Dương Từ Hà Mậu (dị bản mới)

Part 2

Chapter 24,669 wordsPublic domain (Wikisource)

Thơ rồi lại gảy đàn cầm, Như tuồng(theo) mừng bạn tri âm tới nhà, Tử Kỳ xưa gặp Bá Nha, Ngón đờn(đàn) "lưu thủy" nay mà còn đây. Dương Từ gõ cửa kêu thầy, Rằng đi lỡ tối, đêm(?điếm) này độ ta. Có ông đạo sĩ bước ra, Chào rằng: Thiền khách nay đà đến đây? Lều tranh, dựng(giường?) đá, chiếu mây, Khô nai, cơm bắp, rượu trai(chay), tạm dùng! Từ rằng: Lời dám hỏi ông: Ở trong am vịnh sao không Phật thờ? Sĩ rằng: Ta chẳng ước ma(mơ?), Bởi vì chữ phất*?*, sánh vừa chữ nhân, (*?* có lẽ là chữ Phật, do thiếu bộ "nhân đứng" phía trước nên tôi phiên như vậy) Đường qua tây vực chẳng gần, Cõi di, cõi hạ trời phân rõ ràng. Ta thường coi sách nhà Đàng (Đường), Thấy lời "Phật biểu" họ Hàn khó tin. Phất(Phật) nhân, sống cũng chẳng nhìn, Huống đem hình đuốc, tượng in thờ gì? Từ rằng: vốn thật từ bi! Sĩ rằng: lại có ít gì dân phong. (Đoạn thiếu là:) Thấy câu ngôn ngữ bất thông, Dầu(dù) cho linh nghiệm cũng dòng man di Từ rằng: Thầy học đạo chi? Sĩ rằng: Thiên hạ thiếu gì đàng xưa. Đạo đời như chiếc thuyền đưa, Mặc ai đi sớm về trưa, không gàn! Kìa như họ Lão, họ Trang, Họ Dương, họ Mặc, họ Hoàng, họ Thân. Các nhà í(ý,ấy) cũng cổ nhân, Trải đường mạ(mở?) ngõ, trong trần nhiều nơi. Có nghe các họ đua bơi?, Không nghe họ Phật ở đời trung nguyên. Từ rằng: Biết đạo chi chuyên? Sĩ rằng: Xưa có sách hiền chép câu: Một vòm(bầu) trời đất như chu(thuyền) Mặc(mặt?) người kim cổ, chèo đâu thì chèo. Từ rằng khó(nhược) nỗi phương theo, Sĩ rằng: Lựa phải xuống đèo, (trên?)lên non. Vua tôi, chồng vợ, cha con, Anh em, bầu bạn, vuông tròn mới xong. Chẳng tin, coi một ngày ròng, Đi đâu cho khỏi đạo trong cương thường? Ta xưa cũng khách thư đường, Mi(mày) xanh có chí hiển dương trên đời, Ghét đời Thúc Quý đua bơi, Sợ trời nên phải tìm nơi nghỉ(ẩn?) mình, Vốn không học thói Lan đình, Kéo nhau thầm miệng phẩm bình cổ kim. Cũng không học thói chữ lâm(lầm?), Rủ nhau dốc(uống?)rượu hôn trầm ngày đêm. Gió, trăng là bạn, anh, em, Sớm nghe tiếng sáo, tối xem bóng thiềm. Mộ* riêng một tấm thanh điềm, (*mộ:hâm mộ) Sẵn hoa dưới hố, sẵn chim trên cành. Hươu, nai, khỉ, dộc ai dừng(đừng,đành), Của trong trời đất, mặc tình xem chơi. An, nguy có phận ở trời, Người đời đừng mắc, lỡ(nhỡ) đời chia thôi. Dương Từ nghe nói rẽ ròi(rồi), Một đêm chẳng ngủ, luống ngồi lo âu. Nghĩ rằng mình đã đi tu, Ngỡ(hẵng) như lời í(ý,ấy) công phu lỡ làng! Cương thường để mặc ai toan, Đạo ta giữ vẹn, nào can phạm gì? Thảy(xảy?) vừa trời sáng, hầu đi, Hỏi rằng: Thầy húy tên gì dạy tôi? Sĩ rằng: Trọn đạo thời thôi, Người đời nào phải trao dồi tánh danh? Trời cao đất rộng, thanh thanh, Non xanh, nước biếc, đã đành phôi pha (phui phai). Hỏi thời ta phải nói ra, Ba ngàn thế giới, ta đà vô danh. Từ rằng: Đâu thật(thực) có danh? Sĩ rằng: Linh Diệu đã đành chùa tiên. Dương Từ vội vã đi liền, Ngồi lâu lại sợ cửa thiền mắc chê. Trải qua mấy dặm lâm khê, Hiu hiu gió thổi, tê tê (phê phê) non tùng. Ngọn? đào, bì?