Truyện thầy Lazaro Phiền

Part 1

Chapter 15,256 wordsPublic domain (Wikisource)

Truyện thầy Lazaro Phiền  (1887)  của Nguyễn Trọng Quản

- các dự án wiki khác :  bài viết Wikipedia ,  mục Wikidata .

Truyện thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam. Viết bằng chữ quốc ngữ, tác phẩm do nhà J. Linage, Libraire-Éditeur đường Catinat Sài Gòn xuất bản năm 1887. Tác giả là người Công Giáo trong thời gian giáo dân còn rất ít, và truyện có rất nhiều chi tiết và nhân vật Công Giáo. — Trích dẫn từ Truyện thầy Lazaro Phiền của Wikipedia , bách khoa toàn thư mở.

13277 Truyện thầy Lazaro Phiền 1887 Nguyễn Trọng Quản

Ai xuống Bà-rịa, mà có đi ngang qua đất thánh ở trong Cát tại làng Phước-lễ, thì tôi xin bước vô đất thánh ấy, kiếm cái mồ có cây thánh giá bằng ván, sơn nửa đen nửa trắng, gắn một bên nhà thờ những kẻ Tử-đạo [ 1 ] mà thăm mồ ấy kẻo tội nghiệp ! Vì đã hai năm nay không ai thăm viếng không ai màng ngó tới.

Mồ đó là mồ một thầy đã chịu lương tâm mình cắn rứt đã mười năm, bây giờ mới đặng nằm yên nơi ấy.

Tôi xin phép thuật lại truyện tôi đã gặp thầy ấy và làm sao thầy ấy đã tỏ chuyện mình ra cùng tôi, như sau nầy:

I.

Đồng hồ nhà thờ nhà nước vừa đánh tám giờ tối, đồ tôi đã đem xuống tàu mà đi Bà-rịa rồi.

Chiếc Jean-Dupuis định mười giờ mới chạy, nên còn hai giờ chẳng biết làm đí gì ? Muốn lên bờ đi dạo một hai vòng xem phố xá thành Saigon chơi, mà trong mình có ý mệt cho nên không lên; vậy mới tính lên sàn tàu coi có cái ghế nào không, mà nằm nghỉ cùng xem trăng chơi, vì ngày ấy là nhằm ngày rằm tháng chạp annam là 12 janvier 1884.

Lên đến sàn thấy trăng thanh gió mát thì tôi lại đứng nơi be tàu mà hứng gió.

Đứng đó lòng buồn một ít vì phải xa cách cửa nhà vợ con hơn tám bữa, cho nên dầu mà trên bờ đèn sáng như ngày, kẻ qua người lại xe ngựa rầm rầm, nhà hàng dẫy đầy những kẻ vui chơi, tôi cũng chẳng đem trí mà xem các sự ấy, cứ một xem phía sông bên Thủ-thiêm mà thôi; vì phía đó chẳng chói sự sang trọng vui chơi, chẳng tỏ bày sự phàm xác thịt; nơi ấy là nơi nghèo khổ làm ăn ban ngày; thong thả mà nghỉ ngơi ban đêm, nên còn một hai chỗ còn đèn leo léc mà chỉ vài nhà chưa ngủ mà thôi.

Còn dưới sông mặt trăng giọi xuống làm cho nước giọng ra như tấm lụa vàng có thả kim sa.

Xem các sự ấy thì lòng lại thêm buồn, nên tôi muốn kiếm sự giải phiền nơi khác; song vừa giay mặt lại thì tôi thấy một thầy tu đứng gần bên tôi và ngó xuống nước một cách rất buồn bực lắm.

