Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế 2017 – Việt Nam
Part 1
← Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế – Việt Nam 2016
Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế 2017 – Việt Nam  (2018)  của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ , do Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam dịch Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế – Việt Nam 2018 →
- thông tin về bản này . 
Báo cáo được công bố ngày 15 tháng 6 năm 2018.
của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ 28656 Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế 2017 – Việt Nam 2018 Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam
Cục Dân chủ, Nhân quyền và Lao động
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Tóm tắt
Hiến pháp Việt Nam quy định tất cả mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành quy định sự kiểm soát đáng kể của chính quyền đối với các hoạt động tôn giáo và có những quy định mập mờ cho phép hạn chế tự do tôn giáo vì lợi ích an ninh quốc gia và đoàn kết xã hội. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, có hiệu lực từ tháng 1 năm 2018, vẫn duy trì những hạn chế này. Luật mới tiếp tục quy định một quy trình đăng ký và công nhận các nhóm tôn giáo gồm nhiều bước; tuy nhiên, Luật đã rút ngắn thời gian để tổ chức tôn giáo được công nhận trên toàn quốc và ở cấp tỉnh từ 23 năm xuống còn 5 năm. Luật cũng quy định cụ thể quyền có tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo đã được công nhận. Có hai báo cáo về việc thành viên các nhóm tôn giáo bị chết trong khi đang bị cảnh sát giam giữ; nhà chức trách cho biết những cái chết này là do tự tử, nhưng gia đình những người đó nói rằng cái chết của họ có liên quan đến việc cảnh sát sử dụng vũ lực. Theo báo cáo, thành viên của các nhóm đã được công nhận hoặc đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo mà ít bị can thiệp hơn, mặc dù một số nhóm đã được công nhận cho biết họ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc sinh hoạt tập trung. Các chức sắc tôn giáo, đặc biệt là những người đại diện cho các nhóm chưa được công nhận hoặc chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký, cho biết chính quyền có nhiều hình thức sách nhiễu, bao gồm việc hành hung, bắt người, truy tố, theo dõi, hạn chế đi lại, thu giữ hoặc hủy hoại tài sản, từ chối đăng ký và/hoặc các yêu cầu xin phép khác. Có các báo cáo về tình trạng sách nhiễu nghiêm trọng ở Tây Nguyên và Tây Bắc và đối với tín đồ Công giáo ở Bắc Trung Bộ, nhất là ở các tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Các tín đồ tôn giáo cho biết nhà chức trách địa phương hoặc cấp tỉnh thực hiện phần lớn các vụ sách nhiễu. Thành viên các nhóm tôn giáo nói rằng một số chính quyền địa phương và cấp tỉnh sử dụng hệ thống các quy định pháp lý của địa phương và trung ương để trì hoãn, phủ nhận tính hợp pháp và trấn áp hoạt động tôn giáo của các nhóm chống lại sự quản lý chặt chẽ của chính phủ về cơ cấu lãnh đạo, chương trình đào tạo, các cuộc hội họp và các hoạt động khác của họ.
Vào tháng 9, theo báo cáo, một nhóm người có vũ trang đã phá rối một thánh lễ tại một nhà thờ Công giáo ở tỉnh Đồng Nai. Nhiều lần trong năm qua, vài trăm thành viên của các nhóm được cho là ủng hộ chính quyền đã biểu tình chống lại Công giáo ở tỉnh Nghệ An.
