Dương Từ Hà Mậu (dị bản mới)

Part 5

Chapter 54,617 wordsPublic domain (Wikisource)

Nói thôi hối cháu trở lên, Cám thương Hà Mậu chẳng quên mọi lời. Thứ nầy đến chuyện trên đời, Dương Từ, Hà Mậu, về nơi Tiên đài. Lão Nhan ở núi Thiên thai, Ngồi chùa Linh diệu, hôm mai đợi chờ. Đánh tay đã đủ mười giờ, Đốt phù làm phép, như xưa hoàn hồn,

(Thiếu một đoạn)

Thầy rằng: Đã thấy rõ ràng. Ta phân gốc ngọn hai chàng đặng hay,

(Thiếu một đoạn)

Họ Hà nghe nói rõ ràng, Chạnh thương đời trước, hai hàng lụy rơi. Họ Dương quỳ lạy buông lời, Hỏi rằng: Đạo Phật ở đời tin chăng? Tôn sư chúm chím cười rằng Thói đời những mắc đạo xằng đua bơi, Từ xưa trời tách ra đời, Ba vua, năm đế, nối đời rất lâu. Từ ngày có Phật đến sau, Đến đời ngũ Quý hại nhau bời bời, Nên hư, gương ở các đời, Coi vào thời thấy, phải lời bàn chi? Dương, Hà, hai gã liền quỳ, Hỏi rằng: Nho đạo dám bì tiên chăng? Tôn sư thong thả đáp rằng: Đạo tiên cũng ở trong hằng đạo nho. Đạo tiên theo việc nhàn du, Dạo chơi non nước, chẳng cầu công danh. Đạo nho lo việc kinh dinh, Giúp trong nhà nước cho minh cương thường Tiên xưa ở chốn thơ đường, Một câu nho giáo, lòng càng chẳng quên, Muốn theo tiên đạo cho bền, Phải tòng nho đạo mới nên phận mình, Hai người đều khá hồi trinh, Đạo nào làm phải mặc tình ráp theo, Thưa rằng chút phận cheo leo, Non xanh, nước biếc, xin theo đạo thầy, Thầy rằng một cõi tiên nầy, Tiền duyên chưa dứt ở đây khó bề. Sao sao cũng phải trở về, Sửa sang nhà cửa trọn bề sẽ hay. Hai người đồng tiếng thưa thầy, Rằng: Xin ở lại vài ngày cõi tiên. Tôn sư hối Lý tri Niên, Dạy đem hai gã dạo miền Thiên Thai, Trải qua mấy chốn lâu đài, Coi thơ tiên cảnh tám bài, thú xưa.

I. Vịnh Sĩ Thú Long gồm kinh sử mấy mươi pho, Vàng ngọc nào hơn báu học trò? Cây trái rừng nho ra sức hái, Lố gành biển thánh ráng công mò, Cẩm văn thêu dệt đời đời chuộng, Đạo vị trau giồi bữa bữa no, Gặp thuở mày xanh ngồi đọc sách Một nhà đều hưởng lộc trời cho.

II. Vịnh Nông Thú Trải khi nắng hạ, lúc mưa thu, Cày cấy ghe phen sức dãi dầu, Cúi ngửa nương theo vài đám ruộng, Làm ăn giữ vốn mấy con trâu. Theo nghề Hậu tắc nhà không đói, Chuyên việc Mân phong nước chẳng sầu, Nhờ gặp mùa màng trời đất thuận, Năm trăm giống thóc một tay thâu.

III. Vịnh Y thú Một túi linh đan chẳng ráo hơi, Trong tay thường cứu mạng người đời. Năm mùi tánh dược ngày xem xét, Trăm trứng thang danh bữa đổi dời. Bịnh tới, chẳng câu người khó đói, Mạch coi, liền ngán kẻ ăn chơi Xưa lời quốc thủ khen rằng phải, Giúp sống dân ta trọn lẽ trời.

IV. Vịnh Bốc Thú Trải đời thường chuộng báu thi quy, Phưởng phất mùi hương chúa Phục hy, Tám quẻ khai ra đường bí yếu, Sáu hào xây để máy u vi. Cát, hung, muôn việc vài lời đoán, Thời vận ngàn năm một lẽ suy. Bày vẽ tháp trời, hang đất đó, Những con mắt tục mấy người tri,

V. Vịnh Công Thú Hóa công máy móc ở đâu nà, Trăm thợ nhân gian mọc nảy ra, Sáu phủ đua làm nghề khéo léo, Năm hành sắm đủ của xây xa. Màu tuồng đơn kép theo hình vật, Mọi việc lâu mau mặc ý ta. Máy tạo trong tay nào có vụng, Chí lăm nên giống nước cùng nhà.