(vỏ) liễu song sanh(song) Một vầng(quầng?) mây bạc, bóng lồng phau tuôn. Hoà đi, hoà nghĩ(nghỉ), hoà bồn(buồn), Giận đời đạo sĩ khui dòng Phật gia. Đi vừa tới suối Kim Ba, Thấy một ông già xuống suối tắm chơi. Tắm rồi hứng chút(mát?) thảnh thơi, Hát một vài lời hay rất êm tai. Hát rằng: Tắm nước trong, tấm lòng đả trải(sạch?), Cám(cảm) thương người làm khách trần ai! Hát rằng: Gió xuân qua, mình ta đã chút(mát?), Cám(cảm) thương người phiêu lạc tha hương! Hát rằng: Biển Thánh, lăng Nho, công phu ngơ ngáo, tuổi đã già rồi, thế đạo còn xa! Hát rồi tay chống gậy lê, Vai mang bầu rượu, đi về cõi tây. Dương Từ đứng dưới bóng cây, Hỏi rằng: Ông trượng làm thầy chi chăng? Lão rằng theo thói làm ăn, Người con mắt(mắc) tục, ai rằng thầy ai? Từ rằng: Tán, kiệu, mão, đai, Ngôi cao, sang trọng, đố ai không thầy? Lão rằng: Ta ở chốn nầy(này), Sáu mươi mấy tuổi, biết thầy nào đâu. Thánh nhân dẫn trước khôn cầu! May còn người đạo ở đầu Tây lâm. Dương Từ nghe chữ "Tây lâm". Hỏi rằng: Phải kẻ đờn cầm, ca thi? Chẳng hay tên ấy tên chi? Chẳng phen Sào Phụ, cũng bì Hứa Do. Lão rằng: Khắp chốn giang hồ, Ai ai chẳng biết Huyền Hồ tiên sinh? Thấy ngươi ta cũng bất bình, Mong(cớ?) sao cạo tóc, làm hình đi tu? Từ rằng cám(cảm) Phật ân sâu, Không con mà lại cho cầu đặng con. Lão rằng: Cầu Phật đặng con, Xưa ngươi Bá Đạo sao còn lo sau? Có con mà lại cạo đầu, Xưa ngươi Tử Hạ còn cầu làm chi? Từ rằng: Đã chót? quy y, Việc ta đã quyết, can gì tới ai? Chót theo Bồ Tát Như Lai, Trước sau giữ một lòng trai chẳng sờn. Gặp đây xin hỏi trượng nhân, Cảnh chùa nào tốt, chỉ bần tăng đi? Lão rằng: Chùa chẳng thiếu chi, Hàn Sơn, Lam Thủy ít bì Thiên Thai. Thiên thai xa chốn trần ai, Có chùa Linh Diệu, có đài Âm Dương. Thiền sư rày muốn du phương, Đông Nam phía í(ý,ấy) là đàng đi lên. Dương Từ khăng khắng chửa(chưa) quên, Giả(trả) ân lão trượng, lòng bền? ra đi. Ngày xuân con bóng trì trì, Tưởng câu "thủy tú, sơn kỳ" thêm vui. Khói tan, ngút sạch, như giồi, Miệng hang, nèn? đá, nặc mùi chi lan. Ai mộ? chín chục thiều quang, Mây lành, gió đoán? vẻ vang một trời. Mảng? xem phong cảnh nơi nơi, Ác? vàng chen? núi, khó dời đường chim. Trong non nhà cửa khôn tìm, Dương Từ vào miếu, một đêm ngỏ(nằm?) nhờ. Miếu môn vắng vẻ như tờ, Tối tăm, chửa rõ trong thờ thần chi. Họ Dương vừa giấc ngủ đi, Chiêm bao nằm thấy quân tùy bắc ngang. Quân rằng: Vâng lịnh(lệnh) Phán quan, Chữ ghi? trong thẻ, đòi chàng hầu tra. Họ Dương hồn gượng theo ta, Tới nơi công phủ một tòa nghiêm trang. Ngồi trên thấy một ông quan, Trước bàn hương án bày hàng bút nghiên. Có người thư lại ngồi biên, Hai bên treo trống, treo chiêng, rõ ràng. Trước sân lỗ bộ hai hàng, Tả đao, hộ vệ, đứng dàn hầu