Martin Paz

Chapter 1

Chapter 13,353 wordsPublic domain

DƯƠNG TỪ HÀ MẬU CỔ THƯ 楊徐荷茂古書

I. Phần đầu:

- Tác phẩm được mở đầu bằng hai câu thơ:

双生楊珍楊寶 Song sinh Dương Trân, Dương Bảo; 双胎春雪秋冰 Song thai Xuân Tuyết, Thu Băng.

- Tiếp theo là tựa đề: 集傳國語楊徐荷茂原本 Tập truyện quốc ngữ Dương Từ Hà Mậu nguyên bản.

- Cùng lời giới thiệu: 衛道諸家集傳演說國音韻辭 傳序 Vệ đạo chư gia tập truyện diễn thuyết quốc âm vận từ. Truyện tự: (Phần chữ Hán tôi còn đang phiên âm):

吾聞道之大原出於天,而具於天,若使人而非人道... 明承道統(流)傳賢群書章句分明語言照... 是為序:

II. Phần chính:

𡎝 南 𣈙 㐌 昇 平 Cõi Nam rày đã thăng bình, 常 䀡 各 册 家 庭 劄 𠚢 Thường xem các sách gia đình chép ra. 𩲡 耒 傳 屡 諸 家 Coi rồi chuyện cũ chư gia, 𢚸 爲 道 學 劄 𠚢 底 𠁀 Lòng vì đạo học chép ra để đời. 異端𠸗唉排排 Dị đoan xưa hãy bời bời, 吏添道佛道𡗶冰冫春? Lại thêm đạo Phật, đạo Trời băng xăng. 退𠁀𡗊役凌冫顔? Thói đời nhiều việc lăng nhăng, 氽埃別鄧道恒𠊚些 Mấy ai biết đặng đạo hằng người ta? 都饒敬𡮶道邪 Đua nhau kính (kỉnh) chuộng đạo tà, 𠬠句果報閍茹調信? Một câu "quả báo", muôn nhà đều tin. 呐浪𡗶佛册印 Nói rằng: Trời, Phật, sách in, 罪衛地獄福蓮?天唐 Tội về địa ngục, phước lên thiên đàng. Có người về đạo Hoa-lang, Năm đời giữ thói khoe khoang cầu hồn. Họ Hà, tên Mậu, người khôn, Ở đời Hậu Tấn, Long Môn quê nhà. Sáu mươi tuổi tác hầu già, Tuy rằng giào (giàu) có, trong nhà không con. Rạng dồi một tấm lòng son, Của ra bố thí, nào còn so đo. Vợ chồng giữ đạo bo bo, Ơn trời ngỏ đặng (được) chút cho phước lành. Hôm mai luống những đọc kinh, A-men! Đức Chúa có linh chăng là. Liễu Thơ (Thư) là vợ họ Hà, Chiêm bao nằm thấy nguyệt sa trên mình. Phút đâu có nghén thình lình, Khiến ngươi Hà Mậu thấy tình sanh nghi. Nói rằng: Khí huyết già suy, Có đâu chửa nghén, e khi bịnh (bệnh) gì? Sai người rước bạn danh y, Anh em đồng đạo, tên Kỳ họ Châu. Châu Kỳ coi mạch hồi lâu, Nói rằng: Chị mắc quỷ đầu thai đây. Mậu rằng: Nhờ lượng đức thầy, Mạch kia đã hẳn, thuốc nầy ắt hay. Kỳ rằng: trảm quỷ đan này, (có lẽ hiểu là: giết quỷ đầu thai bằng đơn thuốc này) Quỷ thai bịnh ấy từ đây trừ rồi. Thuốc thang mấy tháng uống bồi, Càng thêm lớn bụng, gần hồi sanh thai. Họ Hà thấy vậy than dài: Tuổi già còn hãy mang tai thế nầy (này)? Kỳ rằng: Há chẳng biết đây, Trải ba đời cũng làm thầy vừa ba. Châu Phan xưa thật chú ta, Trị thai có phép truyền gia rất mầu. Liễu Thơ (Thư) bịnh quỷ đã lâu, Xin (thà) dùng thuốc ngoại, ngõ (ngỏ) hầu thay tay. Ta nghe đồn phía (phái)Sơn Tây, Trong non tùng í (ý, ấy) có thầy địa tiên. Tên người là Lý Tri Niên, Thường ngày luyện tập thuốc tiên đan kỳ. Ta xin (thà) ra sức đem đi, Tới (đến) nơi cầu phép một khi cho tường. Mậu rằng: Ta đạo Hoa-lang, Tiên là đạo khác, có màng chi nhau. Kỳ rằng: Xưa sách có câu: "Tế sanh(sinh) hoạt mạng" sách đầu sách y. Làm thầy đâu có hẹp suy, Đau bịnh thì (thời) cứu, đạo gì mà sao? Ai ai cũng chữ ngô bào, Sanh trong trời đất lẽ (lí) nào ghét nhau? Họ Hà thấy vậy thêm sầu, Gượng đi cùng bạn, lên cầu thuốc tiên. Trải qua vài dặm sơn xuyên, Phút đâu lộ thấy gần miền Tùng san. Đường đi