Về bài phê bình sách "Nho giáo"
Part 1
Về bài phê bình sách "Nho giáo"  (1930)  của Phan Khôi
- thông tin về bản này . 
Bài đăng trên Phụ nữ tân văn , Sài Gòn, số 63 (31.7.1930) và số 64 (7.8.1930)
22625 Về bài phê bình sách "Nho giáo" 1930 Phan Khôi
Mời Trần Trọng Kim tiên sanh đi với Khổng Tử Mạnh Tử đến nhà M.Logique chơi, tại đó, chúng ta sẽ nói chuyện
  Trước kia tôi có bài phê bình cuốn sách Nho giáo của Trần Trọng Kim tiên sanh , kế đó tiên sanh có viết một bài mà thương xác cùng tôi , cả hai đều được đăng trong Phụ nữ tân văn số 54 và số 60. Mới rồi tôi lại viết một bài đăng ở số 62 , cảm ơn tiên sanh về sự mở đường cho cuộc luận biện về học vấn ; còn cái lý thuyết của tiên sanh trong bài ấy thế nào, tôi chưa nói đến.
Lẽ thì trong bài nầy tôi phải nói sáng ra cái lý thuyết của Trần tiên sanh đã dùng mà duy trì cho cái nguyên ý của mình mà biện chiết tôi đó là thế nào, tôi có phục tình hay là không phục. Vì trong sự học vấn phải giữ cái thái độ quang minh chánh đại, khi người ta bẻ bác mình, mình còn có lẽ nói lại thì đem mà nói lại, mình hết lẽ thì phải tỏ ý chịu cái thuyết của người ta đi ; nói cho rõ ra, hễ thua thì chịu thua, chớ không được làm cái thói trù trơ ấp úng cho qua việc. Tôi lại cũng biết rằng sự cãi nhau về học vấn chẳng qua là sự binh vực cho chơn lý, thế thì dầu tiên sanh có hơn mà tôi có thua đi nữa, cái đó cũng chẳng đủ làm cho kẻ vui người buồn giữa đôi ta ; và nếu tôi là kẻ biết điều, thì tôi cũng lại nên đừng buồn nữa, mà phải lấy sự chơn lý đắc thắng làm vui.
Tuy vậy, đọc bài của Trần quân vừa rồi, tôi chưa có thể nói cho dứt khoát như vậy được.
Trong bài đó tôi nhận ra phần nhiều Trần quân nói không trúng vào những cái chỗ yếu điểm trong bài phê bình của tôi. Hay là nói một cách khác, bài ấy có nhiều chỗ như tiên sanh đã dùng mà biện bác với ai, chớ không phải với tôi, bởi vậy tôi chưa có thể nhờ đó mà biết được cái thuyết của tôi là quấy hay là phải.
Vì đó, tôi phải viết ra đây mà thỉnh giáo tiên sanh lần nữa. Tôi xin mời tiên sanh cùng đi với nhị vị thánh hiền đã nói trên kia đến nhà M.Logique [ 1 ] chơi, rồi chúng ta sẽ nói chuyện với nhau tại đó.
Cái giọng nói của tôi hay pha bông lơn như vậy, xin Trần tiên sanh với độc giả liệt vị cũng đừng trách làm chi. Tôi sẵn có cái tánh hay bông đùa, mà lâu nay lại khuynh hướng về cái lạc thiên chủ nghĩa (optimisme) ; tôi về chỗ đó, dầu trái hẳn với cô Kiều mà cũng nói được “Rằng quen mất nết đi rồi, tẻ vui âu cũng tánh trời, biết sao !” Huống chi những bài có vẻ trang nghiêm như những bài luận học nầy, tôi e nhốt mình vào đó thì buồn quá và cũng làm buồn đến độc giả nữa, nên trộm phép mà “hí hước” chút chơi, miễn sao cho “bất vi ngược” như người “quân tử” trong kinh Thi là được. [ 2 ]
Tôi nói mời đến nhà M.Logique chơi, ý là muốn Trần tiên sanh cùng tôi nói chuyện với nhau trong vòng luận lý học. Theo thường tình, tôi đòi cái đó thiệt là to gan quá !