Trong chuyến thăm Việt Nam vào tháng 1, Ngoại trưởng sắp mãn nhiệm của Hoa Kỳ đã nêu vấn đề tự do tôn giáo trong các cuộc họp với các quan chức chính phủ cấp cao. Đại sứ và các viên chức của đại sứ quán và tổng lãnh sự quán đã hối thúc chính phủ cho phép tất cả các nhóm tôn giáo hoạt động một cách tự do, trong đó có Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, các hội thánh Tin lành và Công giáo tại gia, các nhóm Phật giáo Hòa Hảo và Cao Đài độc lập; yêu cầu trao nhiều tự do hơn cho các nhóm tôn giáo đã được công nhận; và kêu gọi chấm dứt các hạn chế và sách nhiễu đối với các nhóm tôn giáo chưa được công nhận hoặc chưa đăng ký. Đại sứ và Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại thành phố Hồ Chí Minh đã vận động cho tự do tôn giáo trong các chuyến thăm trên cả nước, trong đó có Tây Nguyên. Đại sứ và các quan chức Hoa Kỳ thường xuyên gặp gỡ và duy trì liên lạc với các chức sắc tôn giáo trên khắp cả nước. Đại sứ lưu động về Tự do tôn giáo quốc tế sắp mãn nhiệm của Hoa Kỳ đã đến thăm Việt Nam vào tháng 1. Quyền Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách các vấn đề Dân chủ, Nhân quyền và Lao động đã đến thăm Việt Nam vào tháng 5 để tham dự Đối thoại Nhân quyền Hoa Kỳ – Việt Nam thường niên. Trong các chuyến thăm này, Đại sứ lưu động về Tự do tôn giáo quốc tế và Quyền Trợ lý Ngoại trưởng đã vận động cải thiện tự do tôn giáo trong luật và trên thực tiễn, và đã gặp gỡ nhiều nhóm tôn giáo đã được công nhận và chưa được công nhận. Các viên chức sứ quán và các quan chức cấp cao của Hoa Kỳ đã gửi cho các nhà lãnh đạo chính phủ Việt Nam bản khuyến nghị về sửa đổi dự thảo các nghị định về thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong quá trình soạn thảo để các nghị định này phù hợp với Hiến pháp và các cam kết quốc tế của Việt Nam về bảo vệ tự do tôn giáo.
Phần I. Thống kê về tôn giáo
Chính phủ Hoa Kỳ ước tính dân số Việt Nam là 96.2 triệu người (tính đến tháng 7 năm 2017). Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ (Ban TGCP), 26.4% dân số được xếp vào các tín đồ tôn giáo, số này không bao gồm những người thừa nhận có một niềm tin tôn giáo hoặc tín ngưỡng nào đó, ước tính chiếm 95% dân số theo thống kê trước đây của Ban TGCP. Trong tổng dân số, 14.91% là tín đồ đạo Phật, 7.35% là tín đồ Công giáo La Mã, 1.09% là tín đồ đạo Tin lành, 1.16% là tín đồ đạo Cao Đài, và 1.47% là tín đồ Phật giáo Hòa Hảo. Dựa theo số liệu thống kê trước đây, trong cộng đồng tín đồ Phật giáo, Phật giáo Bắc Tông là tôn giáo chính của người Kinh (Việt) là dân tộc chiếm đa số, còn khoảng 1.2% dân số, hầu hết là nhóm dân tộc thiểu số Khmer, thực hành Phật giáo Nam Tông. Các nhóm tôn giáo nhỏ hơn cộng lại chỉ chiếm dưới 0.16% dân số, trong đó có khoảng 70.000 người dân tộc Chăm thực hành dòng đạo Hinđu riêng biệt ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ; khoảng 80.000 tín đồ Hồi giáo sống rải rác trên cả nước (trong đó khoảng 40% theo dòng Sunni; 60% còn lại theo dòng Bani Islam); khoảng 3.000 người theo đạo Baha’i; và xấp xỉ 1.000 người là tín đồ thuộc Giáo hội các thánh hữu ngày sau của Chúa Giê su Ki tô (hay còn gọi là Giáo phái Mặc môn). Các nhóm tôn giáo bản địa (đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Minh Sư Đạo, Minh Lý Đạo, Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội, Phật Giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn) chiếm tổng cộng 0.34%. Một nhóm nhỏ, phần lớn là người nước ngoài, theo đạo Do Thái cư trú ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Các công dân khác tự nhận mình không theo tôn giáo nào, hoặc theo các tín ngưỡng thờ linh vật, thờ cúng tổ tiên, thành hoàng làng, các vị thánh bảo hộ, các anh hùng dân tộc, hoặc những người được kính trọng ở địa phương. Nhiều cá nhân kết hợp giữa các hình thức thờ cúng truyền thống và giáo lý tôn giáo, đặc biệt là đạo Phật và đạo Thiên Chúa.