đá mọc (mộc) nghinh (nghênh) ngang, Cây ... ... ... ..., thạch bàn nhiều nơi. Hai người dừng bước xem chơi, Mặt nhìn cảnh vật khác nơi phong trần. Hoa bay, nước chảy, mấy từng (chừng), Bóng tùng che núi, như vừng lọng xây. Chim kêu, vượn hú, vang dầy, Hiu hiu gió thổi, lá cây reo mừng. Hai người còn đứng trông từng (chừng), Thấy ngươi đồng tử trong trăng (lầu) bước ra. Chào rằng: Hai khách đường xa, Nào ai tên Mậu, họ Hà, nói minh? Họ Hà nghe nói thất kinh, Sao rằng sớm biết tánh danh ta rày? Đồng rằng: Thầy mỗ đánh tay, Dạy rằng có khách ngày nay đến (tới) nhà. Để lời dạy bảo cùng ta, Ra đường đón rước, đem qua Thạch bàn. Hôm mai là bữa thanh nhàn, Thầy ta lên chốn Thạch bàn chầu tiên. Hai người nghe nói đi liền, Theo thằng đồng tử vào miền thâm san. Ngó lên trên đỉnh Thạch bàn, Thấy hai ông lão dựa ngang đánh cờ. Tóc râu đều bạc phơ phơ, Mười phần cốt cách chẳng nhờ bạn di?. Có hai quyển sổ chi chi, Cùng hai chim hạc tương tùy một bên. Tri Niên hầu đứng một bên, Thấy hai người khách leo lên Ngọc hồ. Chào rằng hai gã Gia Tô, Đến đây lòng muốn hỏi, phô, việc gì? Họ Hà vội vã liền quỳ, Thơ(thưa) rằng: Cầu thuốc cứu nguy người nhà. Tri Niên chửa kịp nói ra, Hai ông trên đá liền toan (xoa) cuộc cờ. Cười rằng: Hà Mậu rất khờ. Khéo nghe thầy tục tầm phơ nói quàng! Liễu Thơ (Thư) nghén đủ mười trăng, Song sanh hai gái, Tuyết, Băng, trên đời. Vinh hoa có số ở trời, Thói ngươi sau phải đổi dời (dầy) mới nên. Mấy lời ta nói chớ quên, Đừng mong sau thác được (đặng) lên Thiên đàng. Ông cha trước đã lầm đàng, Đến sau con cháu phải toan lẽ (lí) gì? Nói rồi cỡi hạc bay đi, Họ Hà chưa (chửa) hỏi việc chi đành rành (lành). Hai người là khách hữu tình, Tri Niên mời lại gia đình cùng nhau. Mậu rằng: Cầu thuốc vợ đau, Ông tiên lại nói việc sao cũng kỳ! Chẳng hay người học sách chi, Mà sao biết trước thạnh (thịnh) suy việc người? Niên rằng ta chẳng dấu ngươi, Hai ông già í (ý,ấy) là người thiên công. Phép hay biến hóa, thần thông, Một ông Bắc Đẩu, một ông Nam Tào. Hai ông vốn thực Thiên Tào, Mạng dân sanh tử đều vào trong tay. Hai người may gặp (kịp,kíp) ngày nay, Đến sau mới biết lời hay tiên truyền. Họ Hà khi í(ý,ấy) về liền, Vào nhà thấy vợ đến chừng (miền) khai hoa, Nở(đẻ) hai con gái như hoa, Mùi hương thơm ngát, trong nhà đều kinh. Mậu rằng: Tiên đạo rất linh, Thinh không mà biết sự tình khắp nơi. Kỳ rằng: Ta học đạo Trời, Xưa nay linh nghiệm có lời chi nao (nào)? Muốn cho tỏ (rõ) đặng (được) âm hao, Ngày sau ta phải trở vào Tùng san. Thứ nầy (này) đến thứ họ Dương, Làm người chút biết văn chương gọi là. Nam Khang vốn thật (thực) quê nhà, Sánh cùng họ Đỗ, ở Trà Thạch Khê. Nương (noi, nổi) theo dân dã thú quê, Lập vườn, cày ruộng, chuyên nghề làm ăn. Dương Từ cùng vợ thề rằng: Trăm năm giữ trọn đạo hằng cùng nhau. Đã năm mươi mấy tuổi đầu, Không con nối mộng (nghiệp), luống? cầu thon von. Bao nhiêu chùa miếu cũng lon (lòn, son), Ngõ (ngỏ) nguyền cầu đặng chút con nối