Vả chăng, Trần quân là nhà Tây học, dầu có khuynh hướng về Nho giáo đi nữa, nhưng cái bổn thân tiên sanh cũng ở trong Tây học mà ra. Còn tôi, là nhà nho đặc, bây giờ có thay lông lột vỏ mấy lần chăng nữa, nho cũng hoàn nho. Mà cái luận lý học là cái sở trường của Tây học, vậy thì làm sao tôi lại dám đem mà nói với tiên sanh ? Ví thử M.Logique là người thiệt, thì người ấy quen với Trần tiên sanh hơn là quen với tôi, sao tôi dám mời tiên sanh đến nhà người ấy ? Ừ, mà mời tiên sanh thì cứ việc mời, chớ lại còn kéo Khổng Mạnh hai ngài vào nữa làm chi ?
Tôi đã nói trong bài ở số trước, về sự học vấn ở nước ta, tôi muốn lần lần rồi thủ tiêu những cái danh từ Nho học và Tây học đi, mà lập ra một nền học vấn riêng của người Việt Nam, cái nền ấy ta phải lấy luận lý học làm đá tảng. Vậy thì trong khi tôi đem luận lý học nói cùng Trần tiên sanh đây, xin ai nấy chớ còn coi tôi là nhà nho nữa, mà chỉ nên nghe lời nói của tôi rồi phán đoán là phải hay quấy mà thôi.
Cái vấn đề ông Trần và tôi đương bàn đây là vấn đề Nho giáo. Các vị yếu nhơn trong vấn đề là Khổng Tử và Mạnh Tử. Mà hai vị nầy, trong khi biện luận về học vấn, thỉnh thoảng hay trái với luận lý học. Điều đó là không hợp với sự học vấn ngày nay. Tôi e cho Trần tiên sanh trong khi luận biện với tôi mà binh vực cho Nho giáo thì dùng luôn cái lối biện luận của Khổng Mạnh đó, nên chi tôi phải trước ghép một đôi điều biện luận của thánh hiền vào khuôn luận lý học, rồi do đó lập ra như một cái giao ước với Trần tiên sanh.
Tôi vẫn nhìn nhận Khổng Tử là ông tổ khai sơn cho luận lý học Trung Hoa, vì ngài đã lập ra cái thuyết chánh danh mà tôi đã phát huy ra trong nhiều bài trước kia. Song tôi cũng đã nói rằng chính ngài có đôi khi lập ngôn không đúng với phép tắc luận lý học.
Ấy là như ở sách Luận ngữ, thiên Vi chánh, môn nhơn chép lời ngài đối đáp cùng Mạnh Ý tử, chép rằng:
“Mạnh Ý tử hỏi về hiếu. Thầy trả lời rằng: Không trái (vô vi).
Phàn Trì đánh xe. Thầy bảo đó rằng : Mạnh tôn hỏi hiếu nơi ta, ta thưa rằng không trái.
Phàn Trì hỏi : Thế là nghĩa gì ? Thầy đáp rằng : sống nhờ đó lấy lễ ; chết, chôn đó lấy lễ, tế đó lấy lễ”.
Đó, ngài đã bảo cho, mà sao Phàn Trì lại còn hỏi lại ? Là tại Phàn Trì không hiểu. Phàn Trì mà không hiểu thì Mạnh tôn (Mạnh Ý tử) có hiểu được chăng ? Hiểu hay không, ta không biết ; duy biết rằng Mạnh tôn không hỏi lại. Sự không hỏi lại, tỏ ra hai dấu : một là hiểu rồi như Nhan Tử mặc chí tâm thông ; một là ù ù cạc cạc như vịt nghe sấm. Song ta có thể đoán rằng Mạnh tôn không hỏi lại, là đã tỏ ra cái dấu sau đó, nghĩa là đã không hiểu mà cũng không biết hỏi lại. Vì sao đoán như vậy ? Vì hai chữ “vô vi” của Khổng Tử nói đó có nhiều nghĩa quá, muốn hiểu cũng không biết hiểu về nghĩa nào, vậy tức là không hiểu. Phàn Trì đã vậy thì Mạnh tôn cũng vậy.