Muốn làm quen cho có bạn vì dưới tàu lạ mặt hết, tôi mới hỏi thầy ấy rằng: "Thầy đi xuống Bà-rịa hay là đi Vũng-tàu ?" Thầy ấy ngó tôi một chặp rồi mới nói rằng:

"Thầy hỏi tôi đi đâu làm chi ?" Khi nghe tiếng thầy nói một cách rất buồn bực thảm não lắm, thì tôi ngó mà coi thầy ấy cho tỏ tường; may đâu lúc đó trăng lại tỏ hơn, nên tôi đặng xem thầy ấy rõ ràng: Thầy chừng ba mươi tám ba mươi chín tuổi, thấp người; giọng nói đao thương ! Mặt mủi thì xanh xao mét ưởng, mình thì ốm o gầy mòn, lại cái áo dòng người mặc nó bay phất phơ hai bên làm cho thầy ấy giống như hình con bù nhình, để nơi đồng ruộng mà đuổi chim. Tôi mới trả lời rằng:

"Thưa bởi vì tôi biết cha sở Bà-rịa lắm, nên tôi tưởng nếu thầy đi Bà-rịa thì làm sao nay mai tôi cũng gặp thầy."

Thầy ấy mới trả lời rằng: "Tôi không đi Bà-rịa, tôi đi dưỡng bịnh tại Vũng-tàu, vì tôi có bịnh tức đã hai năm nay; song tôi tưởng đi cũng vô ích, vì tôi biết tôi không còn sống đặng hơn nửa tháng nữa đâu."

Tôi nghe lời ấy, thì tôi nói rằng: "Xin thầy đừng nói làm vậy. Chúa lòng lành vô cùng người thường làm phép lạ hoài, nên thầy đừng có ngã lòng nản chí, ít ngày đây thầy sẽ lành."

Thầy tu ấy lắc đầu mà nói rằng: "Thầy ôi ! Phải thầy biết tội tôi thì thầy không muốn cho tôi sống làm chi…" Nói chưa dức lời thầy lấy tay che mặt mà khóc ròng.

Tôi thấy vậy mới nói cùng thầy rằng: Dầu mà tội thầy nặng thể nào thì Chúa cũng đã tha cho thầy rồi: vì thầy chịu cực cũng đã đủ cho nên xin thầy chớ muốn chết làm chi, vì thầy còn thuộc về những người phải dạy những kẻ chưa biết đạo Chúa; nên thầy phải sống mà đem những kẻ ấy vào đàng ngay."

Thầy tu nghe tôi nói như vậy mới cất đầu lên chùi nước mắt mà nhìn tôi và hỏi chậm chậm rằng: "Thầy đã có đôi bạn chưa ?" Tôi thưa rằng: Đã có đặng sáu tháng nay thì thầy tu ấy lấy tay mà xô tôi ra cùng nói lớn tiếng rằng:

"Vậy thì thầy phải xa tôi cho kiếp, kẻo mà sự dử xảy đến cho, tôi sẽ làm hại thầy chẳng sai đâu; tôi cũng có đôi bạn như thầy vậy; song phận tôi vô phước ! Vô phước lắm ! thầy ôi !"

Nói rồi thầy ấy ôm mặt mình mà khóc một lần nửa; song tôi cũng không ngã lòng, tôi nắm tay thầy mà nói rằng: "Tôi thấy thầy buồn bực như vậy, thì tôi chắc thầy đã có chịu sự gì cực khổ lắm hay là đã làm tội gì trọng, sự ấy tôi không muốn biết làm chi; song xin thầy đừng phiền quá mà làm hại mình, nếu mà thầy có tội thì thầy phải sống mà đền tội ấy. Nếu thầy không có tội, mà thầy phải chịu phiền về sự gì, thì cũng xin thầy phải sống mà chịu cho đến cùng hầu ngày sau sẽ đặng phần thưởng trọng hơn."

"Ôi thôi ! Thầy đừng an ủi tôi làm chi ? Tội tôi đã lớn lắm, và sự cực tôi đã chịu thì đã gần quá sức tôi rồi."

"Thầy ôi ! Đã mười năm nay, tôi như thể không còn trái tim nữa, trái tim tôi như thể đã biến hóa ra tro bụi rồi; tôi như thể mất trí khôn vậy. Chớ chi thuở trước tôi đừng có: ôi thôi ! Nói đến chừng nào càng đau đớn lòng chừng nấy; bây giờ có một sự chết làm cho tôi quên người đó mà thôi… Tôi có ý đi tu cho đặng trông cậy có lẽ đọc kinh cầu nguyện thì sẽ quên người tôi đã đem hết lòng hết trí mà thương; song vô ích, thầy ! Sự tôi chịu cực mười năm nay thì đã đủ mà đền tội tôi rồi. Bây giờ tôi đặng chết bằng an."