VI. Vịnh Thương Phú Một câu thế lợi mở muôn nguồn, Giàu khó theo người việc bán buôn Các chợ sanh tài trăm họ nhóm, Mấy ghe hóa trị bốn phương ruồng. Trái cân Yến Tử còn roi dấu, Quyển sổ Đào Công chẳng mất tuồng, Chờ giá một mai may gập vận, Ra vào biết mấy của ngàn muôn.

VII. Vịnh Ngư Thú Ai nói rằng nghề hạ bạc hư? Chớ chê chài lưới thói bần xừ, Biếng theo ông Lữ câu danh lợi, Sánh với thầy Viên bói thủy ngư, Gánh cá giang hồ trăm chợ đủ, Chiếc thuyền phong nguyệt bốn mùa dư. Trọn nhờ lọc nước vui ngày tháng, Giềng mối trong tay giữ chặt khư.

VIII. Vịnh Tiều Thú Thánh nhân còn gọi kẻ sô nghiêu, Người chớ nên khinh thói lão tiều, Ngày tháng nghinh ngang vài gánh củi, Núi non dọn vén một tay rìu, Lộc rừng cũng đủ bề hôm sớm, Nghề cũ nào lo vốn ít nhiều. Theo vận vui trời, nhờ cán búa, Mặc đời Kiệt, Trụ, mặc đời Nghiêu.

Coi rồi tám thú thơ hay, Họ Hà ngẫm nghĩ bèn day hỏi liền, Hỏi rằng: Đây vốn cảnh tiên, Cớ sao chuộng thói theo miền phàm dân? Niên rằng: Một gốc thiên dân, Người tiên sánh với phàm trần đâu xa. Từ trong tám thú trở ra, Việc đời rồi rảnh ấy là thần tiên, Hai người theo Lý Tri Niên Ở Trong Vân động kết nguyền đồng tâm, Ngày ngày thong thả ca ngâm, Cùng nhau vui thú quỳnh lâm, dao trì, Lối nầy tới lối Châu Kỳ, Chạnh lòng nhớ bạn cố tri họ Hà, Liền năm liền tháng tới nhà, Hỏi thăm tin tức, lâu đà thon von. Liễu nương ở với hai con, Mượn người tìm khắp nước non mọi đàng. Long môn từ vắng mặt chàng, Tình nhà man mác, lòng nàng héo don. Lìa nhau đã tám năm tròn, Trông chồng đã mỏi, thấy con thêm sầu, Tuổi già mà lại hay đau, Tắt hơi khó nỗi ngồi lâu chờ chồng, Châu Kỳ thang thuốc giúp công, Số trời khôn cải, hết lòng thời thôi. Liễu nương từ thuở thác rồi, Hai con tám tuổi, mồ côi nhà nghèo. Cậu, cô, ép uổng khiến theo, Đọc kinh xem lễ giữ lèo lái xưa. Tuyết, Băng, lòng vốn chẳng ưa, Chị em giữ phận đẩy đưa tiếng người, Nói rằng: Theo đạo năm đời, Trong khi nào thấy có lời chi hay, Cha già đi mất lâu nay

(Thiếu một đoạn)