xa. Quân tùy dẫn họ Dương ra, Trước sân cẩm thạch đặng mà nghe tra. Quan rằng: Thằng sãi bôn ba, Tới nằm cửa miếu vậy mà gọi ai? Dám xưng rằng chữ Thiện trai, Người trong Hoa hạ, hay ngoài Man di? Tóc râu là dáng(dạng) nam nhi, Của cha mẹ đuốc(đúc), can gì cạo đi? Tổ tiên chút đã đền chi, Hang hương bát nước, mấy khi phụng thờ? Áo cơm nỡ còn (còn nợ) (sơ sơ) sờ sờ, Ngọn rau, con cá, cũng nhờ đất vua. Trốn xâu(sưu), trốn(luổn) thuế, vô chùa, Trong đời những sãi, thời vua nhờ gì? Vợ con sao nỡ bỏ đi? Lời thề dường ấy sao khi quỷ thần! Ba giềng chẳng đặng một phân(phần), Như vậy(vầy) cũng gọi làm thân con người. Để bay(bây) sống cũng nhơ đời, Truyền quân đao phủ dẫn nơi pháp đình. Họ Dương khiếp vía hồn kinh, Lạy xin dung nộ chút tình bần tăng. Phán quan cất bút ... rằng, Tha về phải giữ đạo hằng cổ kim. Dương Từ thức giấc nửa đêm, Nghĩ ra mới biết một điềm chiêm bao. Gẫm(ngẫm) trong mộng sự ngán ngao, Cát, hung, chưa rõ lẽ nào thân sau. Vầng ô vừa lộ(ló,lố) bóng đầu, Dương Từ vào miếu coi câu chữ đề, Ngó lên trên biển ngạch đề, Rằng: Đàng Hàn Tử, Xương Lê chi thần. Than rằng: Đã đương thành thần, Ngay vua, nào nại tấm thân mất còn. Lại xem đôi liễn sơn son, Có câu liễn đối, treo còn đến nay. Liễn rằng: Một sách "Đạo Nguyên" lòa mắt thánh; Ba tờ "Phật Biểu" chát tai vua. Dương Từ than thở rằng hay, Người ngay lại gặp liễn hay treo đời. Lòng son một tấm tú? trời, Những người gian nịnh đổi dời sao xong. Cho hay đặng chữ "hiếu trung", (tr.25a) Dầu muôn năm cũng sắc phong miếu thờ. Vái rằng: Bần đạo ngẩn ngơ, Lỡ đàng lại tới ... ... cửa thần. Tạ ơn, bốn lạy xin dâng, Chấp chi bần đạo, quên chừng vân du. Từ đây khỏi cửa công hầu, Chim trời cá nước, mặc dầu nghênh ngang. Đi rồi nghĩ lại thở than, Rằng đêm trong miếu mắt ... (mắc nạn) chiêm bao. Ghi lòng vàng đá, chửa nao, Những ... mộng huyễn, nghĩ nào mà tin. Đi vừa mười dặm đứng nhìn, Đàng về tây bắc cảnh in quê nhà. Than rằng từ thuở(thủa) xuất gia, Đến nay kể đã hơn ba năm trường. Người thì(thời) chê lỗi cương thường, Thần thì(thời) bắt tội, một rừng(giường) hiếu trung, Biết tu mấy kiếp cho xong! Làm người nghĩ thẹn trong hổ cảnh người! (có lẽ in nhầm, phải là: Làm người nghĩ hổ thẹn trong cảnh người). Tu chi trời đất hổ ngươi, Thần hờn, quỷ giận, dân cười, sĩ chê. Tưởng đi, rồi lại tưởng về, Về thời hổ ... bồ đề trong tay. Tương dưa, đậu phụ, cơm chay, Công phu chút(chót) đã lâu nay cúng dường(dàng). Đi thời lại sợ lầm đàng. Thế gian đàm tiếu mỗi(mọi) đàng thị phi. Dùng dằng lỡ ở, lỡ đi, Bàn lui, bàn tới, việc gì chửa xong. Đi vừa tới chốn tang trung, Thấy tam kỳ lộ trong lòng sanh nghi. (tr.26a) 三 Một mình đứng giữa tam kỳ, Ngó nam, ngó bắc, đi đường chửa đành(chưa dừng), (có lẽ là: đường đi chưa ràng, chưa rõ ràng đường nào mà đi), May đâu thấy một cổ đình?, Ở bên đường cái, danh "Thanh Phong đình". Trong đình không