May có Phàn Trì hỏi, ngài mới cắt nghĩa vân vân, bây giờ chúng ta mới biết cái nghĩa vô vi của ngài là vân vân. Giá hồi đó Phàn Trì không có dịp đánh xe cho ngài, ngài không có dịp đem mà bảo Phàn Trì, hay là Phàn Trì cũng lại một thứ vịt nghe sấm như Mạnh tôn, không biết đường hỏi lại, thì có lẽ hơn hai ngàn năm nay, hai chữ “vô vi” vẫn còn nằm trong màn kín, vẫn còn như câu thai treo đó mà chẳng ai đáp trúng hết !
Theo luận lý học, kiểu nói như ngài đó kêu bằng kiểu nói mô-lăng (Amphibologie). [ 3 ] Mô-lăng, nghĩa là rờ vật gì có nhiều khía tương tợ với nhau : nhắm mắt mà rờ, trúng vào cái khía nào cũng được hết. Kiểu nói ấy, luận lý học cho là một điều mậu vọng [ 4 ] , cũng như những điều mậu vọng khác trong phép diễn dịch (Erreurs de déduction), vì nó làm cho kẻ nghe chẳng biết đường đâu mà mò. Thật vậy, nếu bây giờ ai hỏi tôi điều gì mà tôi đáp rằng “Không trái”, thì tự nhiên người ấy không hiểu được, tự nhiên người ấy phải hỏi lấy mình hay hỏi lại tôi : Không trái là không trái cái gì ? Không trái là không trái ai ?
Nói cho phải, bây giờ nếu ta đem lời của Khổng Tử mà đối chiếu với luận lý học thì thấy không sai mấy. Duy có Mạnh Tử, ông nầy có tiếng là hùng biện, chính mình cũng xưng rằng tri ngôn, mà lại sai hơn Khổng Tử nhiều. Chỗ nầy không phải là chỗ phê bình sách Mạnh Tử, nên tôi chỉ cử ra đôi ba điều đại khái.
1. Luận lý học, về điều giả ngôn suy lý (jugement hypothétique) [ 5 ] có hai cái luật : Luật thứ nhứt là cái tiền thiết (antécédent) mà thành lập thì cái hậu thừa (conséquent) cũng thành lập ; luật thứ nhì là cái hậu thừa mà không thành lập thì cái tiền thiết cũng không thành lập. Nếu phạm luật ấy thì thành ra mậu-vọng.
Sách Mạnh Tử, thiên Tận tâm thượng, có một chương rằng :
“Đào Ứng hỏi rằng : Thuấn làm thiên tử, Cao Dao làm quan tòa, mà Cổ Tẩu giết người, thì làm thế nào ?
Mạnh Tử trả lời : - Cứ việc bắt đi mà thôi.
- Thế thì Thuấn không cấm được ư ?
- Thuấn cấm sao được mà cấm ? (Cái pháp luật của Cao Dao) là có chỗ chịu mà.
- Vậy thì Thuấn sẽ làm cách nào ?
- Thuấn coi bỏ thiên hạ cũng như bỏ giép hư. Cõng trộm (cha mình) mà đi trốn, noi mé biển mà ở, trọn đời hớn hở, vui mà quên thiên hạ.”
Theo lời Viên Mai [ 6 ] thì ở đây Đào Ứng đã hỏi bá xàm mà Mạnh Tử cũng trả lời bá xàm. Tuy vậy, họ Viên chỉ biết là bá xàm mà thôi, chớ không biết đến cái sở dĩ tại sao mà bá xàm ; đây tôi ghép vào luận lý học thì mới tỏ ra cái lẽ sở dĩ ấy.
Theo sự tín của nhà nho, thì Thuấn là bực thánh nhân và Cao Dao cũng là bực thánh nhân. Lại cũng theo sự tín của nhà nho nữa, hễ thánh nhân thì có cách cảm hóa người ác trở nên thiện ; chính Mạnh Tử cũng từng nói Thuấn đã cảm hóa được Cổ Tẩu là cha mình. Vậy thì Thuấn làm thiên tử, Cao Dao làm quan tòa, tất nhiên Cổ Tẩu không có sự sát nhân, dầu ông ấy là ác. Vậy mà Đào Ứng đặt ra câu hỏi như vậy, lấy sự không thể xảy ra đem làm vấn đề biện luận, cho nên nói là câu hỏi bá xàm.