Đọc kinh xem lễ làm gì? Ơn cha chẳng đoái, còn ghi đạo nào? Cậu, cô, ghét tiếng cầu cao, Bỏ điều đói rách, lẽ nào trối thây! Chị em hẩm hút qua ngày, Trời sanh trời dưỡng, xày xày cũng xong. Châu Kỳ thấy cũng động lòng, Liền cho tiền gạo để phòng nuôi nhau. Chị em bàn luận cùng nhau, Việc cha thuở trước họ Châu nói liền. Rằng: Cha theo Lý Tri Niên, Đem đi tìm đạo cảnh tiên non Bồng. Vả đây lên chốn non Tùng, Đường đi hiểm trở, hầu mong cũng gần, Muốn cho đặng chữ "hiến thân", Phải đi lên đó một lần cho hay. Tìm cha thời phải hỏi thầy, Mất còn cho hẳn, lòng nầy mới an, Chị em cơm nước sửa sang, Nhằm chừng Tùng lãnh băng ngàn phăng phăng. Cám thương Xuân Tuyết, Thu Băng, Tuổi còn thơ ấu, nhọc nhằn xiết bao! Tìm cha nên chốn non cao, Kể nào thú dữ, màng nào thảnh thơi. Chị em đi quá nửa ngày, Hỏi thăm chẳng thấy, trở quày lộn ra, Hai bên cây đá giao hòa, Trong non nào thấy cửa nhà chi đâu, Đường chim dấu thỏ, luôn nhau, Chị em ngơ ngẩn khôn cầu đường ra, Non đoài bóng ác hầu tà, Cùng nhau lần bước đi qua Thạch bàn. Thạch bàn lại có khe ngang, Mở cơm ăn uống, rồi toan hỏi người. Dưới chân đau mỏi khôn dời, Cùng nhau lẩn thẩn, phút trời hoàng hôn. Khóc than tiếng dậy như cồn, Kêu rằng: Cha hỡi! Linh hồn ở đâu? Chứa chan muôn thảm ngàn sầu, Hai con sống thác, ai hầu biết cho? Dắt nhau lên đá nằm co, Khóc rồi lại ngủ, biết lo phương gì. Non cao cây cối rậm rì, Nằm queo lại ngủ, gặp kỳ đêm đông. Thương thay! Sương tuyết lạnh lùng, Năm canh đá gối, sương mùng, xiết bao! Bóng trăng vừa thấy lên cao, Một bầy thỏ bạch nhảy vào mừng vui. Nằm khoanh trên đá nối đuôi, Bao nhiêu sương tuyết, lông chùi sạch trơn. Đêm đông hơi ngáy tợ đờn, Chị em giấc ngủ nhờ ơn đăng bền, Vầng ô vừa lố bóng lên, Giựt mình trực thấy, thỏ bên nhảy liền, Ngày sau việc ấy sách biên: Tướng tinh mộng nguyệt; kết duyên Dương Hà. Mặt trời vừa lố sáng ra, Chị em lòng đói, xót xa phận mình. Chim đâu bay tới thình lình, Xanh lông, đỏ mỏ như hình sơn son. Đậu trên đầu đá hai con, Trái đào, mỏ gắp quăng lòn xuống cho. Chị em cầm ngửi thơm tho, Nhờ ăn đào ấy, đặng no tấm lòng. Chưa hay đi đặng cùng không, Đoạn sau mới biết cùng, thông, mọi đàng. Thứ này tới chuyện Tấn vương, Sửa sang nhà nước, bốn phương vững vàng. Buổi chầu đông mặt bá quan, Hai bên văn võ đều bàn việc dân. Có quan Bảo giá họ Tần, Quỳ dâng lời sớ ở phần Dự châu. Tấn vương xem thấy lòng sầu, Mới hay một trấn Dự châu mất mùa. Phán rằng: Nghiêu, Thuấn, làm vua, Chín năm nước lụt mà mùa chẳng hư; Vì lòng lo sợ có dư, Phải toan chữ "đức" đặng trừ chữ "tai". Ngày nay châu Dự cõi ngoài, Muôn dân đói khó, nào ai đỡ đần! Tần Khanh trước bệ liền tâu: Xin đi kinh lược Dự châu một lần. Trước là chẩn thải muôn dân, Sau răn quan lại, khỏi phần gian tham. Tấn vương y tấu cho làm, Phê rằng: "Thay trẫm, đông nam tuần hành". Tần Khanh phụng chỉ triều đình, Thối triều sắm sửa, giàn binh mã rồi, Về dinh tạm nghỉ một hồi, Phu nhân liền đặt lễ bồi xin đưa. Thưa rằng: Cám nỗi dây dưa, Đoái câu "lân chỉ", nhà chưa phỉ nguyền Nay ông vâng lịnh tuần biên, Ra ơn, làm phước, cầu duyên phận mình. Hoặc là trời chút thương tình, Sớm cho đặng chữ minh linh nối dòng. Miễn là nối nghiệp cho ông, Tôi, phần liễu yếu dám trông lẽ gì! Tần Khanh từ giã ra đi, Rần rần xe ngựa một khi đăng trình. Ngưỡng chiêm kỳ, cổ, nghiêm minh: Trải qua các trấn, sanh linh đều mừng. Đua nhau rượu thịt đem dâng, Đốt hương, đội trạng, tưng bừng xã thôn. Mười ngày tới huyện long môn, Xảy vừa gặp lúc hoàng hôn bóng vầy. Huyện đường xin rước vào đây, Truyền quân tạm nghỉ rạng ngày sẽ đi. Đêm đông tiếng trống trì tri Bóng trăng thấp thoáng trúc ly lối vào Tần Khanh nằm thấy chiêm bao, Hai con thỏ bạch nhảy vào trong tay, Giựt mình bèn thức dậy ngay, Ngồi bàn chưa rõ điềm nầy cát, hung. Phút đâu trời đã hừng đông, Đòi quan Tri huyện, hỏi trong dân tình, Chỗ nào oan khúc