phụng thần linh, Để cho hành khách lộ trình nghỉ ngơi. Dương Từ bước tới xem chơi, Thấy câu liễn đối, thật lời thạch kim. Liễn rằng: Đường đi ba ngõ(ngả) ngươi(người) Châu khóc; Tơ trắng hai màu họ Địch than, Dương Từ coi liễn đối rồi, Trong lòng ngẫm nghĩ một hồi giải ra. Giải rằng: đường có ngã ba, Một qua bắc khứ, một qua nam hành. Giải rằng: Tơ trắng sạch mình, Màu vàng cũng đặng, màu xanh không từ. Làm người nay thật, mai hư, Lòng không quyết một, cũng như liễn này(nầy). Hỡi ai chí chót chơi mây, Mùi(màu) thiền đã nếm, bấy (trừ) chầy cũng nên. Giữ lòng kim thạch cho bền, Chớ nghe lời tục, mà quên phận mình. Giả(trả) ơn câu liễn trong đình, Khiến ta quyết một lòng thành đi tu. Từ đây mới dứt lòng sầu, Chót chọn cửa Phật, chẳng âu tiếng người, Thiên Thai chùa ý(ấy) gần vời, Dương Từ đón khách hỏi nơi chưa(chửa) rành. (Nhân+đa) nghe bên ruộng dâu xanh, Gió đưa tiếng hát, như hình có ai. Hát rằng: Bờ dâu ấm con chim Cưu đậu, (= Bến Hà châu đôi chim cưu đậu,) Thuở nghênh (nghèo?) có vội(bậu) với qua. (= Buổi nghiêng nghèo có bậu, có qua.) Hát rằng: Cành dâu ... cây châm cởi ... Với sang giào dù lọng thiếu chi. (= Lúc sang giàu dù lọng nghinh ngang.) Hát rằng: Ngọn gió dời(dày) một ngày một khác, Ta nhờ(nhớ) người câu hát thái tân(=thể tần). Hát rằng: Biển (bến?) đò xưa bạn đưa đã trống, Ta chờ người thổi ống phụng(phượng) sanh(sinh). Dương Từ nghe tiếng thanh ..., ... chân bước vào trong ruộng dâu coi. Thấy hai con gái mang gùi, Hái dâu vừa rồi, sắm sửa hồi trang, Dương Từ nhắm(nhằm) vóc hai nàng, Chừng vài mươi tuổi, dung nhan tầm thường. Hỏi rằng: Kỳ lộ nhiều đàng, Lên chùa Linh Diệu biết đàng nào đi? Đáp rằng: Hòa thượng hỏi chi? Ta là phận gái, biết gì chùa đâu. Để tằm, lo việc hái dâu, Kéo tơ, dệt lụa, đương cầu nữ công, Thầy tu muốn hỏi đường thông, (tr28a) Phải tầm bà sãi, tây đông mới tường. (Thiếu 2 câu)(bàn này thêm 4 câu) là: Ta nghe con gái nhà Khương, Ít ... ... ... già đương tu đặc(hành).=>(viết nhầm hành thành đặc) Có câu lão kỹ (vi ni: HV) Mấy đàng (trai mạn:HV) cũng đi nếm rồi. (tiếp) Nói thôi mang giỏ về xuôi, Dương Từ còn đứng (ngội ngồi) ngậm ngùi thở than. Làm bà vãi cũng gian nan, Đã ra thân trục(chọc), còn mang tiếng đời. Gái kia chẳng chỉ ... nơi, Đánh liều đi khắp(phía)? phương trời đông nam. Ra đi tới Bạch Vân Nham(đồi), Trời vừa tròn bóng tìm am nghỉ mình. Dưới Nham(đồi) có ruộng dâu xanh, Có tòa cổ miếu, mây dinh(danh,doanh) tứ bề. Ngó vô biển? cửa chữ đề: "Hiếu Từ" hai chữ, son tô(phê?) chói lòa. Có câu liễn đối treo ra, Dương Từ xem thấy, lòng đà sanh(sinh) nghi. Liễn rằng: Đói rách lòng không hờn(hận) mẹ ghẻ; Ốm đau lời chẳng dỗi cha lành. Thấy câu liễn đối mà thương, Cho hay: con thảo nhiều đường gian nan(nguy). Muốn vô coi tượng thờ chi, Lại e linh nghiệm, như kỳ chiêm bao. Trở ra, lại muốn chọn vào, Thấy câu liễn ý(ấy), đi sao