Phải chi Mạnh Tử hiểu lẽ ấy, đem lẽ ấy giảng cho Đào Ứng nghe rồi không trả lời, thì Mạnh Tử cũng khỏi điều lỗi lầm. Cái nầy, Mạnh Tử không nghĩ đến chỗ câu hỏi có thành lập hay không, thấy thì chụp trả lời liền, thành ra trong câu trả lời đó cũng bá xàm một thứ.
“Cứ việc bắt đi mà thôi”, nói sao mà nghe dễ quá ! Hễ kẻ giết người thì quan tòa có phép bắt, nhưng đối với ai kia, chớ sao lại được bắt cha ông thiên tử, theo lối sang trọng của nhà vua kêu bằng “thái thượng hoàng” ? Nói vậy thì ra bên tình không thuận mà bên lý cũng không trôi. Vả lại, Mạnh Tử đã nhiều lần cho thiên hạ là của công, thì có lẽ nào Thuấn vì việc tư mà bỏ thiên hạ được ? Dầu Thuấn có coi thiên hạ là chiếc giép hư đi nữa, thiên hạ há coi Thuấn là người có chiếc giép ấy hay sao ? Nếu Cao Dao bắt Cổ Tẩu thì đã giam vào”khám lớn” rồi, Thuấn làm thế nào cõng trộm được ? Mé biển dầu xa, cũng ở vào đất Trung Quốc, hễ Thuấn đi đến được thì Cao Dao cũng đi đến được, trốn mà thoát hay sao ? Tóm lại, lời đáp của Mạnh Tử đó tức là “độn từ” [ 7 ] , chính ngài đã tự phụ rằng biết, thế mà chính ngài phạm tới, lại không tự biết. [ 8 ]
Theo luận lý học thì cả chương vấn đáp của Đào Ứng và Mạnh Tử đó nên xóa đi hết mà coi như là không có ; vì nó đã phạm cả hai luật của điều giả ngôn suy lý nói trên kia. Lời Đào Ứng hỏi tức là cái tiền thiết, lời Mạnh Tử đáp tức là cái hậu thừa, mà cứ như đã ghép vào luật rồi bẻ bác đó, thì đều không thành lập và đều là mậu vọng, cho nên xoá đi là đáng lắm.
2. Khi mình biện luận với ai, không cứ theo cái luận điểm (point de discussion) mà biện luận, lại xây qua cái luận điểm khác, theo luận lý học, như vậy cũng thành ra mậu vọng. Điều mậu vọng ấy kêu bằng biến canh luận điểm (changement de point). Thường thường luận giả hay mắc phải điều mậu vọng nầy là vì có ý hiếu thắng, sợ cứ theo cái luận điểm nguyên hiện thì mình biện luận không chạy, nên kéo qua cái luận điểm khác để cầu thắng đó thôi. Mạnh Tử cũng không khỏi điều mậu vọng ấy.
Ở thiên Vạn chương thượng :
“Vạn Chương hỏi rằng : Nghiêu lấy thiên hạ cho Thuấn, sự ấy có chăng ?
Mạnh Tử trả lời : Chẳng phải vậy đâu, thiên tử chẳng có thể lấy thiên hạ cho người.”
Ấy đó, Mạnh Tử đã phạm vào cái lỗi biến canh luận điểm đó.
Cứ như lời Vạn Chương hỏi thì cái luận điểm ở sự “Nghiêu có lấy thiên hạ cho Thuấn cùng chăng”. Mạnh Tử lại trả lời rằng “Thiên tử chẳng có thể lấy thiên hạ cho người”, trật qua cái luận điểm khác, câu trả lời chẳng ăn nhập gì với câu hỏi.
Hoặc giả trong ý Mạnh Tử nói rằng hễ đã nói “Thiên tử chẳng có thể lấy thiên hạ cho người”, thì trong câu ấy phải hiểu ngầm là Nghiêu chưa hề lấy thiên hạ cho Thuấn. Song chỗ này hai việc khác nhau, không thể hiểu ngầm như vậy được. Đã hay rằng thiên tử không có phép đem thiên hạ cho người, song có lẽ Nghiêu đã trái phép ấy đi mà đã đem thiên hạ cho Thuấn thì sao ? Cái ý Vạn Chương hỏi là định hỏi về chỗ đó. Huống chi cái việc Nghiêu truyền ngôi thiên tử cho Thuấn, đem thiên hạ cho Thuấn, là việc hiển nhiên trên lịch sử, sao lại nói mập mờ như vậy được ? Theo đúng luận lý học, thì chỗ nầy, Mạnh Tử phải trả lời việc ấy là có hay không cái đã, rồi nói chi hãy nói.