đời, Liền ngày khấn Phật, cầu Trời, Tấm lòng tin (tín), cúng khắp nơi miếu chùa. Của nhà có việc bán mua, Ra ơn làm phước, hơn thua chẳng nài. Phút đâu họ Đỗ song thai, Đến kỳ sanh đặng (được) hai trai một lần. Nay đà đặng (được) nối gót lân, Phận mình: dù (dầu) có thanh bần, cũng ưng. Người trong làng xóm đều mừng, Ai hay lão bạng, có chừng sanh châu. Nhớ câu "thiện ác đáo đầu", Làm lành gặp phước (phúc), sách đâu có lầm. Dương Từ lòng cũng mừng thầm, Hai trai tướng mạo khác tầm thường nhân. Vẻ vang cốt cách tinh thần, So trong lũ (trẻ) nhỏ phàm dân ít bằng, Họ Dương mới đặt tên rằng: Dương Trân, Dương Bửu (Bảo), hai thằng anh em. Dương Từ khi í (ý,ấy) liệu toan, Xuất gia đầu Phật, cho an phận mình. Nói rằng: Một tấm lòng thành, Cầu con nối nghiệp, mới đành quy y. Ta đà sinh đặng hài nhi, Nam vô hai chữ "từ bi" thân già. Bao nhiêu thế tục gần xa, Nhân tình ấm lạnh, trải qua cũng rồi. Trong vòng danh lợi thôi thôi! Hoàng lương nửa gối, mấy hồi chiêm bao. Sang giào (giàu) lòng chẳng ước ao, Hoa tàn, mây nổi, nước xao, trăng lờ. (xao xuyến, lờ mờ) Hai con tuổi tác còn thơ, Sớm, khuya, ấm, lạnh, mặc nhờ hiền thê. Trong tay một chuỗi bồ đề, Trăm năm xin cởi lời thề nước non. Giả (trả) rồi nợ vợ nợ con, (giả nợ: âm cổ) Từ đây giữ vẹn lòng son tu (chùa) hành. Nói rồi quày (quẩy) quả đăng trình, Nhắm (nhằm) nơi am tự một mình ra đi. Thương thay hai gã hài nhi, Cùng nàng Đỗ thị sầu bi muôn phần. Than rằng: Chàng hỡi! Lương nhân! Am vân đường cách phong trần bao xa? Hai con tuổi mới nên ba, Có cha lại giống không cha cũng kỳ! Bao đành bỏ vợ con đi. Cửa nhà bần bạc, cậy gì ngày sau? May nhờ tấc đất ngọn rau, Mẹ con lần lựa nuôi nhau tháng ngày. Dương từ ở chốn am mây, Cải tên, đặt hiệu rằng: Thầy Thiện trai. Dốc lòng tìm(tầm) dấu Như Lai, Đã đành trốn khỏi trần ai, không về. Thị, phi, mặc thế khen chê, Tương rau cũng đã yên (an) bề đi tu. Sớm khuya chuông mõ, công phu, Tụng kinh niệm kệ (hát) ở Phù Đồ Sa. Bây giờ đến lúc họ Hà, (bài trừ = bpây trừ = bây giờ) Vợ là họ Liễu đẻ ra con lành. Quả nhiên hai gái song sanh, Ông tiên lời dạy đành lành (đinh lình) chẳng ngoa, Nay đà giáp tháng bồng ra, Mời anh em đến (tới) nhằm (nhắm) mà đặt tên. Bà con nội ngoại hai bên, Một ông trưởng tộc ngồi trên, dạy rằng: Hài nhi gương mặt như trăng, Đặt tên Xuân Tuyết, Thu Băng, cho đành. Họ Hà nghe nói giật mình, Nhớ lời tiên dạy sự tình khăng khăng. Bảo rằng: Nghén đủ mười trăng, Song sanh hai gái Tuyết, Băng trên đời. Ông tiên nói chẳng sai lời, Lại rằng: Thói có đổi dời(dày), lẽ chi? Xui(xuôi) nên tấc dạ hoài nghi, Gẫm(ngẫm) trong mình lại muốn đi non tùng. Hỏi cho biết lẽ cát hung, Trăm năm đặng(được) tỏ(rõ) thủy chung việc mình. Vừa đâu đến(tới) bữa du minh, Châu Kỳ, bạn cũ, có tình viếng thăm. Nói rằng: Hai trẻ giáp năm, Gẫm(ngẫm) lời tiên dạy có nhầm cũng chăng? Mậu rằng: Xuân Tuyết, Thu Băng, Tuyết Băng hai chữ khăng khăng như lời. Kỳ rằng: Ta trọn ba đời, Trong nhà thờ đức