cho đành! Xảy nghe bên cụm dâu xanh, Có người đốn cội(củi) linh tinh (lanh chanh) hát rằng: Hát rằng: Núi non đây nhiều cây nghinh ngang. Dọn thông đường nhờ cán búa ta. Hát rằng: Búa trong tay, liền ngày đốn cội(củi), Vui rừng trời tránh buổi loạn ly. Hát rằng: Cội cây yêm(ấm,ẩm) phải tìm (nối)núp bóng, Mặc người đời dù lọng nghinh ngang, Dương Từ nghe hát mấy lời, Xăm xăm bước tới, thấy người tiều phu. Hỏi rằng: Nhà cửa ở đâu? Biết trong miếu ấy, công hầu bậc chi? Tiều rằng: trong miếu Hiếu từ* (viết sai thành chữ "từ" trong "câu từ", Thờ ông Mẫn Tử thuở kỳ Xuân Thu. Học theo thánh đạo đã lâu, Một câu hiếu hạnh ở đầu tứ khoa. Hết lòng thảo với mẹ cha, Người ngoài cho đến trong nhà đều vâng(khen). Thuở xưa đương lúc khó hèn, Ấu thơ mẹ mất, cha liền thú thê. Từ ngày có mẹ lẽ về, Đẻ hai em nhỏ, cha kề ấp yêu. Mẹ thương con ruột phần nhiều, Tấm thân con lẽ, mẹ liều như không. Đói cơm, rách áo kiệt(mặc?) lòng. Ăn theo đày(đầy) tớ, nằm cùng chuồng trâu, Tử Khiên không dạ oán sầu, Phải sao hay vậy, son câu hiếu hòa. Đến khi cha khiến đẩy xa, Thấy con áo rách, giận bà hậu thê. Cha liền vội vã trở về, Trách bà mẹ lẽ, toan bề để ra. Tử Khiên than thở, lạy cha. Xin dung một mẹ, mới hòa ba con. Rách, lành, chi sá một con, Hai con thơ ấu, mẹ còn mới nên. Thảo thân một tấm lòng bền, Cảm tình, mẹ lẽ chẳng quên con chồng. Nhớ câu: "Hiếu đễ(đệ) thành phong". Người trong nước Lỗ đều mong học đòi. Sắc phong một thuở hẳn hoi, "Hiếu Từ" hai chữ, dấu roi(noi?,soi?) muôn đời. Ta đây cũng một họ người, Kêu bằng ông tổ ba mươi bốn đời, Từ rằng: Xin hỏi vài lời, Lão tiều vốn thật là người trâm anh. Sao không ra lập công danh, Noi theo nghiệp tổ, hiển vinh mà nhờ? Tiều rằng trước mắt sờ sờ, ... ai chẳng thấy ... chờ lẽ chi? Đua nhau hai chữ "tương khi", Trên quyền, dưới ..., đoái gì thiên luân! Nước thì(thời) chia bốn năm phần, Can qua biết mấy mươi lần đánh nhau. Trong thì(thời) gian nịnh giụm(chụm) đầu, Ngoài thì(thời) ô lại, đua cầu tham quan. Chính(chánh) ra dữ quá cọp vàng, Lòng dùng độc, quá hổ mang, thuồng luồng. Bốn phương mọi rợ luôn tuồng, Nay giành ải hổ, mai ruồng(lùng) ải lang. Nơi nơi trộm cướp dấy loàn, Lê dân hết sức, của tan chẳng còn! Trong trời đất cũng thon von, Khói mây đen kịt(nghẹt), nước non đau sầu. (tr31a) Biết đời tam đại ở đâu, Gặp đời Thúc Quý phải âu lánh mình. Từ rằng bờ cõi đã thinh(thanh), Chẳng tham danh lợi, lánh mình cũng cho. Ở trong tạo hóa nhiều lò, Thiếu chi nghề nghiệp mà bo(phô) theo tiều? Tiều rằng: Cửa thánh gương treo, Dùng đời chẳng đặng, chớ(chưa,chửa) theo đời dùng? Nghề như các bậc thương nông, Nghề như y lý cũng không ra chi(gì). Bao nhiêu nghề nghiệp đều khi, Chẳng khi nào khéo lấy chi đời dùng. Khéo khôn ắt có mỏi(mủi) lòng, Mỏi(mủi) lòng rồi lại mắc vòng hoạ tai. Thử coi con thú vật ngoài, Như voi như cọp, mấy ai giám(dám) bì? Voi kia