Mạnh Tử lấy câu trả lời không ăn nhập ấy mà khỏa lấp câu hỏi của Vạn Chương đi. Vạn Chương chừng cũng là tay non, phần lại khiếp lời của thầy mình nữa, thành ra không còn chủ trì được cái luận điểm trước mà đi xuôi theo một chiều với cái luận điểm của Mạnh Tử mới nhảy qua. Vạn bèn hỏi tiếp : “Thế thì Thuấn có thiên hạ đó, ai đã cho ?” Mạnh Tử đáp : “Trời đã cho”. - Rồi từ đó hai thầy trò đưa nhau đi càng ngày càng xa, mà quên mất cái chỗ bước chân ra là chỗ nào ! Cả một chương ấy, không cứ cái lý thuyết ra sao, chỉ duy một điều là không ăn nhập với câu hỏi ban đầu, đã đủ cho là mậu vọng.
3. Luận lý học đại để có hai cái pháp thức lớn, là quy nạp (induction) và diễn dịch (déduction), mà hai cái nó tương nhơn tương thành với nhau. Tuy vậy, kể ra thì phép diễn dịch là cần lắm, vì trong khi làm phép quy nạp cũng phải dùng đến nó mới làm được. Muốn dùng phép diễn dịch thì phải thạo tam đoạn luận (syllogisme) ; muốn thạo tam đoạn luận thì phải xét rõ mạng đề (proposition) ; muốn xét rõ mạng đề thì phải biện từng danh từ (terme) cho rành rẽ. Cho nên, sự tế nhận danh từ và mạng đề, ấy là cái bước đầu của luận lý học. Hễ cái bước ấy mà sai thì về sau sai hết.
Theo đó, khi mình muốn biện luận cùng ai, cái danh từ của họ dùng thế nào, cái mạng đề của họ đặt thế nào, mình phải nhận cho kỹ, nếu có dẫn vào trong lời biện luận của mình thì phải để y như họ, đừng có hiểu lầm hay là làm sai đi. Bằng chẳng vậy, hiểu lầm hay làm sai, thì lời biện luận của mình cũng thành ra mậu vọng. Mạnh Tử cũng có một lần phạm cái lỗi ấy.
Cái thuyết “tịnh canh” của Hứa Hành hồi Chiến Quốc, đại để hơi giống cái chủ nghĩa cọng sản đời nay. Tiếc Hứa Hành thỉ chung không gặp Mạnh Tử để hai người biện luận với nhau thử ra sao. Cứ theo sách Mạnh Tử thì chỉ có Trần Tương là đồ đệ họ Hứa có biện luận với Mạnh Tử mà thôi. Hai đàng nói qua nói lại đã nhiều, sau Trần Tương nói rằng :
“Theo cái đạo của Hứa Tử thì giá chợ chẳng hai, trong nước không có sự dối trá ; dầu khiến một đứa con nít năm thước [ 9 ] đi chợ, cũng chẳng ai khí nó. Vải, lụa, bông, nhẹ nặng đồng nhau thì giá như nhau ; năm thứ thóc, nhiều ít đồng nhau thì giá như nhau ; giép, lớn nhỏ đồng nhau thì giá như nhau (lũ, đại tiểu đồng, tắc giá tương nhược).”
Tuy văn từ đời xưa hơi đơn giản, ta cứ xem như trên cũng có thể hiểu được ý Trần Tương muốn nói thế nào. Vậy mà Mạnh Tử chừng như đã hiểu sai đi, mà hiểu sai thiệt, coi đây thì biết. Mạnh Tử bác lại rằng :
“Vả mọi vật chẳng tày, là tình thiệt của mọi vật, hoặc gấp đôi gấp năm nhau, hoặc gấp mười gấp trăm nhau, hoặc gấp ngàn gấp vạn nhau. Nhà ngươi đánh xô bồ mà cho đồng đi, ấy là loạn thiên hạ. Giép lớn giép nhỏ mà đồng một giá, thì người ta há làm giép lớn làm chi (cự lũ tiểu lũ đồng giá, nhân khởi vi chi tai ?)” (Đằng văn công thượng).
