Về bài phê bình sách "Nho giáo"

Part 2

Chapter 23,066 wordsPublic domain (Wikisource)

Trong sách Đông Tây văn hóa cập kỳ triết học của Lương Thốc Minh [ 10 ] cũng nhận cho trực giác là lương tri. Lương nói rằng “Đến đời Minh, Dương Minh tiên sanh dấy lên, mới trừ cái tệ cùng lý theo bề ngoài mà đổ về cái cội trực giác, tức Dương Minh kêu là lương tri”. Thế nhưng Lương nói rõ cái trực giác tức là cái lương tri của Vương Dương Minh [ 11 ]  ; chỗ đó tôi chưa nghiên cứu kỹ lắm nên chưa dám quyết là trúng hay trật. Chí như Trần tiên sanh nói lương tri trổng, tôi phải nhận là lương tri của Mạnh Tử, thì tôi quyết rằng không phải là trực giác vậy.

Đến Trần tiên sanh cho lý trí là cái trí xuyên tạc, thì tôi phải chịu là không thể hiểu. Tiên sanh đã nói rằng chữ lý trí không có trong sách nho, vậy thì làm sao mà biết nó tức là cái trí xuyên tạc của người như lời Mạnh Tử được ư ? Chỗ nầy dễ thấy lắm. Ví như có người nói rằng : Thứ xà bong bây giờ ta dùng mà giặt đó, ngày xưa không có trong xứ An Nam ; rồi lại nói rằng xà bong tức là chùm-kết [ 12 ] , thì thiệt là võ đoán quá!

Huống chi, chữ lý trí, tiên sanh đã nhìn cho là bởi chữ raison dịch ra, mà raison, theo tự vị Pháp giải là : “Faculté au moyen de laquelle l’homme peut connaitre et juger.” Vậy thì làm sao gọi được là cái trí xuyên tạc ? Xuyên tạc, hơi giống tiếng ta là xiên xỏ ; chữ raison lại còn sanh ra trạng từ (adjectif) là raisonnable ; vậy nếu khi nói l’homme est un être raisonnable, và theo như tiên sanh, thì nên cắt nghĩa rằng người ta là giống hay xiên xỏ hay sao ? Thiệt là chỗ nầy Trần tiên sanh đã nói một cách rất ly kỳ !

Lý trí do hai chữ Tàu gộp lại, nghĩa là cái trí để nhận biết và phán đoán mà lại theo lý nữa ; cứ nội mặt chữ đó mà nói cũng đủ chứng rằng lý trí không phải là cái trí xuyên tạc. Mà cái trí xuyên tạc thì là cái trí xuyên tạc, chẳng những không tức là lý trí mà lại phản đối với lý trí nữa kia.

Do các lẽ trên đó, bây giờ đây tôi vẫn còn chủ trì cái thuyết trước của tôi, tôi nói lương tri không phải là trực giác ; và nói thêm rằng lý trí không phải là cái trí xuyên tạc. Bởi vì những lời biện luận của Trần quân chưa đủ đánh đổ được cái thuyết ấy của tôi.

Chúng ta cãi với nhau từng lời từng chữ như vầy chắc có kẻ cho là vụn vặt không xứng đáng. Song tôi đã nói : “Những danh từ triết học là lợi khí cho ta dùng mà nghiên cứu, nếu dùng sai đi thì nó sẽ đưa ta đến chỗ sai lầm”. Lại theo luận lý học, cái bước đầu cũng phải lấy sự tế nhận danh từ và mạng đề làm trọng, như tôi đã nói ở đoạn trước ; vậy thì sự phân biệt những chữ nầy đây là việc quan hệ không thể bỏ qua được, điều đó hẳn tiên sanh cũng phải nghĩ như tôi.