Tôi nghe và thấy sự đau đớn như vậy thì tôi làm thinh mà để cho thầy ấy khóc. Khi ấy mới nghĩ trong mình rằng: có lẽ nào dưới thế gian nầy mà có sự gì dữ tợn đến đổi làm cho người ta chịu cực đến mười năm mà chẳng nguôi ! Mà thật khi ấy tôi đang còn có phước, còn đang lúc sung túc, là vì tôi mới có vợ đặng ít tháng, còn chí thiết thương nhau nên tôi không hiểu người ta chịu cực làm sao đặng ? Tôi mới tưởng thầy tu ấy đau đớn bịnh hoạn nên lãng trí mà nói vậy chăng ? Muốn cho hẳn tôi mới ngó mà xem thầy ấy cho rỏ ràng đặng coi có làm sự gì tỏ ra như người điên chăng ?

Tôi vừa ngó một chặp, thì tôi thấy thầy ngấc mặt lên xem trời mà thở ra rằng: "A Chúa tôi ! rất lòng lành vô cùng, xin Chúa cho tôi về gặp mặt bạn tôi cho chóng, dẩu mà tội nó thể nào thì tôi cũng quên, bởi vì có lời Chúa đã phán: "Tao tha lỗi cho bay, như bay tha kẻ có lỗi cùng bay."

Tôi thấy vậy mới nói rằng: "Điên ! Thầy nầy điên !" Thầy tu ấy nghe đặng mới nói cùng tôi rằng: "Thầy ôi ! Thầy còn trẻ chưa biết đủ việc đời: hay là còn đang lúc có phước, thầy chưa từng sự đau đớn, nên thầy nói tôi điên, tôi không điên đâu thầy ! Tôi còn trí khôn đủ, tôi xin Chúa đừng cho thầy mắc sự tôi phải chịu, xin Chúa giản ra cho khỏi đầu thầy sự dữ đã xảy đến cho tôi."

Nói vừa dứt lời, thì đồng hồ vừa đánh mười giờ, nên tàu thổi hơi cùng mở đổi mà chạy, làm cho tôi quên thầy tu mà coi người ta sửa soạn lui tàu.

II.

Khi tàu chạy rồi tôi ngó lại thì thầy tu đã xuống phòng mình rồi. Còn lại một mình, tôi mới lại đứng sau lái tàu mà xem lằn tàu chạy, cùng nghĩ tới các sự thầy tu đã nói; khi nghỉ làm vậy, thì trong lòng muốn biết truyện thầy ấy. Vậy mới tính hỏi, xin thầy thuật truyện ấy ra, song tôi e thầy có chối chăng ? Thì tôi đang kiếm mà lo phương thế cách nào làm cho thầy ấy tỏ sự mình ra. Song nghỉ đi nghỉ lại một hồi, lại bàn rằng: chuyện người mà mình muốn biết làm chi, nên tôi lại cúi xuống mà xem bọt nước vận sau lái tàu, trào lên như bạc sôi; lại một hai khi có yếng sáng trăng giọi xuống thì bọt ấy hóa ra như bạc vàng lộn lại vậy; mà dẫu làm thể nào trí khôn tôi nó cũng bắt tưởng đến truyện thầy tu luôn, nên tôi quyết lòng lần này xuống xin thầy ấy thuật truyện mình ra.

Dầu vậy mặc lòng cũng còn lần lựa chưa muốn xuống mà hỏi. Vì đoán rằng: thầy này đã nói với tôi rằng: "Xin Chúa hảy giản ra cho khỏi đầu thầy sự dử đã đến cho tôi". Thì sự dử ấy là quái gở lắm, cho nên có lẽ thầy tu sẽ chẳng nói ra chăng ? Tôi lần lựa như vậy, cho đến khi tàu đi qua khỏi Xóm-chiếu cho tới đồn Cá-trê, tôi mới xuống phòng tôi.