cao lớn đen sì, Cặp ngà không dụng: can chi lụy(truy) mình. Cọp kia nanh vuốt như binh, Tấm da không dụng: ai rình đâm chi? Lấy trong việc ấy mà suy(thôi), Những nghề đời dụng, ra gì xưa nay! Ta nhờ cán búa trong tay, Theo nơi sơn lĩnh, tháng ngày thảnh thơi. Bữa dùng một gánh củi trời, Cá, cơm, rượu, thịt, ở đời cũng no. Giữ câu "phù ngưỡng" bo bo, Thờ trên noi dưới, miễn cho xong mình. Xin đừng hổ với chư linh, Cùng đành(đừng) thẹn với người sanh trong đời. Xin đừng hư trá(dối) lẽ trời, Cũng đành(đừng) trốn lánh việc đời thì(thời) xong. (tr.32a) Dương Từ nghe nói hổ lòng, Khen rằng tiều lão thật dòng hiền xưa. Ta đà khỏi chốn mây mưa, Cớ trêu tấc dạ, lại ưa mùi(vị) thiền. Thiên Thai dốc kiếm chùa tiên, Chưa(chửa,chớ) thông đường sá, xin phiền vẻ ta. Tiều rằng: Có chỉ nam xa, Chưa(chửa,chớ) lo lỗi đạo, lo ta lầm đàng. Đây đi xuống bến Châu Giang, Ngang? qua Tây Bắc, lên đàng Thiên thai. Dương Từ vội vã gót hài, Từ biệt non đoài, nương gậy thiền đi. Dưới đời nhiều việc so my, Nhiều thói cao kỳ nghĩ lại mà kinh. Những người ngay thẳng đều vinh, Thân tuy đã mất mà danh hãy còn. (tr.32b) Bảng vàng, thẻ bạc sơn son, Bao nhiêu vinh hiển, là con nhà hiền. Tiều phu là đấng(đứa?) không tiền, Gẫm(ngẫm) trong lời nói có duyên hơn vàng. Hỡi ôi! Mấy kẻ giào(giàu) sang, Nhưng tham vui sướng, quên màng thân sau. Dương Từ đi tới sông Châu, Ngẩn ngơ nào biết bến đâu đưa mình. Ngó lên trên khúc sông quang(quanh?), Thấy bên bậc(vực) thẳm có manh cô bồng. Một người ngồi giữa khoang thông, Khua chèo miệng hát, gió lồng tiếng vang. Hát rằng: Bến sông Châu, vực sâu, cá ở, Thương người hiền gặp thuở loạn ly. (tr.33a) Hát rằng: Nước vận(vần) quanh bãi gành(ghềnh) chảy cạn, Kẻ anh hùng hoạn nạn khá thương! Hát rằng: Chiếc thuyền câu, đậu đâu nên đó, Ở nước loạn, giàu có mà chi?

Dương Từ nghe tiếng ngư ca, Bước lên trên bực, coi vơi thể nào? Mình hơn tám thước(?) rất cao, Mặt đen râu quắn, khác nào võ(vũ) phu. Dương Từ bước xuống ngư chu, Xin đưa khỏi bến, sẽ âu hoàn tiền. Ngư rằng: Ngươi ở chùa chiền, Đi đâu sông suối, mà phiền ta đưa? (tr.33b) Nhắm hình chẳng phải người xưa; Lánh nơi hoạn nạn, tới trưa lỡ làng. Ta nghe trong bến Lư Giang, Có ông ngư phụ đưa chàng Ngũ Viên. Lại nghe đình trưởng dừng thuyền, Chở ngươi Hạng Vũ qua miền Ô Giang. Hai người bởi ý(ấy)lánh nạn(nàn), Một toan lã(trả) oán, một toan lã(trả) thù. Sợ đời bắc(bắt) kẻ tóc râu, Nào ai bắt đứa(đấng) trọc đầu làm chi? Nói rồi ra lẽ thị phi, Dễ đưa qua đó, tiếc gì công ta. Cầm chèo thong thả đưa qua, Dương Từ, tới bến, xì ra tiền đò. Ngư rằng: Ta chẳng đưa đò, Phòng tham tiền của so đo với người. (tr.34a) Trước đà làm phải trên đời, Ngàn vàng chẳng bảo(báu) một lời mà sang. Từ rằng: Ta tiếc(tánh) cho chàng, Chẳng phen lương(giường) đống, cũng trang anh hùng. Ta nghe nước Tấn chinh đông, Cầu người võ sĩ ra công can thành. Mong(cớ) sao chẳng xuống Tây Kinh, Phò vua giúp nước, lập danh để đời? Cá tôm đặng(được) mấy tiền lời, ...