3. Về điều trung dung thì tôi chỉ nói, theo Khổng Tử thì trung dung là khó, mà theo Trần quân thì trung dung là dễ, hai đàng trái nhau mà thôi, chớ tôi có hề nói “Khổng Tử không dạy người ta theo đạo trung dung” đâu mà Trần quân đem câu ấy hỏi vặn tôi ? Tôi nói trung dung khó, là tôi nói theo Khổng Tử, tôi có dẫn nhiều lời ngài ra làm chứng, mà Trần tiên sanh bác lại tôi, chẳng thấy đả động tới những lời ấy. Ở nơi khác tôi có trách ngài như vầy thì có : “Một cái lẽ mà : thiên hạ quốc gia có thể quân bình được, tước lộc có thể từ đi được, gươm đao có thể xông vào được, chớ không thể làm theo nó được, duy ông thánh mới làm theo nó được, đã khó như vậy, thì còn bày ra làm chi ?” [ 13 ]  Cái lẽ đã khó như vậy, còn đem mà đề xướng lên, rồi người ta theo không đúng, trở thành ra hương nguyện. Thật như lời Trần quân nói, vì tôi thấy có lắm kẻ lấy trung dung làm hộ phù mà sở hành là hương nguyện nên tôi biểu bỏ, và xướng lên cái thuyết cực đoan ; nếu có ai trách tôi vì giận rận đốt áo thì tôi cam chịu. Song cũng xin cho tôi nói một câu cho hết lẽ rằng : hễ còn để cái áo ấy hoài thì còn có rận hoài.

Nguyên cái bài của tôi là bài phê bình sách Nho giáo. Phận sự của tôi chỉ là soát lại sách Nho giáo nói về trung dung có đúng với trung dung của Khổng Tử không, thế thôi ; chớ còn bổn thân cái trung dung nó ra làm sao, tôi đã chịu rằng không thể đem mà nói ở đó. Cho nên những câu nói về ý kiến của tôi đối với trung dung, chẳng qua là đới thuyết. Vậy mà tiên sanh lại nhè chỗ đó biện luận cho thêm rườm rà, còn cái sự một đằng nói khó, một đằng nói dễ, là chỗ cốt ý của tôi, thì hình như tiên sanh không chú ý mấy. Bởi vậy, về điều nầy tôi cũng chưa có thể phục những lời bác luận của tiên sanh.

4. Về điều Khổng giáo với khoa học, Trần tiên sanh cũng đã nói lệch với cái nguyên ý của tôi. Nguyên ý của tôi chỉ có như vầy : Ở nước ta bây giờ đây, có nên theo khoa học hay không ? Không, thì thôi ; nếu nên theo thì những điều gì của Khổng giáo ta vẫn tin xưa nay mà trái với khoa học thì ta phải bỏ. Chớ tôi chẳng hề trách Khổng giáo sao không chủ ý đến khoa học mà tiên sanh phải cắt nghĩa cho phiền.

Về chỗ Khổng giáo trái với khoa học, trong bài phê bình của tôi, không thể chỉ rõ ra được, cho nên tôi nói lược rằng : “Đại để Khổng giáo chỉ nói cái lẽ đương nhiên mà không nói đến cái lẽ sở dĩ nhiên, bảo người ta phải làm như vậy mà không cắt nghĩa cho người ta tại làm sao phải làm như vậy. Về chỗ đó, Trần tiên sanh dẫn lời tôi rồi cắt nghĩa tại làm sao mà thôi, chớ không bác tôi được. Vậy thì tiên sanh cũng đồng ý với tôi chỗ đó. Vậy thì chỗ đó, chỗ Khổng giáo không nói đến cái lẽ sở dĩ nhiên đó, là chỗ trái với khoa học. Vì khoa học dạy người ta phải tìm đến cái lẽ sở dĩ nhiên.

Nhớ đâu nói đó, tôi xin kể ra lấy một câu. Trong Luận ngữ, có lần Diệp Công hỏi việc chánh, ngài đáp rằng : “Cận giả duyệt ; viễn giả lại.” [ 14 ] Như những chỗ ấy, chỉ nói về quả mà không nói đến nhân : biểu làm sao cho “kẻ gần đẹp, kẻ xa về”, mà không dạy cho cái phương thế (moyen), thì dầu chính Trần tiên sanh cũng không nghe được, chớ đừng nói khoa học.

