu một đoạn là:) Bẩy ngày thấy bữa du minh, Thấy nhà chung ... thấy hình rất tây. Thường thường thấy phút ... ... Thấy ban nước thánh, thấy khi chọn người. (tiếp) Trót(tốt) đà bị chúng nhân cười, Vậy nên phải tới hỏi người tiên tri. Từ rằng: Gặp kẻ lão tri, Ta xin niệm đạo từ bi cho tường. Hai người những ... ngồi bàn, Nghe chùa Linh Diệu chuông vàng sớn chung(rung). Đi vừa tới lúc hừng đông, Tri Niên đã xuống Bích Phong Đình rồi. Nói rằng: Gặp tuyết giao bôi, Chư tiên hội án(yến) một hồi canh ba. Mậu rằng: Chiều bữa hôm qua, Có người đồng tử cho ta ăn đào. (tr.40b) Chẳng hay duyên cớ làm sao, Khiến ta ăn đào, tránh khỏi động môn. Niên rằng: Nơi cửa động môn, Ngày lành, tháng tốt, để buồn, tiên đi. Hai ngươi lòng hãy chưa(chửa) ly(rời), E con mắt tục, dòm(?) vị thần linh. Có ăn hai trái đào xanh, Rửa lòng nhân dục, trong mình mới an. Chư tiên nay đã hồi luân, Ta xin dẫn lộ hai chàng đi lên. Dương Từ Hà Mậu theo lên, Tới nơi Vân động nửa trên ... trời, (?: ngửa lên xem trời) Thấy ngài đồng tử truyền lời, Rằng: Ba ngươi hãy tạm nơi động này. Tôn sư giấc mộng đương say, Từ(chờ) khi thức dậy, sãi hay lẽ nào. (tr.41a) Ba người ở động vân cao, Nhắm xem cảnh vật biết bao nhiêu tình. Kỳ hoa, đoan(thoại) thảo, xanh xanh, Châu(trân) cầm(ly) dị thú, rậprình(dậpdình) vui thay! Nền(nóc) chùa cao quá tầng(vầng) mây, Bên thềm đá gấm(gẫm), bóng cây imlìm(?:êm đềm). Ngó vô mấy bức thơ liêm, Mấy tầng(vầng) thơ đống, trang nghiêm muôn phần. Ngó ra non nước mấy từng(chừng), Như tuồng ... tới, bên chân(chưn) đứng chầu(chào,chèo), Đông, tây, sơn đỏ hai lầu, Chuông vàng, mõ ngọc, chiếu chầu rất suy. Ngó xem bờ cõi tứ bề, Một bầu thiên hạ ... ... nửa châu. Từ rằng: Có chí vân du, Đến nay mới đặng ngồi đầu mây xanh. (tr.41b) Mậu rằng tìm ... cao minh, Đến nay mới đặng khỏi mình vội nhờ (?:vếtnhơ). Niên rằng: Ta thuở bài thơ, => "ấu" viết sai là "bài". Có lòng tầm(tìm) đạo bây giờ thảnh thơi, Phút đâu đồng tử ra mời, Rằng: Tôn sư dậy(dạy), ngồi nơi hiên đào. Ba người khép nép bước vào, Gần nơi hiên đào nghe tiếng ngâm thơ, Đạo trời, nào phải có đâu xa, Hỏi tấm lòng người, há thấy ra? Theo nghĩa ai đừng(đành) làm phản nước. Có đâu nỡ phụ tình nhà? Xưa nay đời chuộng đường trung hiếu, Sách vở còn ghi lẽ chánh tà. Năm phẩm rừng Nho săn sóc lấy, Trên đời châu báu ... nào qua. (tr.42a) Ba người nghe tiếng ngâm rồi, Vào trước chỗ ngồi, quỳ gối vòng tay. Tri Niên lại trước, lời bày, Ngu si chưa rõ xin thầy dạy phô. Lão Nhan biết lũ mê đồ, Hỏi rằng: Hà thị nói phô việc gì? Mậu rằng: Tôi cũng ngu si, Chẳng hay đời trước cớ chi lầm đàng? Sư rằng: về đạo Hoa Lang, Trong tấm lòng chàng tưởng việc chi nên! Mậu rằng: Lòng chẳng dám quên, Một lời sau thác đặng lên Thiên đàng. Lão Nhan dẹp chuyện