May đâu sự cũng lạ. Ngày đó không có đờn bà quá giang, nên tôi và thầy tu được một cái phòng có hai cái giường.

Đang khi đi xuống thì tôi tưởng thầy ấy thức khuya mệt đã nghỉ rồi cho nên tôi lại gần phòng, sẽ lén khoát màn ra nhẹ nhẹ kẻo thầy ấy giực mình thức dậy. Song tôi vừa bước chơn vô phòng thì tôi thấy thầy ấy đang quì gối cúi mặt nơi giường mà đọc kinh cùng thầm thì những lời tôi đã nghe nói trên sân khi nảy.

Tôi thấy vậy muốn lui ra cho thầy đọc kinh kẻo lo ra, song tôi vừa bước ra thì thầy kêu tôi mà nói rằng: "Thầy ! Thầy lên giường mà ngủ đừng sợ sự gì, tôi đọc kinh rồi có lẽ tôi nghỉ một chốc đây rồi; tôi sẽ thuật truyện tôi lại cho thầy nghe."

Nghe nói vậy thì trong lòng tôi mầng lắm, nên tôi lên giường mà nằm; khi ấy ông thầy cũng lên giường mình. Cách một hồi thì tôi nghe tiếng thầy ấythở một cách như thể mệt lắm vậy, tôi cất đầu ngó xuống và hỏi rằng: "Thầy mệt lắm hay sao ? Trong mình thầy làm sao ?"

Thầy ấy trả lời rằng: "Không hề gì đâu, thầy đừng lo, trong mình tôi như thường."

Vậy tôi mới nằm xuống; có ý thức đợi thầy ấy nói truyện mình, song mắc mệt nên lần lần tôi ngủ quên không hay. Gần nửa đêm khi dưới tàu thiên hạ ngủ hết, mọi nơi đều lẳng lặng, trừ ra tiếng máy ầm ầm, như trống canh nhịp, thì tôi nghe kêu rằng: "Thầy ôi ! Xuống ngồi gần bên tôi, tôi sẽ nói truyện tôi cho thầy nghe."

Khi tôi nghe kêu, tôi giựt mình và run sợ cả và mình, vì tôi nghe như thể tiếng ấy bởi nơi mồ mà lên kêu tôi vậy. Lại khi đó cửa sổ phòng tôi mở, nên gió khuya thổi vô, làm cho tôi lạnh lạnh, thì lại càng run sợ hơn nữa.

Vậy tôi mới lấy mền trùm lại không trả lời, rồi tôi nghe kêu một lần nữa.

Khi ấy tỉnh trí nhớ trực thầy tu nằm dưới tôi, tôi mới xuống nhắc ghế lại ngồi gần bên giường thầy ấy.

Tôi vừa ngồi gần một bên, thì thầy ấy nắm tay tôi, mà nói rằng:

"Thầy ôi ! Tôi vô phước lắm, xin Chúa tha tội cho tôi … Tôi là kẻ có tội."

Nói bấy nhiêu lời thì chảy nước mắt ròng ròng. Dầu mà tôi muốn biết truyện thầy ấy hết sức mặc lòng; khi tôi thấy sự cực thầy ấy phải chịu mà thuật lại thì tôi nói rằng: "Thầy ôi ! Nếu mà sự này làm cực cho thầy thì xin thầy đừng nói ra làm chi."

Thầy ấy trả lời rằng: "Không ! Không ! tôi không còn sống bao lâu nữa mà giấu tội tôi. Mười năm nay tôi đã giấu với mọi người không ai hay đặng, tôi đã giả trá trước mặt người ta và trước mặt các cha nơi trường tôi tu, làm cho ai nấy tưởng tôi là người nhơn đức, song hẳn thật tôi là đứa tội lổi là ngần nào. Vậy tôi xin thầy hãy lặng tai mà nghe tôi, vì đương khi nói mà tôi mệt, thì có khi phải nín mà lâu đi chăng ?"