Tôi nói Khổng giáo có nhiều điều trái với khoa học. Trần tiên sanh nói không rõ những điều ấy là điều gì. Vậy tôi xin cử ra lấy một điều, là cái thuyết “minh đức tân dân”.

Sách Đại học, theo Chu Tử thì có ba cái cương lãnh là minh đức, tân dân, chỉ chí thiện ; rồi có tám cái điều mục, mà tóm tắt lại là tu thân, trị quốc, bình thiên hạ. Tu thân về phần minh đức, trị bình về phần tân dân. Cái thuyết của sách Đại học đây, đại ý là : trước hết mình phải tu thân cho nên người trọn vẹn, rồi lấy mình mà cảm hóa mọi người từ gần đến xa, tức là do nhà ra nước, ra thiên hạ, theo như sách ấy dạy rằng : “Người quân tử chẳng ra khỏi nhà mà làm nên giáo hóa trong nước ; chưa hề có ai học nuôi con rồi sau mới gả lấy chồng.”

Khoa học trọng chứng cứ và thiệt nghiệm. Cái thuyết minh tân chỉ là một cái lý tưởng cao siêu, chớ đem mà đối chiếu với lịch sử thì không thể chứng nghiệm là thiệt được. Theo khoa học ngày nay, chánh trị học hay là xã hội học cũng đều không nói như vậy ; nên tôi nói là trái nhau. Huống chi, theo các việc người Tây hiện làm bây giờ, chẳng có việc gì không học mà làm được ; vậy mà bảo cứ minh đức rồi thì tân dân được ngay, như đàn bà không học nuôi con cũng lấy chồng được ngay, thì chẳng là tương phản là gì?

Trần tiên sanh nói : Dầu có những điều trái nhau ấy nữa chẳng qua là Khổng tử nói những điều thích hạp với cái trình độ của người đời Xuân thu ; rồi tiên sanh lại nói trong Khổng giáo có cái nghĩa tùy thời. Nếu vậy thì hai ta thôi còn biện bác nhau chi nữa ? Xã hội đời Xuân thu là cái xã hội tông pháp, thì ngài xướng cái nghĩa minh đức tân dân là phải, còn cái xã hội ngày nay, thiên hạ xu xướng về tự do bình đẳng, tự nhiên phải bỏ cái nghĩa minh đức tân dân. Sự biến đổi ấy chẳng qua là tùy thời, chẳng có lạ gì hết, cũng như hồi Xuân thu, con gái không học nuôi con, cứ việc gả lấy chồng ; còn đời nay, trước khi lấy chồng, các cô phải học nuôi con đã.

Về sự cái thuyết minh đức tân dân trở ngại cho khoa học thế nào, trong bài Cái ảnh hưởng của Khổng giáo ở nước ta , tôi nói rõ lắm. Tôi cho là hễ chúng ta còn cái quan niệm ấy ở trong đầu thì nó chèo kéo với khoa học, không sao theo khoa học được, cho nên tôi bảo phải cạo đi cho sạch.

Cái đại ý của Trần tiên sanh chỉ có muốn người mình theo khoa học mà đừng bỏ cái tâm học của mình. Còn theo tôi thì cái tâm học của mình tôi cũng không bỏ, duy tôi chọn ra từng cái, cái nào không thích hợp thì tôi bỏ. Như cái thuyết của Đại học mới nói trên đây, về sự tu thân, gồm những chánh tâm, thành ý, thì tôi không bỏ ; song đem cái sự tu thân ấy nhập với trị quốc bình thiên hạ, cho rằng hễ minh đức được, tức là tân dân được, thì tôi nhận là trái với khoa học đời nay, tôi khuynh hướng về khoa học, tự nhiên tôi phải bỏ đi, tôi không tin như vậy nữa.

Tôi biết rằng về chữ khoa học đây, Trần tiên sanh dùng theo nghĩa hẹp, còn tôi dùng theo nghĩa rộng, nên cái mũi nhọn hai bên không đối nhau cho lắm. Song sự đó, tôi cho là vô hại, vì cái ý kiến của tiên sanh với của tôi nó khác nhau là khác từ gốc kia.