Trần Tương mở ra đã nói : “Giá chợ chẳng hai, tuy con nít đi chợ cũng chẳng ai khí nó”. Thế là tỏ ra rằng trong cái lý tưởng xã hội (societé idéale) của Hứa Hành, người ta buôn bán cách thật thà, cũng như ngày nay ở các hiệu buôn lớn đều hô lên rằng “bán giá nhứt định” đó thôi. Từ câu vải, lụa v.v. sắp xuống, nghĩa là mỗi một thứ, vải đi với vải, lụa đi với lụa, tơ đi với tơ, bông đi với bông, lúa đi với lúa, nếp đi với nếp ; hễ cái lượng (quantité) nó chừng nào, thì bất kỳ tới cửa hàng nào giá nó cũng chừng nấy. Cách đặt mấy câu đó hơi hàm hồ một chút, làm cho có thể lộn được ; song câu cuối cùng thì rõ lắm. Nói rằng giép hạng lớn hạng nhỏ đồng nhau thì giá như nhau, thế nghĩa là lớn đồng với lớn, nhỏ đồng với nhỏ, thì giá mới như nhau được ; chớ còn lớn với nhỏ thì tự nhiên khác giá. Vậy mà Mạnh Tử không hiểu đúng những danh từ là chữ đại tiểu và chữ đồng giá của Trần Tương, rồi cũng không hiểu đúng luôn cái mạng đề tức là cả câu nữa, hóa ra đã trật đi đường nào mất !
Mạnh Tử nói : “Giép lớn giép nhỏ mà đồng một giá thì người ta há làm giép lớn làm chi ?” Vậy là ngài đã cho rằng Trần Tương nói giép lớn giép nhỏ bán ngang một giá. Nếu quả vậy thì thiên hạ tranh nhau làm giép nhỏ hết thiệt. Nhưng mà có đâu, Trần Tương có hề nói như vậy đâu !
Cái cách hiểu không đúng của Mạnh Tử đó nếu là bởi trực tình (de bonne foi) thì còn được, chớ nếu là bởi hữu ý (de mauvaise foi) thì thành ra xiên xỏ. Đã vậy mà nếu không có người chỉ cho hay là chỉ mà cũng còn cưỡng biện, thì thật là nguy hiểm cho sự học vấn và cũng nguy hiểm cho đức tánh của mình nữa, vì sợ lần lần làm mất sự ngay thật (sincérité) đi.
Tôi cử ra của Khổng Tử một điều, của Mạnh Tử ba điều, để cho biết cách luận biện của hai ngài có chỗ thành ra bất luận lý (illogique). Rồi dưới nầy, tới phiên tôi nói chuyện với Trần tiên sanh.
Ở đây tôi nên nói mau đi rằng trong bài của Trần tiên sanh có một đoạn bác cái thuyết Khổng Tử vô thần của tôi, đoạn ấy đã làm nẩy ra cho tôi một tia sáng của chơn lý, tôi xin phục tiên sanh về chỗ đó.
Số là, tôi nói Khổng Tử là vô thần luận giả, tôi cử ra một mớ chứng cứ ; Trần tiên sanh nói Khổng Tử là hữu thần luận giả, cũng cử ra một mớ chứng cứ, mà những chứng cứ của tiên sanh đủ đương địch với của tôi, vả lại có điều mạnh hơn của tôi nữa. Nhứt là tiên sanh nói : “Ta hãy xét các thời cổ, không dân tộc nào là không có quỷ thần”, câu ấy đã đánh thức cho tôi cái lịch sử quan về tông giáo và triết học (le point de vue hislorique dans l’étude des croyances et de la philosophie) làm cho cái thuyết của tôi phải lung lay.
Tuy vậy, tôi chỉ mới nhờ những chứng cứ ấy mà giảm mất già nửa cái sự tin của tôi trước mà thôi, chớ còn chỉ lấy nội những chứng cứ đó mà tin Khổng Tử là hữu thần luận giả như Trần tiên sanh, thì tôi chưa tin được. Hoặc giả đức Khổng về sự tín ngưỡng, ngài cũng trung dung mà ở giữa cái giới hạn vô thần và hữu thần chăng ? Điều nầy tôi còn phải suy nghĩ.