Chúa Trời lâu nay. Mấy đường họa, phước, rủi, may, May nhờ, rủi chịu, thấy bày vẽ chi. Mậu rằng: Ta cũng ưu nghi, Ông cha trước đã việc chi lầm đàng. Nhớ xưa chữ đạo là đàng, Đàng đi nào có một phương hẹp hòi. Người xưa dễ há không coi, Đàng nào làm phải, mà noi cho nhằm? Ví như lỡ bước lỗi lầm, Một đời cũng biết, huống năm ba đời? Kỳ rằng: Đàng ở dưới(trên?) trời, Có nơi chánh(chính) lộ có nơi tha kỳ. Đã đành hai chữ "từ bi", Chẳng đi đàng chánh(chính), lại đi đàng tà. Phải đời con cháu vinh hoa, Ai còn dám nói ông cha lầm đàng. Muốn cho tỏ(rõ) máy hành tàng, Phải tìm dấu trước, hỏi han sự tình. Thị phi chẳng những việc mình, Việc đời còn hãy bất bình nhiều nơi. Bao nhiêu đạo ở dưới(trên?) trời, Thảy đều xưng thánh, khoe lời nói hay. Ví như một lũ chim bay, Con nào trống mái, mấy tay biết rành. Đạo ta bằng có vinh hiển, (viết nhâm: hiển vinh) Trải xưa nay lại một mình Gia Tô. Đạo Tiên, đạo Phật, đạo Nho, Cớ sao chẳng một, bo bo đạo trời? Đã kêu rằng đức chúa Trời, Trời sao nỡ để các nơi tranh giành? Cây cao biết mấy mươi cành, Còn theo một cội, huống sanh là người. Mậu rằng: Tiên cảnh tốt tươi, Phen này ta nguyện theo ngươi đi tìm. Làm người há chẳng bằng chim, Chim còn biết cuốn(quyện,cuộn,dọn)cây êm gởi mình. Vén mây mới thấy trời xanh, Tìm đàng phải cuốn (quyện,cuộn,dọn)mấy cành gai chông. Kỳ rằng ta muốn thẳng xông, E khi rồi lại thẹn thùng nước non. Học y mười mấy năm tròn, Quỷ thai một bịnh, mạch còn nói sai. Tiên ông mấy(mới) nắm tay ai, Thinh không mà biết song thai cũng kỳ. Trách chi mang tiếng tục y, Khoe tài coi mạch, thật khi người đời, Ta đi thời mắc Tiên cười, Chi bằng ở lại khỏi người chê bai. Anh lên tìm Lý Tri Niên, Theo tha ắt đặng gặp Tiên non Bồng. (tha: hắn,ông ta) Sau dù(dầu) rõ nỗi đục trong, Đó sao đây vậy, một lòng mà thôi. Dặn rồi vội vã chơn lui (chân lôi), Ngó trên tử lý về xuôi một bề. Họ Hà tự chốn làng quê, Đai cơm, bầu nước, đề huề ra đi. Ra đi đương lúc xuân kỳ, Đoái nhìn phong cảnh một khi vui lòng. Hữu tình thay ngọn gió đông, Cành mai nở nhụy, lá tùng reo vang. Cỏ hoa nghinh(nghênh) cánh cạnh đàng, Như tuồng(theo) mừng rước Đông hoàng tới đây. Líu lo chim nói trên cây, Như tuồng(theo)chào hỏi khách này ở đâu? Hai bên đá mọc giao đầu, Như tuồng(theo) đón rước, giàn hầu người sang. Dưới khe nước chảy như đàn, Giống tuồng(theo) đưa bạn hương quan tách vời. Các hoa đua nở, miệng cười, Giống tuồng(theo) mừng rỡ gặp người cố tri. Mảng xem phong cảnh dị kỳ, Hay đâu lỡ bước, lại đi tìm đàng. Xa trông thấy một người thường, Cỡi lừa chậm bước miệng dừng ngâm thơ. Họ Hà dừng bước đứng chờ, Lắng nghe người ấy tiếng thơ ngâm rằng: Thơ(thi) rằng: Ba vua năm đế dấu vừa qua, Mối đạo, trời trao đức thánh ta. Hai chữ "cương thường" ... các nước, Một câu "trung hiếu" dựng muôn nhà. Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, Đâm mấy thằng gian, bút chẳng tà. Căm bấy! Bầy ngu theo thói mọi! Trời gần chẳng kính, kính trời xa.