cho minh, Chỗ nào non nước anh linh cho tường, Huyện quan bày vẽ mọi đường, Rằng: Non Tùng có nhiều phương, thú cầm. Nghĩ trong điều ấy nghi thầm, Truyền ra một lịnh: sơn lâm liệp điền. Huyện quan sắm việc săn liền, Đem đi lên chốn sơn xuyên giải buồn. Truyền quân vác lưới, chiêu muông, Nhắm chừng Tùng lãnh, đi ruồng vào săn. Non xanh cây mọc giăng giăng, Hươu nai, dấu đá lấy ngăn chật đàng. Trải qua vừa tới Thạch bàn, Hai con thỏ bạch bên đàng nhảy đi, Tần Khanh xem thấy lòng nghi, Truyền quân bốn dấu, lưới vây tư bề. Tìm theo tới chốn Hoàng khê, Thấy hai gái trẻ nằm kề ngủ trưa. Quân hầu chưa kịp lời thưa, Tần Khanh bước tới thấy vừa lòng thương. Nói rằng: Điềm mộng mơ màng, Thật trời cho lão gặp đàng minh linh. Giã ơn non nước thần linh, Đi săn không thú, đã đành gặp con. Bèn kêu thức dậy hỏi đon, Việc chi dám tới núi non chốn này? Tuyết, Băng thức dậy mới hay, Cúi đầu bèn lạy, tỏ bày đầu đuôi. Thưa rằng lỡ bước tới, lui, Đói lòng nhờ có chim nuôi ba ngày, Tần Khanh nghe rất mừng thay, Con ai khéo đẻ, mặt mày tốt tươi. Lịnh truyền bãi việc săn chơi, Đem hai gái ấy về nơi huyện đường. Tần Khanh ngồi giữa huyện đường, Đòi ra han hỏi họ đương việc nhà. Hỏi rằng hai trẻ tìm cha, Rằng ai vẽ ngõ chỉ nhà cho đi? Mới thưa rằng: Có danh y, Bạn cùng thân phụ, Châu Kỳ là tên. Tần Khanh đòi họ Châu liền, Cùng là cô bác ở bên họ Hà. Tần Khanh hỏi việc họ Hà, Châu Kỳ gốc ngọn thưa qua rõ ràng. Tần Khanh mới rõ lòng vàng, Khen rằng: Bỏ đạo Hòa lan phải rồi. Cho hay gà, hạc, khác ngôi, Cây hiền, trái báu, biết mùi, mấy ai? Bà con nội ngoại vừa hai, Chớ rằng ai dại, trách tay các người! Tuyết, Băng là gái thờ Trời, Ta xin nuôi lấy, cải đời theo ta, Châu Kỳ quỳ lạy trở ra, Họ hàng nghe nói, trẻ già đều ưng. Tuyết, Băng, thay áo, đổi quần. Phận làm dưỡng tử, lễ dâng lạy rồi. Tần Khanh sai kẻ tống hồi, Phu nhân mừng đặng con nuôi trong nhà, Ấp yêu như ngọc, như ngà, Dạy bề đức hạnh, nết na thêm nhuần, Xuê xang cốt cách mười phần, Họ Hà cải lại họ Tần, rất vinh. Tuyết, Băng nay đã yên mình, Ở nơi công phủ, theo tình phu nhân. Tần Khanh xe ngựa rần rần, Từ nơi huyện ấy, trông chừng Dự châu. Các quan lại, tới bữa hầu, Tờ chương, tờ biểu, bày tâu nhộn nhàng. Tần Khanh khiến mở cho tường, Đặng cho lúa gạo, cứu hoang muôn nhà. Nhớ ơn chẩn thải chư gia, Một châu trăm họ, trẻ, già, đều vui. Sửa sang sáu tháng yên rồi, Giã từ châu Dự, phản hồi Tấn kinh. Tần Khanh bái yết triều đình, Tấn vương phán hỏi dân tình khắp nơi. Phán rằng: Ta nối ngôi trời, Gẫm mình ít đức, trị đời chẳng an. Dự châu trời xuống tai nàn. Cứu dân một cõi, nhờ chàng Tần Khanh. Công cao quyền trọng, đã đành. Chức quan Tổng trấn sẵn đành phong ngươi. Hà đông là cõi tốt tươi, Bảy châu, chín quận, nhiều người ăn chơi. Nấy ngươi thay mặt đổi lời, Ra ngồi Trấn ấy, trị đời chăn dân. Tấn vương lòng rất ân cần, Yến diên thết đãi, quân thần đưa nhau, Tần Khanh xuống bệ khấn đầu, Tạ vua, lãnh chỉ, thối chầu sửa sang. Về dinh sắm sửa hành trang, Đều đem nha lệ lên đàng Hà đông. Mười ngày tới huyện Hà Đông, Các quan, xa giá, hội đồng tiếp nghinh. Rước ông Tổng trấn vào thành, Muôn dân nườm nượp đều tranh tới mừng. Long môn huyện ấy ở gần, Nam khang huyện ấy ở gần Hà đông. Tần Khanh trấn thủ ải đồng, Chánh ra bủa khắp, ngoài trong vững vàng. Mấy câu gia huấn rõ rằng, Nuôi con gái ngọc, dung nhan khác thường. Phu nhân lòng rất yêu đương, Lại cho học chữ cho tường xưa nay. Tuyết, Băng hai gái xinh thay! Đã thông kinh sử liền ngày ngâm nga. Tiếng thơm ngày một đồn xa, Chúng đều khen ngợi họ Hà phước to, Tuy là hoa có thơm tho, Vườn xuân còn đóng, chưa lò gió đông. Nói rồi việc ở cửa công, Đây bèn kể chuyện vợ chồng họ Dương. Dương Từ, từ thuở ly hương, Một mình Đỗ thị náu nương quê nhà. Nuôi hai con thuở lên ba, Đến nay năm tuổi, trong nhà nghèo thêm. Đỗ nương canh cửi nghề, êm. Bữa đi gặt mướn còn hềm