藝 Theo nghề chài lưới, quên nơi sang giàu? Ngư rằng ngươi khéo phỉnh nhau, Ai từng khát nước tới đầu bờ ao? Đời nay chửa(chưa,chớ) khát đời nào, Đất dày(dầy) thăm thẳm, trời cao mù mù. Bốn vụ(mùa) thành luỹ làm xâu(?), Dân ốm, nước gầy, má(mỡ) dầu cũng khô, (tr.34b) Thấy đời danh lợi muốn phô(bo), Khác nào con chấu nhảy vô vòng(?) dầu. Từ rằng: Xưa sách có câu, Công thành danh(thân) toại(thoái), ai hầu chi ai? Ngư rằng: Xưa bậc hiền tài, Lập thân sao chẳng biết bài bảo thân. Dầu vinh cũng tiếng nhân thần, Trâu cày ngựa cỡi(cưỡi), cái thân ra gì? Chớ tham ăn lộc đời suy, Bẫy chim, lưới cá, e khi mắc còng(cồng). Lỗi(trối) ai ra sức muông săn, Một mai thỏ hết, chúng ăn tới mình. Sao bằng một cõi an sanh, Sông sâu vực thẳm, ai dừng(giành) chi đây? Sẵn dùng chèo bách một cây, Thuyền thông một chiếc, đỡ(?) ngày hôm mai. (tr.35a) Theo sông khúc vắn khúc dài, Năm ba sợi nhợ, một vài cần tre. Đêm trăng, ngày gió, bạn bè, Vui câu hát xướng(?), buồn vơi(ve) rượu hầu. Trải chơi gành(ghềnh) hạc, bãi âu, Thú vui trong nước, mặc dầu nghinh ngang. Cá tôm sẵn lộc trời ban, Phận đà no đủ, còn màng của chi? Nói rồi thong thả chèo đi, Dương Từ khen đó tính khi lâu dài. Than rằng: Thương đứng(đấng) hiền tài, (đứng=đấng:âmcổ) Sao không gặp thuở, biết nai(nại) thân nào? Hỡi ai quyền trọng ngôi cao! Thú hiền(hèn) cũng có người nào chửa(chớ,chưa) khinh. Họ Dương từ(tự) thuở đăng trình, Trải chơi non nước sự tình biết bao. (tr.35b) Đi hơn nửa tháng lao đao, Đến nay mới thấy đàng vào Thiên Thai, Thiên Thai một cảnh an bài, Dương Từ tới, mới ở ngoài động môn. Thứ này(nầy,nơi) người ở long môn, Tên là Hà Mậu, trí khôn, ra liền. Theo cùng ông Lý Tri Niên, Từ non tùng ý(ấy) vào miền Thiên Thai. Đi đà hơn nửa tháng dài, Phút đâu lố(lộ) thấy gần ngoài động môn. Tri Niên, lừa(ngựa?) thả bên non, Cùng ngươi Hà Mậu đi lòn(luồn,trọn) cửa hang, Hai người đi khỏi cửa hang, Tới nơi động khẩu gặp chàng họ Dương. Họ Hà, họ Lý, họ Dương, Ba người gặp hỏi, mới tường tánh danh. (tr.36a) Niên rằng: Tiên cảnh rất linh, Dương Từ(Hà) đều hãy(hỡi) chút dừng(đành) lại đây. Chờ ta lên trước động mây, Lên chùa Linh Diệu thăm thầy Lão Nhan. Dương Từ nghe nói vội vàng, Thơ(thưa) rằng xin đó kẻ(đem) đàng ta đi. Niên rằng: ngươi vốn thiền sư, Tới nơi tiên cảnh cầu chi chăng là? Từ rằng: nghe tiếng đồn xa, Rằng chùa Linh Diệu một tòa ở đây. Niên rằng: Diệu Linh chùa này, Vốn không thờ Phật mà lây tới thiền. Từ rằng không Phật, có Tiên, Xin cho thấy đặng, phỉ nguyền chơi mây. Niên rằng: Hai gã ở đây, Ta xin lên trước động mây một giờ. (tr.36b) Lâu, mau, sao vậy cũng từ (chờ:viếtnhầmlà"từ"), Cho tin xuống rước kịp giờ sẽ(sãi) lên. Tri Niên vịn đá chèo lên, Tới nơi vân động gần trên mây giằng(?). Dương Từ, Hà Mậu đều