Họ Hà nghe đặng(được) thơ rồi, Trong dạ bồi hồi, bước tới hỏi thăm. Vó lừa kí cách xăm xăm, Nhìn lại gặp nhằm ông Lý tri Niên. Mậu rằng: Tôi cũng có duyên, Tìm tiên, mà lại gặp tiên giữa đàng, Niên rằng: Chẳng ở nhân gian, Việc chi lên chốn thâm san một mình? Độc trùng, ác thú, không kinh, Đàng chim, dấu thỏ, lộ trình xiết bao! Mậu rằng: Xưa có lời trao, Phải lên nói lại âm hao cho tường. Xin thầy chỉ vẽ mọi đường(đàng), Đem tôi lên tới Thạch bàn ngày xưa. Niên rằng: Trong cõi mưa mây, Khôn mời Bắc Đẩu, khó thơ(thưa) Nam Tào, Hai ông vốn thực(thật) vì sao, Người con mắt tục thấy sao đặng(được) hoài? Gần đây có núi Thiên Thai, Có chùa Linh diệu, có đài Âm dương. Trong chùa lại có hai hang, Một đàng Bích Lạc, một đàng Diêm La. Có ông tiên trưởng, thầy ta, Hiệu là Tứ Thất, tên là lão Nhan. Thường ngày luyện tập kim đan, Một mình gồm đủ ba? ngàn xuân thu. Đẳng nhàn một cảnh thanh u, Nay du sông Vị, mai du non Tùng. Lại hay có phép sai đồng, Lên trời xuống đất, thần thông ai tề(?). Theo ta lên đó hai ngày, Hỏi thăm căn số, thì(thời) hay sự tình. Bao nhiêu những việc tiền trình, Lòng son một tấm, gương minh soi rồi. Họ Hà nghe nói mừng vui, Mang gói lần hồi, lên núi Thiên Thai. Họ Hà chuyện vãn còn dài, Xin nối đầu bài, nói chuyện họ Dương. Họ Dương tự cách gia hương, Đã ba năm trường, ở chốn am mây. Hôm mai chuông mõ vang dầy, Chúng tăng vâng nghị mình thầy Thiện Trai. Bao nhiêu thế tục gác(khác) ngoài, Một xâu chuỗi hột mang vai, gìn lòng. Quỵ (quỳ) hương ba thứ đã xong, Mười lời? giới cấm, cũng không phạm gì. Vâng đầu làm việc tu trì, ... năm lên chức đại sư một chùa. Ra vô trong cõi Phù-tô(đồ), Thấy người tài sắc Nam Vô Di Đà! Ngày ngày kinh kệ ngâm nga, Lăng? Nghiêm, Diệu Giác, cùng là Kim Cang. Phút đâu bồn bực chẳng an, Dạo chơi ra chốn tam quan một hồi. Am mây cảnh vắng nào vui, Xem bao nhiêu lại ngậm ngùi bấy nhiêu. Vội vàng trở lại Hậu Liêu, Bạch cùng Hòa thượng xin điều vân du. Xưa hòa thượng cũng đạo Nho, Tên là Trần Kỷ (Ký), ở Phù Đồ Sa. Lắm? phen(phiên) đi ứng chơi khoa, Thi văn chẳng đỗ, lòn? ra cửa thiền. Giận đời nhiều việc đảo điên, Làm thơ khuyến thế, ngày liền ngâm chơi. Thơ rằng: Người xưa cầm đuốc dạo đêm chơi, Nào có cưu chi cái việc đời, Phụng Thuấn, lân Nghiêu, người trước nát, Hươu Tần, rắn Hán, lỗi sau dời. Thánh hiền để tiếng(thay) vài pho sách, Tạo hóa theo mình một