thiếu ăn. Dương Trân, Dương Bửu hai thằng, Tuổi còn thơ ấu, nhọc nhằn xiết bao. Bà con bên nội lãng xao, Đồng tiền bát gạo, thấy nào giúp đâu. Anh em nay vũng, mai bàu, Hái rau bắt ốc, nuôi nhau năm dài. Đỗ nương có một em trai, Tên là Đỗ khoái, tuổi ngoài năm mươi. Cũng trang tiểu phú trong đời, Nhà nuôi lục súc chuộng lời, bán buôn, Ngày nay rảnh việc ngồi buồn, Chạnh lòng nhớ chị, bỗng tuôn lệ dầm Nhớ thôi nghĩ lại tủi thầm, Chị ta nào khác đàn cầm đứt dây. Cám thương hai cháu thơ ngây, Trong nhà bần bạc buổi nầy nhờ ai? Anh đà theo Phật Như Lai, Gia đinh ấm, lạnh, đoái hoài chi đâu. Nói thôi chẳng xiết dạ sầu, Đi qua nhà chị ngõ hầu viếng thăm. Đỗ nương mừng thấy em thăm. Mừng rồi lại khóc đầm đầm lệ sa. Em dầu đoái tấm thân ta, Ruộng hoang vườn rậm, cửa nhà quạnh hiu. Ruột gan khô héo mấy chiều, Nỗi duyên, nỗi phận, nghĩ nhiều bề đau, Vợ chồng kết tóc cùng nhau, Trăm năm một hội, nghèo giàu cùng theo. Hay đây tuổi phận bọt bèo, Lại mang lấy tiếng ở lều vọng phu. Quản bao một chiếc bách châu, Linh đinh trong vực, mặc dầu gió mưa. Cám thương hai trẻ dây dưa, Tuổi còn thơ ấu, vóc chưa nên người. Cứ quen theo thói ăn chơi, Những điều khôn dại ở đời cậy ai. Nghe thôi Đỗ Khoái than dài, Nói rằng: Chị chớ trông hoài uổng công. Chị thời mang tiếng có chồng, Gặp khi mưa nắng cậy cùng người ta. Cháu thời mang tiếng có cha, Hôm mai lo liệu như gà mồ côi. Oan gia anh trốn nợ rồi, Chị già, cháu dại, còn ngồi trông chi? Ở đây ít kẻ yêu vì, Hãy theo bên ngoại đỡ khi nghiêng nghèo. Đỗ nương lo việc nghiêng nghèo, Mẹ con sửa soạn ngỏ theo đặng nhờ. Hai thằng Trân, Bửu còn khờ, Ăn rồi tìm chốn bụi bờ đi chơi. Ở vừa đặng nửa năm trời, Đỗ nương thấy vậy, buông lời nói ra: Heo, dê, gà, vịt, trong nhà, Coi dùm cho cậu, hơn là chơi không. Khoái rằng: Chị đã có lòng, Dạy con biết việc để phòng đỡ thân. Xưa nay người ở trong trần, Nhỏ phần việc nhỏ, lớn phần việc to. Làm ăn lớn nhỏ đều lo, Trước ra sức nhọc, sau lo bụng mình, Đỗ nương phận khó đã đành, Hai con no đói rách lành có em, Một bề ăn ở đặng êm, Trong nhà dê, ngỗng, càng thêm đẻ lời. Anh em Trân, Bửu hết chơi, Em thời chăn ngỗng, anh thời chăn dê, Sớm đi thời tối lại về, Bầy nào theo nấy, chớ hề lộn nhau, Đỗ nương ngó thấy thêm sầu, Chạnh lòng nhớ bạn, dòng châu đượm nhuần. Than rằng: chàng hỡi Dương quân! Muốn tu còn nối gót lân làm gì? Dầu cho nên Phật từ bi, Nỡ nào ngồi ngó hài nhi nỗi nầy! Phải chi con có cha đây, Sắm cho ăn học, theo thầy văn chương. Người nhà nghe nói liền thương, Thưa cùng Đỗ Khoái đặng tường cơ quan. Khoái rằng: Chị chớ thở than, Lòng em cũng đã thầm toan việc đời. Ngỗng, dê, đặng mấy mươi lời? Một cây hoa bút dưới trời, vinh hơn. Chí nguyền nuôi cháu làm ơn, Giúp nên cho chị, chẳng sờn lòng đâu, Cháu nay mới sáu tuổi đầu, Chờ nên tám tuổi sẽ âu học hành. Từ đây hai gã tiều sanh, Theo bề dê, ngỗng, phận đành nuôi chăn, Sớm trưa tìm chỗ cho ăn, Rủ con nít lại nhiều thằng, xúm chơi. Châu Khê là cảnh tốt tươi, Ở vùng non nước nhiều nơi linh thần, Thuở xưa lập miễu Hà phần, Thờ ông giáo thọ ở gần châu Khê. Trời chiều hai gã đi về, Nghe ai đọc sách, tiếng kề miếu môn, Hai thằng tuy nhỏ mà khôn. Tìm vào trong miễu thấy tôn sư ngồi. Vội vàng quỳ gối lạy rồi, Thưa rằng: Xin dạy hai tôi học hành, Tôn sư khi ấy hiện hình, Trao cho quyển sách Văn minh vỡ lòng Dạy rằng hai gã coi chung, Việc trong kim cổ sẵn dùng nhiều nơi, Thánh xưa hiền trước để lời, Phò vua, giúp nước, sửa đời, dạy dân. Học cho biết lẽ quân thần, Biết phần phụ tử, biết phần hiếu trung. Dặn dò tua khá thìn lòng, Chớ tham của hoạnh, đừng mong thói tà. Nhiều người theo đạo nho ta, Tiếng đồn hay chữ, vậy mà làm nhăng. Bởi vì không xét lòng hằng, Bỏ quên gốc cội, theo phăn ngọn ngành, Giàu nghèo có số trời sanh, Trau mình giữ thẳng làm lành mới nên. Hai con chử dạ cho bền, Một câu "minh đức" chớ quên thơ nầy.