Theo Dự án Tương lai Tôn giáo Toàn cầu Pew-Templeton, năm 2015, 45.3% dân số theo “tín ngưỡng dân gian”, 16.4% theo đạo Phật và 8.2% theo đạo Thiên Chúa, còn lại 29.6% không theo tôn giáo nào.
Các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14% dân số. Dựa theo ước tính của các tín đồ, có khoảng 2/3 tín đồ Tin lành là người dân tộc thiểu số, bao gồm các nhóm ở khu vực Tây Bắc (H’mông, Dao, Thái và các dân tộc khác) và Tây Nguyên (Êđê, Jarai, Xêđăng và M’nông, trong đó có các nhóm được gọi chung là người Thượng hoặc Đề Ga). Nhóm dân tộc Khmer Krom chủ yếu theo dòng Phật giáo Nam Tông.
Phần II. Tình hình tôn trọng tự do tôn giáo của Chính phủ
Khung pháp lý
Hiến pháp quy định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bao gồm cả quyền tự do không theo một tôn giáo nào. Hiến pháp thừa nhận quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của những người bị hạn chế quyền, bao gồm tù nhân hoặc người nước ngoài và người không có quốc tịch. Hiến pháp quy định tất cả các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật và nhà nước phải tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Hiến pháp cấm công dân vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.
Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 và Nghị định 92 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này được ban hành năm 2012 là các văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh hoạt động tôn giáo. Các văn bản này sẽ được thay thế bởi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 162 hướng dẫn thi hành Luật, sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2018. Vào cuối năm 2017, một dự thảo nghị định quy định các hình thức xử phạt đối với hành vi vi phạm luật mới đang được hoàn thiện. Cả luật cũ và luật mới đều tái khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, đồng thời cũng quy định rằng các cá nhân không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh; tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, hoạt động mê tín dị đoan hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác.
Chính phủ đã công nhận 38 tổ chức tôn giáo và một pháp môn (một tập hợp các thực hành tín ngưỡng) thuộc 15 tôn giáo riêng biệt theo phân loại của Chính phủ. 15 tôn giáo đó là: Phật giáo, Hồi giáo, Bahai, Công giáo, Tin lành, Mặc môn, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo, Minh Lý Đạo Tam Tông Miếu, đạo Bà la môn Khơ me và Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn. Các hệ phái thuộc mỗi tôn giáo này phải làm thủ tục đăng ký và/hoặc công nhận riêng. Còn hai nhóm nữa là Hội thánh Phúc âm ngũ tuần và Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn đã được cấp “đăng ký hoạt động tôn giáo” nhưng chưa được công nhận.
Các quy định pháp lý hiện hành và luật mới quy định sự kiểm soát của chính quyền đối với hoạt động tôn giáo và cho phép hạn chế tự do tôn giáo vì lợi ích “an ninh quốc gia” và “đoàn kết xã hội.”
Luật mới giảm thời gian chờ đợi để một nhóm tôn giáo và nhóm (các nhóm) tôn giáo trực thuộc của nó được công nhận từ 23 năm xuống còn 5 năm, giảm số lượng các thủ tục liên quan đến tôn giáo mà yêu cầu phải có sự chấp thuận trước của chính quyền, làm rõ quy trình để các tổ chức tôn giáo được cấp đăng ký hoạt động và được công nhận, và lần đầu tiên quy định cụ thể quyền có tư cách pháp nhân của các nhóm tôn giáo đã được công nhận và các nhóm tôn giáo trực thuộc của chúng. Luật cũng quy định rằng các nhóm tôn giáo được phép tiến hành các hoạt động giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo theo quy định của pháp luật có liên quan, nhưng không quy định cụ thể luật nào được áp dụng trong trường hợp luật này có thể mâu thuẫn với các luật khác, hoặc các luật khác được dẫn chiếu lại quy định không rõ ràng, chẳng hạn như Luật Giáo dục.