Phải chi những lời bác luận về các điều khác của Trần tiên sanh cũng như điều nầy thì tôi không còn dám đem luận lý học mà hó hé ra với tiên sanh nữa. Vì trong điều nầy, cái thuyết của tiên sanh với của tôi, hai bên nó như cái mũi nhọn gặp nhau, hễ một cái cứ nhọn thì một cái phải tà. Tiếc thay, về các điều khác, cái mũi nhọn bên kia nó đâm lệch, không trúng với bên nầy, thành ra bên nào tà, chưa biết.
1. Về điều Tống nho với Khổng Tử, tôi chỉ nói các ông Tống nho có nhiều điều trái với Khổng Tử mà thôi, chớ tôi không nói là trái hết thảy ; vậy mà tiên sanh nói rằng tôi cho là Tống nho không phải là Khổng giáo, rồi sanh ra nhiều lời nghị luận về nhánh nhóc, thiệt là dư quá. Trong chỗ nầy, tôi đã nói rõ, tôi không có ý binh bên Khổng Tử, bỏ bên Lão Tử cùng bắt bẻ Tống nho. Thế nghĩa là tôi không phê bình gì về cái lẽ vô cực và thái cực, tôi chỉ nói rằng các nhà triết học đời xưa nói thế nào, thì bây giờ bọn ta cứ thuật lại như thế, rồi tôi chỉ xin tiên sanh trả cái vô cực lại cho Tống nho, cũng như Jésus Christ nói : “Của Sê-da thì trả cho Sê-da, của Đức Chúa Trời thì trả cho Đức Chúa Trời” vậy thôi, chẳng kéo ra cho nhiều chuyện làm gì.
Theo tôi thấy, tiên sanh không nói vào chỗ yếu điểm của tôi mà nói ra ngoài, thì càng nói càng sai. Tiên sanh nói : “Cái tư tưởng học vấn phải theo thời mà biến hóa”. Lẽ đó tôi vẫn đồng ý với tiên sanh. Song nếu vậy mà tiên sanh lại cho Khổng Tử đã nhận thấy lẽ vô cực, rồi sau đến chỗ luận về Tống nho, tiên sanh cũng sẽ phải nói Chu Liêm Khê nhận thấy lẽ vô cực lần nữa, thì cái dấu biến hóa ở chỗ nào ? Sao gọi là biến hóa ?
Tiên sanh lại nói : “Biết đâu Khổng Tử đã đi học Lão Tử lại không nghĩ đến vô cực ?” Theo phương pháp khoa học, cái gì chắc hãy nói, không chắc thì thôi, tôi xin tiên sanh đừng dùng hai chữ “biết đâu”. Lại trong Sử ký của Tư Mã Thiên nói “Khổng Tử thích Châu vấn lễ ư Lão Tử”. Vậy thì Khổng Tử học với Lão Tử là chỉ học lễ mà thôi, trong lễ há có cái vô cực ở trỏng ? Huống chi Tử Cống nói rằng : “Phu tử yên bất học, nhi diệc hà thường sư chi hữu ?” Vậy thì dầu ngài đi học với Lão Tử chăng nữa, há là cái cớ cho ta buộc ngài cũng phải theo y như Lão Tử hay sao?
Nói tóm lại về điều nầy, tôi xin tiên sanh san khử cái thuyết vô cực mà đã đem cho là của Khổng Tử đi ; đợi đến về sau, cuốn Nho giáo II hoặc III, nói về Tống nho, hãy đem vào đó. Như vậy thì hiệp với cái lẽ “tư tưởng tùy thời biến hóa” của tiên sanh nữa. Nếu tiên sanh cho là phải thì xin tuyên bố mà cái chánh đi, hầu cho độc giả khỏi lầm ; để khi tái bản cuốn Nho giáo I sẽ sửa nguyên văn lại. Còn như tiên sanh có cao kiến gì nữa thì cũng xin chỉ giáo cho tôi về nội một chỗ đó mà thôi. Các điều sau đây cũng vậy.
2. Về điều triết học Tây phương với Khổng học, tôi nói đem mà so sánh nhau thì được, chớ còn chỉ quyết cái nầy tức là cái kia, cái kia tức là cái nọ thì không được ; ấy là tôi phiếm luận về học giả đời nay, ấy là câu đới thuyết, nào tôi có hề nói rằng Trần tiên sanh đã làm như vậy đâu, mà tiên sanh nói tôi phán đoán vội vàng ? Cái chỗ tôi bác Trần tiên sanh chỉ là chỗ nhận cho trực giác tức là lương tri và lý trí tức là trí.