Minh Đức Thi: Trên là quan trưởng dưới là dân, Giữ tấm lòng lành, rảnh thấm thân. Đi học phải toan tìm cội đức, Đặng thời chớ khá dứt nguồn ân, Bốn mùa đông rạng đều theo số, Trăm họ giàu nghèo cũng có phần. Xin giữ lòng hằng, dè việc quấy, Một câu phúc họa, để trời cân.

Dương Trân, Dương Bửu từ đây, Chịu thầy cho sách, liền xây trở về. Bữa đi chăn ngỗng chăn dê, Sách đem theo học, chẳng hề chơi hoang. Thường ra sơn cốc bên đường, Bẻ cây tập viết bốn dường chữ xưa, Ngày liền vào miễu hỏi thưa, Mấy câu chữ mắc, lý chưa đặng rành. Học hành mình biết cho mình, Mẹ già cùng cậu sự tình nào hay. Phút đâu hơn một năm chầy, Tôn sư điển ấy hết bày vẽ chi, Lần hồi ngày tháng qua đi, Vừa nên tám tuổi, gặp kỳ trùng dương, Người xưa gặp tiết trùng dương, Đều lên kiếm núi, lánh đường họa tai. Có thày dạy học cao tài, Tên là Trình Kiệt ở ngoài Hạc lâu. Làm người ở ẩn khôn cầu, Gió trăng vui thú, công hầu mặc ai. Thường đi non nước chơi hoài, Đôi ba chén rượu, một vài câu thi.