Ban TGCP chịu trách nhiệm thi hành các luật và nghị định về tôn giáo. Ban Tôn giáo có hệ thống cơ quan ở cấp trung ương, cấp tỉnh, và ở một số khu vực còn có văn phòng ở cấp huyện. Các quy định pháp lý hiện hành và luật mới quy định trách nhiệm cụ thể của Ban Tôn giáo ở cấp trung ương, cấp tỉnh và cấp địa phương, và giao một số nhiệm vụ quản lý nhà nước liên quan đến tôn giáo cho ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp địa phương (tức là giao cho lãnh đạo địa phương). Ban TGCP cấp trung ương có trách nhiệm phổ biến thông tin cho các cấp chính quyền và bảo đảm thống nhất áp dụng pháp luật về tôn giáo ở các cấp tỉnh, huyện, xã và thôn.
Pháp luật hiện hành và luật mới nghiêm cấm việc ép buộc người khác theo hoặc từ bỏ một tôn giáo hoặc tín ngưỡng.
Pháp luật hiện hành quy định một quy trình gồm nhiều bước để một tổ chức tôn giáo được cấp đăng ký và công nhận. Một tổ chức tôn giáo trước tiên phải làm thủ tục xin chính quyền cấp xã cấp “đăng ký sinh hoạt tôn giáo” bằng việc nộp hồ sơ với các thông tin về cơ cấu tổ chức, ban lãnh đạo, thành viên và các hoạt động của tổ chức đó. Việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo cho phép một nhóm cá nhân tập trung tại một địa điểm xác định để “thực hành nghi lễ thờ cúng, cầu nguyện, hoặc bày tỏ niềm tin tôn giáo”. Sau khi đã hoạt động hợp pháp trong 20 năm theo đăng ký sinh hoạt tôn giáo, một tổ chức tôn giáo được phép làm thủ tục xin cấp “đăng ký hoạt động tôn giáo” tại Ban Tôn giáo cấp tỉnh hoặc cấp trung ương, tùy thuộc vào phạm vi hoạt động về mặt địa lý của tổ chức đó. Việc đăng ký hoạt động tôn giáo cho phép nhóm tôn giáo được tiến hành các cuộc lễ tôn giáo, các nghi thức tôn giáo, và giảng đạo tại địa điểm đã đăng ký; tổ chức đại hội thông qua hiến chương, điều lệ của tổ chức; bầu hoặc bổ nhiệm các chức sắc tôn giáo và tổ chức các khóa đào tạo về giáo lý tôn giáo; sửa chữa, cải tạo cơ sở tôn giáo; thực hiện các hoạt động truyền giáo, từ thiện, nhân đạo. Ba năm sau khi được cấp đăng ký hoạt động tôn giáo, tổ chức tôn giáo đủ điều kiện xin được công nhận về mặt pháp lý sau khi bầu ban lãnh đạo thông qua hội nghị toàn quốc. Hồ sơ đề nghị công nhận phải có thông tin về ban lãnh đạo của tổ chức, số lượng tín đồ, quá trình hoạt động, giáo lý, giáo luật và điều lệ của tổ chức. Theo pháp luật hiện hành, hồ sơ đề nghị công nhận phải được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (đối với tổ chức tôn giáo hoạt động trong nhiều tỉnh) hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (đối với tổ chức tôn giáo hoạt động trong phạm vi một tỉnh).
Ở mỗi bước của quy trình xin đăng ký và công nhận, pháp luật hiện hành quy định cụ thể thời hạn trả lời, tối đa là 45 ngày, tùy thuộc vào phạm vi đề nghị. Mặc dù pháp luật yêu cầu chính quyền phải có giải thích chính thức bằng văn bản nếu từ chối hồ sơ, nhưng việc từ chối có thể vì bất kỳ lý do gì, bởi pháp luật trao cho các cơ quan nhà nước phạm vi quyền hạn quyết định rất rộng.