Hoa Lang, Hỏi rằng: Kìa gã họ Dương thưa gì? Mấy năm học đạo từ bi, Vân du đã chán, ít gì đến đây? (tr.42b) Từ rằng: Vì việc chơi mây, Mang điều bài quấy(?), thầy thầy(ngầy ngầy) trong tai. Kiếp sau là đi(kiếp) lâu dài, Biết theo đạo Phật trọn ... cũng chăng? Sư rằng: Kính Phật, trọng tăng, Tấc dạ nằng nằng tin tưởng điều chi? Từ rằng: Học đạo từ bi, Nhớ ngày sau thác, đặng kỳ siêu thăng. Lão nhan ngồi ngẫm nghĩ rằng: Hai đàng(đường) đều muốn chữ "thăng lên trời". Ta dầu(dù) nói cũng uổng lời, Chi bằng cho thấy lẽ trời mới tin. Dặn rằng: Hai gã lòng in, Đều mong sau thác đặng lên nhà trời. Chùa đây có ngó lên trời. Chi bằng bước tới coi chơi một hồi. (tr.43a) Hai người nghe nói mừng vui, Phút quên mình sống, còn ngồi dương gian, Thưa rằng: Đây có Thiên đàng, Hai tôi xin tới du quan nửa giờ. Sư rằng: Hồn sạch phách nhơ, Xác phàm còn sống, khó(khổ) mơ(ma) lên trời. Ta nghe trong phép chúa Trời, Cầu hồn về đạo lên nơi Thiên đàng. Lại nghe phép thành (Địa) Tạng Vương, Siêu hồn sẽ(sãi) vãi về phương tây trời. Hai ngươi nay muốn lên trời, Xác phàm điều(đều) lại, hồn dời mới xong. Ta đây có phép thần thông, Xuất hồn rồi lại ra công hoàn hồn. Hai ngươi trước tới đài môn, Giờ lành ta sẽ xuất hồn cho lên. (tr.43b) Lại kêu ông Lý dặn rằng: Rừng Nho gắn vó cho bằng tiên nhân, Hôm nay là bữa lương thần, Sửa sang vị thuốc, lo phần luyện đan(đơn), Tri Niên học thuốc đã an, Ở chùa Linh diệu thanh nhàn xem chơi. Dương Từ, Hà Mậu vâng lời, Theo ngươi đồng tử tới nơi Dương Đài. Dương Đài có tấm bia bài, Đề câu "Thiên bất khả giai" rõ ràng. Hai chàng bước tới xem tường, Tầng tầng (Từngtừng) mây giợn bốn phương trên trời. Mậu rằng: Học đạo chúa Trời, Thiên đàng đành dể trọn đời mới lên. Phen này hồn sống đặng lên, Tìm ông cha trước, đặng xin phép về. (tr.44a) Về rồi chúng thấy ... chê, Còn chi người ngoại nói nghề phải chăng. Từ rằng: Giận tiếng nói nhăng(?), Nỡ(nó) chê ông Phật là thằng man di. Lên trời dầu thác cũng đi, Tìm cho thấy Phật xin trừ(?) phép linh. Phép chi phá miếu thần linh, Bắt ông đạo sĩ mới đành(dừng) bụng ta. Phút đâu đồng tử bưng ra, Mâm đào lại có bình trà dâng cho. Bảo rằng ăn uống cho no, Xuống khe tắm gội, rồi lo lên trời. Hai người đều phải nghe lời, Ăn no tắm mát, ngồi chơi nửa giờ. Tôn sư coi thấy gần xa, Tới đài, cầm viết vẽ tờ phù(bùa) linh. (tr.44b) Dạy rằng: Giờ tý, chữ canh, Mộng sàng hai gã đem mình nằm an(yên), Kim đan cho uống ba hoàn, Linh ấn hai đạo, cấp mang vào mình. Tôn sư đốt lá linh phù(bùa), Hoàng Cân lực sĩ hiện hình chờ(giờ) sai. Lại biên một cái tín bài, Đề rồi tên họ của hai xác phàm. Dạy rằng: Chờ(giờ) trọn tam tam, Chín trời đi khắp, rồi đem trở về. Tín bài đã có ấn ..., Cầm đưa các cửa đặng bề đi thông. ... lời thầy ... vừa