Đây sắp xuống tôi theo chữ khoa học nghĩa hẹp như tiên sanh mà nói một ít nữa.

Tiên sanh nói bên Tây có nhiều nhà thức giả chán nản khoa học. Sự đó tôi vẫn biết, thật có một phần rất ít như vậy. Lấy đại thể cả Âu Mỹ mà nói, thì phần rất ít ấy có ăn thua vào đâu ? Huống chi dầu có vậy đi nữa, thì cũng tại họ đã thừa rồi họ mới chán nản ; còn mình chưa có mà lại cần có, thì thế nào cũng phải đeo đuổi theo mới đặng. Mình ưng đi xe hỏa cho mau, thắp đèn điện cho sáng, thì ai cho phép mình chán nản khoa học được ư ? Nếu có ai phản đối khoa học thì xin làm như cái ông đi đất ở trần mà kéo vải kia ; còn như phóng ô tô, đứng trong một chỗ diễn đàn rực rỡ, dưới chân lót mã nhục, trên đầu tréo qua tréo lại những dây kết hoa, quạt máy chạy tít, đèn điện sáng choang, mà diễn thuyết phản đối khoa học thì tôi xin lạy !

Tiên sanh lại nói : “Ta nay thấy người cường thạnh, thì ai ai cũng háo hức theo người, biết đâu rằng cái cường thạnh ấy lại không có cái nguy cơ nằm sẵn đó rồi”. Tiên sanh cứ hay dùng chữ “biết đâu” thiệt tôi không chịu. Nhưng biểu lấy đại ý thì chỗ nầy chắc tiên sanh muốn đổ tội khoa học về cuộc đại chiến 1914-1918 mà hô lên rằng “Khoa học phá sản” như nhiều kẻ khác đó chi ? Nếu kéo dài ra đến chuyện nầy thì khó mà một vài lời cho hết lẽ được, xin để khi khác.

5. Về điều quân quyền với chủ quyền thì tôi tưởng trong lời phê bình của tôi đã rõ ràng lắm, Trần tiên sanh bác lại, dầu tôi không phục cũng phải làm thinh, vì chẳng biết còn lời chi nói cho rõ hơn nữa ! Tôi nhớ hồi Khương Hữu Vi chủ trương cái thuyết lấy Khổng giáo làm quốc giáo (religion nationnale) cho nước Tàu, cũng có nói từa tựa như Trần tiên sanh đây, cũng nói quân quyền tức là chủ quyền ; song cái việc sờ sờ trước con mắt mà cắt nghĩa ra như vậy, thật tôi đến chết cũng không hiểu !

Nay tôi chỉ nói thêm rằng : Dầu cái quân quyền mà Trần tiên sanh nói đó có tức là chủ quyền chăng nữa, là cái thuyết trung quân của Khổng Tử cũng không có thể dung được trong các nước dân chủ ngày nay. Khổng Tử trong ba tháng không có vua thì ra tuồng băn khoăn [ 15 ]  ;  vào cửa vua thì cúi mình xuống, dường như chẳng lọt ; đi ngang qua cái ngai không, sắc mặt cũng xửng vửng ; lên nền nhà, nín hơi như chẳng thở [ 16 ] : những cái kiểu đó chẳng còn xài được cho một người nào ở nước Pháp, nước Mỹ, cho đến nước Tàu ngày nay.

Nói chi thì nói chớ chữ “souverain peuple” trong tiếng Pháp, xin tiên sanh có dịch cũng dịch là “dân chủ” cho người ta dễ nghe ; nếu theo ý tiên sanh dịch là “dân quân”, tôi thì chịu được, song có điều khí lạ tai nhiều người một chút !

Lại xin nói một câu nữa cho hết ý : Nếu cái nghĩa trung quân của Khổng Tử cũng tức là trung với chủ quyền như tôi nói về sự nhân dân các nước dân chủ trung với hiến pháp, thì cái nghĩa ấy lại thông hành ở đời nay được, song thế nào cũng phải đổi chữ “quân” làm chữ “chủ” cho khỏi hiểu lầm.