Luật mới cũng quy định một quy trình gồm nhiều bước để một tổ chức tôn giáo được công nhận. Theo luật mới, trước tiên, một tổ chức tôn giáo chưa được công nhận phải được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo bởi Ban Tôn giáo cấp tỉnh (nếu tổ chức sẽ chỉ hoạt động trong phạm vi một tỉnh) hoặc Ban Tôn giáo cấp trung ương (nếu tổ chức sẽ hoạt động trong nhiều tỉnh). Để được cấp đăng ký, tổ chức tôn giáo phải nộp một bộ hồ sơ chi tiết với thông tin về giáo lý, quá trình hoạt động, điều lệ, ban lãnh đạo, thành viên và minh chứng về việc có địa điểm hội họp hợp pháp. Ban Tôn giáo cấp tỉnh có thẩm quyền hoặc Bộ Nội vụ, tùy thuộc vào việc tổ chức tôn giáo xin cấp đăng ký đang hoạt động ở một hay nhiều tỉnh, có trách nhiệm chấp thuận hồ sơ đăng ký hợp lệ trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ. Ban Tôn giáo cấp tỉnh có thẩm quyền hoặc Bộ Nội vụ phải trả lời bằng văn bản nếu từ chối cấp đăng ký.
Theo luật mới, các tổ chức tôn giáo được cấp chứng nhận đăng ký (“các tổ chức tôn giáo đã đăng ký”) được phép giảng đạo, tổ chức các cuộc lễ tôn giáo và tổ chức các lớp học tôn giáo tại các địa điểm đã được phê duyệt; tổ chức hội nghị để thông qua hiến chương và điều lệ của tổ chức; bầu hoặc bổ nhiệm ban lãnh đạo; sửa chữa, cải tạo cơ sở tôn giáo; thực hiện các hoạt động từ thiện, nhân đạo. Tuy nhiên, theo luật mới, nhiều hoạt động tôn giáo vẫn phải được các cơ quan nhà nước chấp thuận trước hoặc được đăng ký. Luật mới quy định rằng tất cả các hoạt động đó còn phải tuân thủ các luật khác về xây dựng và về hoạt động từ thiện.
Luật mới cho phép một tổ chức tôn giáo làm thủ tục xin được công nhận sau khi đã hoạt động liên tục trong ít nhất năm năm có đăng ký hợp pháp, đã có hiến chương và điều lệ hợp pháp, ban lãnh đạo có lý lịch tốt và không có án tích, nhân danh mình quản lý tài sản và thực hiện các giao dịch với tư cách một thực thể độc lập. Sau khi đáp ứng các điều kiện trên, tổ chức tôn giáo đã đăng ký phải nộp một bộ hồ sơ chi tiết cho Ban Tôn giáo cấp tỉnh hoặc cấp trung ương, phụ thuộc vào phạm vi hoạt động về địa lý của tổ chức đó. Hồ sơ phải bao gồm thông tin về cơ cấu tổ chức, thành viên, địa điểm hoạt động, quá trình hoạt động, hiến chương và các vấn đề tài chính. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền hoặc Bộ Nội vụ có trách nhiệm chấp thuận hồ sơ đề nghị công nhận hợp lệ trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền hoặc Bộ Nội vụ phải trả lời bằng văn bản nếu từ chối hồ sơ.
Theo pháp luật hiện hành, chính phủ giám sát các nhóm tôn giáo, các nhóm này phải được đăng ký chính thức hoặc được công nhận là tổ chức tôn giáo chính thức. Pháp luật hiện hành quy định rằng chính quyền phải chấp thuận ban lãnh đạo, hoạt động và việc thành lập các cơ sở đào tạo tôn giáo hay việc mở các lớp học tôn giáo, và yêu cầu các tổ chức tôn giáo phải đăng ký các chức sắc và nhà tu hành với Ban TGCP hoặc Ban Tôn giáo cấp tỉnh. Pháp luật hiện hành quy định cụ thể hướng dẫn về chương trình học đối với các cơ sở đào tạo tôn giáo.
Theo pháp luật hiện hành và theo luật mới, các tổ chức tôn giáo có quyền xuất bản các tài liệu tôn giáo, sản xuất và xuất khẩu các vật phẩm và biểu tượng tôn giáo, xây dựng và duy trì các cơ sở tôn giáo, nhận tài trợ từ các nguồn trong nước và nước ngoài. Cả luật hiện hành và luật mới đều ám chỉ, nhưng không cụ thể, rằng các quyền này chỉ áp dụng đối với các tổ chức tôn giáo đã được công nhận. Các tổ chức tôn giáo còn phải tuân thủ các luật khác về xuất bản.