xong, Hai chàng lực sĩ thinh không tàng hình, Tôn sư lại niệm chú(?) linh, Cấp như luật lịnh(lệnh) âm binh ứng hầu. (tr.45a) Mây đen, khói mịt, ngút mù, ... ... sấm sét, giây lâu mới tàng. Hai người nằm dưới mộng sàng, Thiu thiu nhắm mắt nằm an(yên) một buồng(?), Tôn sư lại đốt phù(bùa) dồn, Hoàng Cân lực sĩ xuất hồn ra đi, Hai hồn đều xuất ra đi, Theo tên lực sĩ một khi lên trời. Hai chàng đi tới cõi trời, Coi trong cảnh vật khác nơi cảnh người. Trời đông một cửa xanh ngời, Thấy tấm biển đề hai chữ "Thanh Thiên". Hai cung Tốn, Chấn đoàn viên, Mộc Tinh, các phủ, đóng(?) liền, giăng giăng. Đường đi giáp ất thẳng băng, Có thần gìn giữ, hiệu rằng Thanh Long. (tr.45b) Hai chàng trình tín bài xong, Đem nhau tìm kiếm, hỏi dòng họ xưa. Áo xanh quân đống(đóng) khuya ..., Cầm cờ xuân lịnh(lệnh) rước đưa Thần Hoàng. Mới hay thứ nhất Thiên đàng, Thật vua Thanh đế, ngôi vàng chánh(chính) đông. Giữ gìn muôn việc hóa công, Nhờ(nhớ) ơn gây dựng, vun trồng vụ xuân. Hai người vội vã lui chân, Trời đông đi khắp, đến chừng(từng,tầng) trời nam. Trời nam một cửa son ..., "Xích Thiên" hai chữ, phản ra rõ ràng. Cung Ly rực rỡ nghiêm trang, Hỏa tinh các phủ sửa sang chói lòa. Bính, Đinh, hai ngã vào ra, Có thần Châu(Chu) Tước hỏi tra ngăn ngừa. (tr.46a) Hai chàng trình tín bài thưa, Hỏi thăm tin tức, cũng chưa thấy gì. Quân hầu áo đỏ(?) dựng đi, Cầm cờ hạ lịnh(lệnh) oai nghi rõ ràng. Mới hay thứ nhị Thiên đàng, Phần vua Xích Đế sửa sang vụ hè. Trời tây tìm dấu vắng huy(hoe), Đem nhau một bè, qua chốn trời tây. Trời tây một cửa phấn tô, "Bạch Thiên" hai chữ, phản đồ treo ra. Hai cung Càn(Kiền), Đoài chói lòa, Kim Tinh các phủ vô ra trần trần(rầnrần). Tới lui trong cõi Canh, Tân, Có thần Bạch Hổ giữ phần đồn ngăn. Hai chàng đi tới trình bằng. Mong theo việc trước, phăng phăng hỏi tìm. (tr.46b) Thấy quân trắng áo, trắng xiêm, Cầm cờ Thu Lịnh(Lệnh) bài(bày) nghiêm các tòa. Mới hay là cõi thứ ba, Phần vua Bạch đế, ở tòa tây thiên. Đem nhau vội vã đi liền, Trời tây khỏi miền, trời bắc lại đi. Nghiêng trông một cửa đen sì, "Hắc Thiên" hai chữ, phản ghi chẳng lầm. Một tòa cung Khảm tâm tâm (tăm tăm), Thủy tinh các phủ ở sâm si cùng. Phương đi Nhâm, Quý, nhiều sông, Có thần Huyền Vũ đề phòng đứa gian. Hai chàng thưa gởi đã an, Đi qua khỏi cửa tìm đàng người quen(quên). Thấy quân mặc áo màu đen, Cầm cờ Đông Lịnh(Lệnh) đua chen đầy đường. (tr.47a) Thứ tư đây cũng Thiên đàng, Phần vua Hắc đế sửa sang một trời. Trót đà tìm hỏi các nơi, Đem nhau lại dời qua chốn trung thiên. "Trung Thiên" hai chữ phản vàng, Chói lòa một cửa, bốn phương đều hầu, Hai cung Khôn, Cấn(Lương), làu làu, Thổ Tinh các phủ liền nhau một tầng(vầng). Đàng Xà, Câu Trận(Trần), hai thần, Giữ phần Mậu Kỷ, là phần tuần tra. Hai