Nay tiên sanh cũng chịu rằng chữ trí của Khổng Tử không phải là lý trí như tôi, thế là cái điều “lý trí tức là trí” mà tôi đã cử ra để bác tiên sanh, hoặc giả tôi đã hiểu lầm ý tiên sanh chăng, cái điều ấy bây giờ ta nên thủ tiêu đi, vì hai bên đồng ý với nhau rồi, không thành ra vấn đề nữa. Chỉ còn cái vấn đề “trực giác tức là lương tri”, và theo lời tiên sanh mới đây, lại nẩy ra thêm một cái vấn đề mới nữa, là “lý trí tức là cái trí xuyên tạc”.
Tôi nói lương tri chỉ về tánh, chữ tánh đó tức là chữ tánh của Mạnh Tử thường nói mà tiên sanh đã giải nghĩa rằng cái lý bổn nhiên của trời phú cho người ta, tức là cái bổn thể của tâm, là cái thần minh sáng suốt, khiến ta rõ biết những điều nhân nghĩa lễ trí. Tiên sanh giải nghĩa như vậy rồi, tiên sanh nói rằng : “Lương tri tức là cái biết tự nhiên về những điều nhân nghĩa lễ trí ấy”. Thế là tôi nói : Lương tri nói về tánh, phải rồi ; chỗ đó, tiên sanh cũng một ý với tôi.
Cái tri đó đã nói về tánh, mà Mạnh Tử chủ trương cái thuyết tánh thiện, cho nên để chữ lương lên trên chữ tri. Thế là tỏ ra rằng cái tri ấy chỉ có lương mà thôi, chớ không có bất lương, hiệp với cái tánh của Mạnh Tử hiểu, chỉ có thiện mà thôi, không có ác. Cho nên tôi nói lương tri chỉ về tánh là đúng lắm. Mà nội chừng nấy đó thì đủ biết rằng lương tri không phải là trực giác. Bởi vì trực giác (intuition) chỉ là trực (direct) đối với bất trực (indirect) mà thôi, chớ chưa hề có ý lương, bất lương hay là thiện, ác ở trong. Trực giác là sự biết thẳng, đối với sự biết không thẳng, cho nên tôi nói trực giác chỉ là cách nhận thức mọi sự của nhà triết học.
Tiên sanh cử ra chữ intuition có ba nghĩa : là intuition sensible, intuition intellectuelle và intuition morale. Tên sanh cử ra ba chữ đó để cho tiện mà nói rằng trực giác hay lương tri cũng vậy gồm cả trí tuệ và đạo lý. Cái đó, tôi tưởng là cái ý tiên sanh muốn nói như vậy thôi ; nếu theo đúng cái danh và cái thiệt của chữ lương tri và chữ trực giác, thì hai chữ không thể nhập làm một được.
Tôi thấy có nhà triết học Pháp đã chia intuition làm bốn thứ nữa kia : 1. Intuition empirique, cái nầy lại chia làm hai : a) intuition sensible, b) intuition psychologique. – 2. Intuition rationnelle hay là intuition d’évidence. – 3. Intuition inventive hay là divinatrice. – 4. Intuition métaphisyque.
Ấy chết ! chỗ nầy tôi lôi ra cả đống danh từ triết học bằng chữ tây, thế nào cho khỏi có người bụm miệng mà cười rằng thằng Bìm có cái quạt mo cũng đòi đem kình với gia tài ông Trạng ! Xin đừng nói như vậy mà tội nghiệp tôi  ! Thiệt tình những danh từ đó tôi thấy trong một cuốn sách triết học bằng Pháp văn mà tôi chưa nghiên cứu cho đến nơi, gặp dịp thì tôi cũng đem mà chưng ra đây cho nhiều, để biết rằng dầu có mấy chục thứ intuition mấy chục thứ trực giác đi nữa, là nó cũng không đồng một thứ với cái lương tri của Mạnh Tử, vì nó chỉ là trực mà thôi, trong nó, không có cái ý lương hay thiện.