Pháp luật hiện hành không quy định cụ thể về việc tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân hay không. Tuy nhiên, luật mới khẳng định rằng một tổ chức tôn giáo đã được công nhận sẽ có địa vị pháp lý của một “pháp nhân phi thương mại” kể từ ngày được công nhận. Không có quy định nào về việc tổ chức tôn giáo đã đăng ký nhưng chưa được công nhận có thể có tư cách pháp nhân. Các tổ chức đã được công nhận trước khi luật mới có hiệu lực sẽ tiếp tục được công nhận và các tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng ký trước khi luật mới có hiệu lực sẽ giữ nguyên chứng nhận đăng ký đó. Tổ chức tôn giáo trực thuộc của một tổ chức tôn giáo đã được công nhận được phép xin cấp đăng ký pháp nhân riêng.
Luật mới quy định rõ rằng các tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, nhà tu hành và tín đồ có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án dân sự, vụ án hành chính, hoặc tố cáo (khiếu nại chính thức về cán bộ hoặc cơ quan nhà nước) theo các luật và nghị định có liên quan. Luật mới cũng quy định rằng các tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án dân sự tại tòa án về hành vi của các nhóm tôn giáo hoặc các tín đồ tôn giáo. Trong pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể tương tự.
Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ năm 2005 về một số công tác đối với đạo Tin lành đã chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền giúp đỡ đăng ký các hội thánh Tin lành chưa được công nhận và chưa được đăng ký để họ có thể công khai sinh hoạt đạo và tiến tới được công nhận. Chỉ thị chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền ở Tây Nguyên và Tây Bắc giúp đỡ các nhóm tín đồ Tin lành đăng ký hoạt động tôn giáo và sinh hoạt đạo tại gia đình hoặc tại “địa điểm thích hợp”, ngay cả khi họ không đáp ứng các tiêu chí để thành lập hội thánh chính thức. Chỉ thị cũng chỉ đạo các cán bộ địa phương ở Tây Nguyên, khu vực miền Trung và phía nam dãy Trường Sơn cho phép “các nhà thờ tại gia” chưa đăng ký được hoạt động với điều kiện họ “cam kết tuân thủ các quy định của pháp luật” và không gắn với các phong trào chính trị ly khai hoặc “đạo Tin lành Đề Ga”. Theo các quan chức Ban TGCP, Chỉ thị này sẽ không còn hiệu lực khi luật mới có hiệu lực.
Pháp luật hiện hành và luật mới đều quy định một quy trình riêng để các tổ chức tôn giáo chưa đăng ký, chưa được công nhận hoặc các nhóm cá nhân được phép tiến hành một số hoạt động tôn giáo cụ thể bằng cách nộp hồ sơ cho ủy ban nhân dân cấp xã. Pháp luật hiện hành yêu cầu ủy ban nhân dân phải trả lời bằng văn bản về hồ sơ đó trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, còn luật mới yêu cầu ủy ban nhân dân trả lời bằng văn bản trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ.
Pháp luật hiện hành và luật mới quy định nhiều hoạt động tôn giáo phải được chính quyền trung ương và/hoặc địa phương chấp thuận trước hoặc được đăng ký. Theo luật mới, các hoạt động này vẫn bao gồm “các hoạt động tín ngưỡng” (được định nghĩa là các sinh hoạt làng xã truyền thống liên quan đến thờ cúng tổ tiên, các vị anh hùng, thờ cúng dân gian); “lễ hội tín ngưỡng” được tổ chức lần đầu; thành lập, chia, tách, sáp nhập các tổ chức tôn giáo trực thuộc; phong phẩm, bổ nhiệm, hoặc suy cử các chức việc ( người có chức vụ trong tổ chức)); thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo; tổ chức các lớp bồi dưỡng về tôn giáo; tổ chức đại hội tôn giáo; tổ chức các sự kiện tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo bên ngoài các địa điểm đã được phê duyệt; đi ra nước ngoài để tiến hành các hoạt động tôn giáo hoặc đào tạo; tham gia tổ chức tôn giáo nước ngoài.