tấc hơi? Trong cuộc phù sanh thế cùng ai(ai cũng thế), Rằng hay, rằng dở, chẳng qua trời. Họ Dương sắm(sửa) lại hành trang, Lạy thầy Hòa thượng, ra đàng vân du. Từ đây theo thú vân du, Kìa non, nọ nước, mặc dầu dong chơi. Người sanh ở dưới vòm? trời, Xưa qua, nay lại, mấy đời chọn sao. Võng(vòng) danh, xuyên? lợi tráo nhau, Hết vinh, đến nhục, sang giào(giàu) chi ai? Nhớ câu "xuân bất tái lai", Bóng già theo gót, biết nài chi đây. Đã đành thiền trượng một cây, Giới đao một lưỡi cùng thầy thế gian. Xưa nay trong cuộc giang san. Vật còn có chủ, ai toan chia giành? Kìa kìa gió mát trăng thanh, Tai nghe, mắt thấy, mới đành dạ ta. Khe đào, cụm liễu, trải qua, Tin xuân dã bạn ong hoa dầy dầy(dờidời). Đi vừa xa chốn am mây, Tới nơi Hà lãnh trời tây hầu chiều. Ven ghềnh một nhắm hiu hiu, Tiếng ngư trong núi, bóng tiều ngoài khơi. Bên non hầu, khuất mặt trời, Dương Từ thơ thẩn(dẫn) tìm nơi nghỉ mình. May đâu gặp một tiểu sanh, Cho trâu uống nước dưới ghềnh Hà tây. Ngồi cầm ống quyển trong tay, Thổi rồi lại hát, hát hay lại cười. Dương Từ bước tới xem chơi, Ngâm(ngẫm,gẫm) ba câu hát, thật lời thạch kim. Hát rằng: Chẳng phải trời Nghiêu, bóng chiều ngao ngán; trời đã tối rồi chờ sáng cùng làm(cũng lâu). Hát rằng: Nghe tiếng con chim oanh đỗ trên cành kêu mới biết ai dày(dời) đồng kéo(kẹo) lại trời Tây. Hát rằng: Trong cõi nhân gian nhiều đàng lầm lỗi, gặp với trời chiều nhược(khó) nỗi đi xa. (Ba câu hát này sách chép liền thành câu văn nên tôi để phiên âm nguyên bản để tiện nghiên cứu). Hát rồi lại thổi quyển chơi, Gẫm trong thú vị, thảnh thơi hơn thiền. Dương Từ bước tới hỏi liền: Ba câu hát ấy, ai truyền cho ngươi? Tiểu sanh nghe nói miệng cười, Đáp rằng: Vốn thật có người dạy ta. Gần đây vài dặm chẳng xa, Có thầy đạo sĩ tu đà nhiều năm, Một am ở chốn?(cấm) tây lâm, Ngày ngày thong thả, đờn(đàn) cầm, ca thi. Thuốc thang, phù chú (ni), ai bì, Người đau tới đó, bịnh chi cũng lành. Dương Từ hỏi đã đành rành, Xăm xăm bước tới trình lần? tây lâm. Tới nơi trời đã tối xầm(dầm), Đứng xa ngoài cửa, nghe ngâm thơ rằng:

Biết ơn(ân) phụ tử, nghĩa quân thần, Nhờ có Trời sanh đức Thánh nhân. Nét mực tu kinh ngăn đứa loạn, Dấu xe hành đạo rạch trong trần. Trăm năm còn cảm(cám) lời than phụng(phượng), Muôn nước đều thương tiếng khóc lân. Phải đặng(được) viết điều luân sách Hán, Mọi nào dám(giám) tới cạo đầu dân!