Tóm lại, Trần tiên sanh bác lại tôi cọng cả là sáu điều, trừ ra một điều về hữu thần vô thần, tôi xin bái giáo tiên sanh, còn năm điều tôi liệt ra trên đây, tôi chưa phục vì những cớ tôi đã chỉ ra đó.

Trước kia tôi có cử ra ba điều nghị luận của Mạnh Tử không hiệp với luận lý học ; mà cách nghị luận của Trần tiên sanh trong năm điều đây có hơi giống của Mạnh Tử điều thứ hai và thứ ba. Nói rõ ra, ấy là biến canh luận điểm (changement de point) và không tế nhận danh từ (terme) cũng mạng đề (proposition). Bởi vậy tôi xin nhắc lại cho tiên sanh và xin tiên sanh nói chuyện cùng tôi trong vòng luận lý học. Lần nầy cũng như lần trước tôi chỉ có một tấm lòng ngay thật.

PHAN KHÔI

   

Chú thích

- ▲ M.Logique  : tức là gọi là Ngài Lôgich (M. là viết tắt từ Monsieur = Ngài) ; về sau Tr.Tr.Kim đáp rằng Logique trong tiếng Pháp là danh từ giống cái (féminin), cho nên nếu muốn thì phải gọi bằng Cô (Mademoiselle ; viết tắt : Melle).

- ▲ Kinh Thi có câu : “Bỉ quân tử hề, thiện hí hước hề, bất vi ngược hề”. Nghĩa là : Kìa là người quân tử, khéo bông đùa mà chẳng đến nỗi làm hại ai (nguyên chú của Phan Khôi).

- ▲ Amphibologie lại khác với équivoque . Trong luận lý học cũng có một điều nữa kêu bằng Erreurs d’équivoques , nghĩa là “sự mậu vọng về kỳ nghĩa” (nguyên chú của PK).

- ▲ mậu vọng  : dối trá, huyễn hoặc (theo H.T. Paulus Của, sđd.)

- ▲ Giả ngôn suy lý hay nói là Tam đoạn luận suy lý cũng được, chữ sau theo tiếng Pháp là Syllogisme hypothetique (nguyên chú của PK).

- ▲ Viên Mai tức Viên Tử Tài, hiệu Tùy Viên, một nhà văn học đời Thanh. Lời đây thấy trong bài “Luận ngữ giải tứ thiên” ở Tùy Viên văn tập (nguyên chú của PK).

- ▲ độn từ  : nghĩa như tiếng Pháp faux-fuyant, - lời thoái thác khi cùng lý hết lời (theo Đào Duy Anh, sđd.).

- ▲ Mạnh Tử có lần nói rằng : “Ngã tri ngôn”, và rằng : “Độn từ tri kỳ sở cùng” (nguyên chú của P.K.).

- ▲ Nguyên văn : “ngũ xích chi đồng”. Nghĩa là đứa con nít trạc nó vắn chừng năm thước. Ta phải hiểu rằng thước bên Tàu đời xưa vắn hơn thước ta bây giờ (nguyên chú của PK).

- ▲ Tức là Lương Thấu Minh (1893-1988) học giả Trung Quốc.

- ▲ Vương Dương Minh tức Vương Thủ Nhân (1472 – 1528) triết gia Trung Quốc thời Minh.

- ▲ Chùm kết , theo tiếng Bắc là bù kết  ; và xà-bong (savon) , tiếng Bắc là xà phòng (nguyên chú của PK).

- ▲ Thấy trong bài Cái ảnh hưởng Khổng giáo ở nước ta của tôi đăng ở Thần chung năm ngoái (nguyên chú của PK).

- ▲ Thiên Tử Lộ , XIII.

- ▲ Thấy trong sách Mạnh Tử (nguyên chú).

- ▲ Luận ngữ , Hương đảng, X (nguyên chú).