Thơ rằng: Cảnh xuân cho mát mấy mươi đều. Gấm nhiễu văn người phải gắng theo. Luôn tháng ngày Châu tin phụng gáy, Buồn non nước Tống tiếng quyên kêu, Nhà nho leo lét công đèn lửa, Biển thánh linh đinh phận bọt bèo. Ôm đạo một lòng trời đất thấy, Luống vì bầy trẻ dựng làm nêu.

Than rằng: Sanh chẳng gặp thì, Phải cam ở dưới cán kỳ tư văn. Một lòng giữ mối đạo hằng. Trau lời thế giáo, cằm dằn nhân luân. Phút đâu gặp bữa thanh thần, Thật ngày trùng cửu, là phần cuối thu. Đem bầy trò nhỏ ngao du, Tới non Cẩm thạch, ở dầu châu Khê. Nghỉ xem phong cảnh ra đề, Thấy hai ông lão ngồi kề trên non. Lại xem bên bến suối Son, Thấy bầy hươu chạy như tuồng binh đi. Ra hai câu đối nên kỳ, Các trò ngơ ngáo, đáp chi xong lời. Xúm nhau đương nghĩ đối chơi, Phút đâu Trân, Bửu, đến nơi xem tường. Trân rằng: Câu đối cũng thường, Tôi xin đáp lại coi dường sức nao.

Tôn Sư Xuất Đối Đề: Chữ "mao", chữ "điệt". Hai ông lão tử ngồi trên.

Dương Trân Đáp Đối Đề: Đàn sắt, đàn cầm. Bốn kẻ vương tôn đứng trước,

Dương Trân đối một câu rồi, Lại thêm Dương Bửu đối bồi một câu,

Tôn Sư Xuất Đối Đề: Hùng hổ tỳ hưu, Nhà tướng rằng muôn đội.

Dương Bửu Đáp Đối Đề: Long lân quy phụng, Nước vua gọi là bốn linh.