mừng, Ngồi trong cửa động trách(?) lân(?) cũng nhiều. Mậu rằng: Tiếc(?) đó đi tu, E mai cửa Phật công phu lỡ làng. Ta nghe Phật ở Tây phương, Vốn người mọi rợ, luân thường chẳng ưa. Lại nghe tam đại đời xưa, Dân an, nước trị, Phật chưa bài(bày) hình, Đến năm đời Hán Vĩnh Bình, Sứ qua Thiên Trúc thỉnh kinh Phật về, Đến sau Lương Vũ rất mê, Lập chùa tượng cốt, chuyên nghề tu trai. (tr.37a) Ngụy, Trần, Tề, Tống đến nay, Đời đời nào cũng trọng thầy sa môn. Trên vua nhưng(những) dưới dân thôn, Đua nhau kính trọng(chuộng) một môn phù tằng(đồ), Quỳ(quỵ) hương, chẩn tế, nam vô. Tới lui tăng đạo, ni cô ... đàng, Bao nhiêu theo đạo Tây phương. Phước lành chửa(chưa) thấy, tai ương tới mình, Trên thời nghiêng nước nghiêng thành, Dưới thời nhà cửa tan tành xiết bao! Phật linh mấy cứu ai nào, Người nay sao hãy chọn(trọn,lòn,luồn) vào Thích gia? Từ rằng: Ngươi chớ giấu ta, Đạo nào nên trọng, nói mà nghe chơi? 茂 浪 些 重 道 ... Mậu rằng: Ta trọng đạo Trời, 典 ... ... 論 ... ... ... 蘇 Đến nay đã trọn ba đời Gia Tô. (tr.37b)(Đoạn thiếu là:) 徐 浪 ... 道 ... 蘇 Từ rằng: Theo đạo Gia Tô, ... 空 ... không sách vẻ(vẽ) nói phô(bo) miệng ... Chúa Trời đã có đức hay, Sao giang(giăng) thập ác chân tay đinh ghìm(?). Chúa bà đã có đức hiền, Sao đầu đầu(cực) ... ... liền ngồi chung. Họ Hà nghe nói động lòng, Nước mắt dòng dòng răng chớ nói chơi(?). Cảm thương đức Chúa trên trời, Ơn dân dưới đời chịu tội cho dân. Cảm thương nước thánh muôn phần, Có tội mấy lần đều rửa sạch trang(?). Từ rằng: Trời một ngọc hoàng, Ở trên thiên hạ sửa sang muôn đời. Ngươi xưng rằng đức Chúa Trời, Trời sao lại mắc vào nơi cực hình? (tr.38a) Chẳng hay ai mắc tội tình, Còn trời nào nữa hay mình do(?)di(?) Ngươi rằng nước thánh rửa đi, Sao không rửa trước để chi khổ mình? Do(?)di(?) đã mắc cực hình, Còn ai làm thánh ... ... nước cho. Tội dân trời đã chịu cho, Làm vua trong nước nào lo trị đời? Mậu rằng: Trời cứu con trời, Ai không vệ(về) đạo tội đời lỗi chết(?). Từ rằng như tiếng nói này, Chúa Trời ... ... nước Tây rõ ràng. Dân đều vệ(về) đạo Hoa Lang, Đời còn phải ... ... đường ... ai. Ta nghe bên huyện Tôn Nhai(?), Có người đạo trưởng mang tai ngồi tù. (tr.38b) Nào ... nước thánh đi đâu, Không đem rửa tội để cầu người lo. Lấy trong việc ý(ấy) mà so, Trời đông, nam, bắc khác đò trời tây.

Đoạn thiếu ở trên có lẽ do tác giả kịch liệt công kích đạo Thiên Chúa, sợ đụng chạm nên đã bị cắt đi chăng? Tôi vì muốn gìn giữ vốn chữ Nôm cổ của dân tộc mà phiên âm cả đoạn thiếu này, rất mong được sự lượng thứ của bạn đọc theo đạo Phật, đạo Thiên Chúa. Tôi hoàn toàn không có ý công kích, chê bai hay miệt thị gì trong vấn đề này. Theo thiển nghĩ của tôi, tác giả có lẽ chỉ chê bai những nhân vật của mình vì một số hiểu biết không mang tính khoa học: việc thụ thai, sự trùng lặp,... Bởi vậy, bản thân tôi rất cần sự lượng thứ của độc giả gần xa.