Theo pháp luật hiện hành, một số hoạt động tôn giáo không buộc phải được chấp thuận trước, nhưng phải thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Các hoạt động phải thông báo bao gồm “các lễ hội tín ngưỡng” thường xuyên hoặc theo định kỳ; cách chức, bãi nhiệm chức sắc; tiến hành các hoạt động quyên góp; thông báo về số lượng tuyển sinh tại chủng viện hoặc trường học tôn giáo; sửa chữa, cải tạo cơ sở tôn giáo không phải là di tích lịch sử-văn hóa. Theo luật mới, các hoạt động khác phải thông báo mà không cần được chấp thuận trước bao gồm phong phẩm, bổ nhiệm, suy cử chức sắc, (chẳng hạn hòa thượng); thuyên chuyển, cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc (người có chức vụ trong tổ chức); thực hiện các hoạt động tại cơ sở đào tạo tôn giáo đã được phê duyệt; các hoạt động tôn giáo thường xuyên (được định nghĩa là “truyền bá tôn giáo, thực hành giáo lý, lễ nghi tôn giáo và quản lý tổ chức tôn giáo”); và các hội nghị nội bộ của tổ chức tôn giáo.
Luật mới quy định tù nhân được tiếp cận các tài liệu tôn giáo trong khi bị giam giữ với các điều kiện nhất định. Luật bảo lưu quyền của chính phủ trong việc hạn chế “bảo đảm” quyền này. Nghị định 162 quy định rằng người bị giam giữ có thể sử dụng các tài liệu tôn giáo được xuất bản và lưu hành hợp pháp, phù hợp với các quy định pháp luật về tạm giữ, tạm giam, phạt tù hoặc các hình thức giam giữ khác. Việc sử dụng và/hoặc sinh hoạt này không được ảnh hưởng đến quyền có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo của những người khác và không được trái với các luật có liên quan. Nghị định quy định rằng Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm hướng dẫn việc quản lý các tài liệu tôn giáo, thời gian, địa điểm sử dụng các tài liệu này.
Luật mới quy định các nhóm tôn giáo đã được công nhận và “các cá nhân có quyền, nghĩa vụ liên quan” có quyền khiếu nại, khởi kiện vụ án hành chính, khởi kiện vụ án dân sự, hoặc nộp đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự tại tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của các luật có liên quan.
Pháp luật hiện hành và luật mới quy định các tổ chức tôn giáo phải tuân thủ nhiều luật khác đối với một số hoạt động nhất định. Pháp luật hiện hành và luật mới đều quy định cụ thể rằng các tổ chức tôn giáo được phép tiến hành các hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện, nhân đạo theo quy định của các luật có liên quan, nhưng không quy định rõ hoạt động nào là được phép. Ngoài ra, cả luật hiện hành và luật mới quy định rằng việc xây dựng hoặc cải tạo các cơ sở tôn giáo phải tuân thủ các luật và quy định có liên quan về xây dựng, và người nước ngoài tham gia các hoạt động tôn giáo phải tuân thủ pháp luật về nhập cảnh.
Pháp luật hiện hành và luật mới quy định việc xuất bản, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu các kinh sách tôn giáo phải tuân thủ các luật và quy định có liên quan đến xuất bản. Luật xuất bản quy định mọi nhà xuất bản phải là các tổ chức công đã được cấp phép hoặc là doanh nghiệp nhà nước. Các nhà xuất bản phải được chính phủ phê duyệt trước khi xuất bản tất cả các ấn phẩm, trong đó có các kinh sách tôn giáo. Theo quy định trong nghị định, chỉ Nhà xuất bản Tôn giáo mới có thể xuất bản sách tôn giáo. Các nhà xuất bản đã được phép in Kinh thánh bằng tiếng Việt và nhiều ngôn ngữ khác, bao gồm tiếng Trung, Ê đê, Jarai, Banar, M’nông, H’mông, C’ho và tiếng Anh. Các ấn phẩm khác bao gồm nhưng không giới hạn ở các ấn phẩm liên quan đến thờ cúng tổ tiên, đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Hồi và đạo Cao Đài. Bất kỳ nhà sách nào cũng có thể bán kinh sách tôn giáo và các tài liệu tôn giáo khác đã được xuất bản một cách hợp pháp.