Thầy Trình thấy đối nên kinh, Khen cho hai gã tiểu sinh thần đồng. Thầy bèn gạn hỏi thủy chung, Liền theo hai gã thẳng xông về nhà. Anh em Trân, Bửu về nhà, Thưa cùng cậu, mẹ, đều ra mừng thầy, Cùng nhau chuyện vãn tỏ bày, Rượu cơm thiết đãi, trọn ngày vầy vui. Người trong làng xóm tới lui, Mới hay họ Đỗ có nuôi thần đồng, Thầy rằng: Nay dám bày lòng, Xin nuôi hai trẻ theo dòng nho gia, Hạc lầu về ở cùng ta, Học cho biết đạo ngỏ ra giúp đời Đỗ nương, Đỗ Khoái vâng lời, Đành cho hai trẻ theo nơi Hạc lầu. Hạc lầu là chốn nho lưu, Ra công mài ngọc lưu cầu vẽ văn, Anh em Trân, Bửu hai thằng, Nay đà khỏi việc nhọc nhằn ngỗng, dê. Theo thầy Trình Kiệt ra về, Đua nhau gắng sức học nghề văn chương, Hôm mai ở chốn thơ đường, Bao nhiêu sĩ tử đều nhường ngôi trên. Nói ra thơ phú liền nên, Sách coi qua mắt, chẳng quên câu nào. Cho hay tuổi nhỏ tài cao, Thông minh hẳn có trời trao tánh tình, Đến khi đọc sách Thi Kinh, "Lục Nga" thơ ấy động tình xiết bao. Nhớ câu chín chữ cù lao, Công ơn cha mẹ no nao đặng đền. Chạnh lòng buông tiếng khóc lên. Dòng châu lai láng thấm trên đất dày. Anh em bái tạ ơn thầy, Trở về viếng mẹ chầy ngày cách xa. Nàng rằng: Mừng thấy con ta, Bấy lâu thương nhớ mình già thêm suy, Kể từ hai trẻ ra đi, Ba năm học đạo, biết gì cùng không? Mẹ già mòn mỏi lòng trông, Nương lều, dựa cửa, bỏ công tháng ngày. Thơ rằng: Đạo thánh kể bày: Làm con thảo thuận tiếng hay xa đồn. Thường xem trong sách thánh môn, Hai mươi bốn thảo mới tròn người hay. Ngưỡng trông trời rộng đất dày, Ơn cha, nghĩa mẹ, sánh tày lưỡng nghi. Ấu thơ còn chửa biết gì, Lớn khôn lòng rất yêu vì hai thân, Ngày xưa trong miễu Hà phần, Hai con hỏi việc phụ thân đã rồi. Hiềm vì non nước xa xôi, Phận nhà khó đói ngùi ngùi khôn đi. Bây giờ nhờ có cậu đây, Con xin lên chốn am mây hỏi tìm. Đỗ nương nghe mấy lời êm, Mày châu, mặt ủ, lại thêm buồn lòng. Than rằng mình những luống trông, Thấy con mà lại thấy chồng ở đâu! Am mây dấu tích đã lâu, Mất còn hai lẽ ai hầu thông tin! Hai con dạ đã lâm đền, Biết bao giờ đặng mặt nhìn thấy cha. Nói thôi nước mắt nhỏ sa, Anh em Trân, Bửu, đều hòa khóc than! Thưa rằng: Mẹ hãy tạm an, Hai con mai sẽ lên đàng am mây. Đỗ nương lòng cũng ưng vầy, Sắm ăn cho trẻ phen nầy tầm cha. Am vân đường sá cách xa, Cảnh chùa thầy Lộc, tên va Sãi mầm. Anh em Trân, Bửu tới tầm, Hỏi thăm tên họ, Sãi mầm chỉ ngay: Nói rằng: Là tám năm nay, Thiện Trai thầy ấy chơi mây quên về. Thuở đi có chuỗi bồ đề Lâu nay chẳng biết cầm về tay ai. Hỏi rằng: Hòa thượng là ai? Đáp rằng: Cũng đã theo ngoài phương tây. Hỏi: Ai thầy cả ở đây? Đáp rằng: Vốn thật mầm nầy chớ ai Bây là con nít nhà ai? Khéo đem chuyện cũ hỏi hoài chẳng thôi. Chùa nầy không chuối không xôi, Không mang dầu cúng, còn rồi nói chi! Anh em khôn xiết sầu bi, Dạo coi bàn Phật một khi khuây lòng. Thấy chùa thờ bức tượng Ông, Nhện giăng, bụi đóng, kệ không hương đèn. Anh em thấy tượng liền khen, Khen rồi lại cảm, hiệp bèn làm thơ, Cùng nhau xướng họa một giờ, Tặng ông Quan Đế bài thơ khen rằng:

Tặng Quan Đế: Tấm lòng ngay chúa thấu trời cao, Năm ải khôn ngừa một lưỡi đao. Núi đất ba lời gìn nghĩa Hán, Sông vàng hai trận trả ơn Tào. Quyển kinh bát loạn tay nào mỏi, Ngọ đuốc phò nguy gió chẳng xao. Phải thuở Kinh châu ngồi giữ chặt, Ngụy, Ngô hai nước biết nài sao?