chàng trình tín bài qua, Cứ theo việc trước vậy mà hỏi han. Thấy quân mặc áo màu vàng, Cầm cờ Tứ Quý dóng giàn khắp nơi. Thứ năm đến giữa cõi trời, Thật vua Hoàng đế trị vì(vời) trung ương, (tr.47b) Dương Từ, Hà Mậu, hai chàng, Hỏi ngài Lực sĩ mỗi đàng cơ quan. Rằng: Đi năm cửa Thiên đàng, Cớ chi chẳng thấy Hoa Lang người nào? Cũng không Phật tử ra vào, Hoặc là còn ở trời nào nữa chăng? Hoàng Cân lực sĩ đáp rằng: Một không thật có chín tầng âm dương. Tới đây mới đặng năm phương, Hãy còn bốn cửa Thiên đường ở cao, Hai người muốn rõ âm hao, Phải tìm cho khắp, lẽ nào nhầm thay. Nói rồi vội vã đem đi, Mau cho cấp kì tới chốn Hiều Thiên. "Hiều Thiên" hai chữ phản ra, Sáng soi một cửa chói lòa muôn phương. (tr.48a) Thái dương sánh với tiểu dương, Hai cung dành(đành) sẵn hào quang mặt(mặc) trời. Kim ô một bóng sáng ngời, Theo đường Hoàng Đạo soi đời xưa nay. Máy xây làm việc bằng ngày, Có thần giữ cửa hiệu bày Thiên Xung(xong). Hai chàng trình tín bài xong, Cứ theo việc trước tìm dòng cố nhân. Tìm thôi(đôi) thấy những quỷ thần, Thiên đường đây thật về phần Dương Quân. Xiết bao trong dạ bâng khuâng, Đem nhiều đi lần tới chốn cùng thiên. "Cùng thiên" hai chữ phản bài, Quế hương một cửa, hơi bay đầm đầm. Thái Âm sánh với Thiếu Âm. Hai cung đồ lộ(sộ) sáng dầm(dâm) mặt trăng. (tr.48b) Một vầng(vừng) Bạch Thố(Thỏ) bóng giăng. Non sông muôn nước, soi bằng lòng gương. Có ông tuần giữ một phương, Thiên Anh chữ đạt(đặt), đón đường hỏi tra. Hai chàng trình tín bài ra, Cứ theo việc trước, hỏi bà con thân. Hỏi thăm thấy những quỷ thần, Thiên đường đây thật về phần Âm Quân. Trong lòng chi xiết khuâng bâng (sai thứ tự, phải là bâng khuâng), lại phải đi lần qua chốn Thường Thiên. "Thương Thiên" hai chữ chói lòa, Băng ... một cửa ra vô rập rình. Quyết Âm sánh với Dương Minh, Hai cung lộng(lồng) lộng, ngôi tinh, ngôi thần.
Bao nhiêu sấm sấm sét nổ rân, Mây đen, sương trắng, băng xăng cõi này. Có thần Viêm Hỏa ở đây, Hôm mai giữ cửa ngăn rày hỏi tra. Hai người trình tín bài ra, Cứ theo việc trước, hỏi qua việc mình. Tìm thôi gặp những thần linh, Thiên đường đây thật ngôi Tinh chánh vì. Ngẩn ngơ, ngao ngán, lòng nghi, Huyền Thiên lố thấy, kíp đi tìm đàng. "Huyền Thiên" hai chữ sơn vàng, Các phương chầu chực, nhộn nhàng vào ra. Tử Vi rực rỡ một tòa, Ngọc Hoàng Đại đế thật là cõi đây. Đền, đài, lầu các, doanh xây, Sân lân, gác phụng, nền quy, lầu rồng, Thiên Bồng, Thiên Tuế hai ông, Ra vô chầu chực có ông tuần phòng. Hai chàng xem thấy nớp lòng, Trên trời đếm những là dòng thần linh. Khắp nơi han hỏi sự tình, Thảy đều chẳng gặp quen mình là ai. Cùng nhau than vắn, thở dài, Còn nơi nào nữa, toan bài hỏi han! Thương thay hai gã gian nan, Chín trời đã khắp, phải toan lẽ gì?
(Thiếu 9 câu)