Nói rồi thì thầy ấy nhắm mắt lại, cho đặng nhớ mọi sự trước sau cho đủ hầu sẽ thuật truyện lại cho cùng.

III.

Cách một hồi thầy ấy mở mắt ra và nói rằng: "Xin thầy ghé tai lại mà nghe.

" Thầy ôi ! Tôi là người Bà-rịa, quê quán tôi ở tại Đất-đỏ. Ông già tôi là người có đạo dòng tử tế, vốn là người Quảng-bình, mà vô ở Đất-đỏ đã lâu; còn bà già tôi là người Gia-định. Tôi sanh ra là năm 1847 nhằm năm Tự-đức tức vị.

" Tôi là con thứ năm mà khi ấy tôi còn có một mình, vì mấy người trước đã chết khi còn nhỏ ?

" Khi ấy đạo ta phải chịu nhiều đều khốn cực lắm, vì chỉ vua dạy bắt những kẻ có đạo cho nhặt, cho nên kẻ ngoại kiếm thế mà làm hại cho những kẻ ấy luôn.

" Vậy khi tôi đã nên ba tuổi thì tôi đã biết chịu cực khổ rồi. Khi ấy bà già tôi được bốn mươi tuổi rồi mắc dịch tả năm 1850 mà chết để tôi lại với ông già tôi một mình, khi ấy ông già tôi hơn bốn mươi sáu tuổi, mà bà con không còn ai cả, cho nên khi cha tôi đi đâu thì tôi cũng đi theo luôn: như khi cha tôi đến nhà nào có cha làm lễ, thì tôi cũng đi theo. Khi kẻ ngoại hay được, có kẻ đạo hiệp nhau lại, thì báo với quan đến bắt. Nên ai nấy đều kiếm phương mà ẩn mình, cho khỏi chúng nó bắt: nên nhiều lần cha tôi phải đem tôi lên rừng mà trốn cho đến ba ngày mới về được, thì trong ba ngày ấy phải ăn những trái cây và rể cây cho khỏi chết đói mà thôi.

" Từ khi tôi mới sanh ra cho đến hai mươi tuổi, thì tôi thấy những sự bắt bớ kẻ có đạo luôn. Lại ông già tôi là trùm họ nên lại càng phải sợ hơn nữa. Ngày chúa nhựt mà muốn xem lễ cho được, thì phải chịu nhiều đều rất cam khổ là quá chừng. Ông cha ở nơi Đất-đỏ thì phải trốn lánh luôn. Khi thì làm lễ nhà này khi làm lễ nhà kia; có khi kẻ ngoại hay đặng thì lại phải đi xa cách vài ba làng; cho nên bổn đạo phải chịu muôn vàn sự khốn khó mới tìm đặng cha sở mình."

Tới đây thầy ấy nín một hồi mà nghỉ cùng nhớ các sự cho đặng tiếp theo truyện mới nói.

Tôi thấy thầy ấy gác tay trên trán cùng nhắm mắt lại dường như muốn đọc truyện mình ở trong trí khôn, như một người kia đọc trong một cuốn sách đang khi rồi sẽ thuật truyện lại, cho nên tôi làm thinh.

IV.

Vậy tôi mới nghĩ rằng: người này từ thuở nên ba mà đã biết sự cực khổ ra thể nào, đã biết chịu đói chịu khát, chịu mệt chịu nhọc, chịu trốn lánh vào nơi thú dữ, cọp hùm tây voi ở, đã từng trải sự hiểm nghèo, đã quên sự sung sướng, nên bây giờ lòng đã cứng hơn gan sắt chẳng còn chỗ nào mà sự cực nhọc thấu vào đặng, mà đã than rằng:

" Sự cực tôi chịu đã quá trí tôi rồi "; thì sự cực ấy là độc dữ là thể nào ? Mà sự cực ấy bởi đâu mà ra ? Thầy tu đã nói: "Tôi cũng có đôi bạn như thầy"; mà nay sao thầy ấy lại là thầy tu ? Lại thầy ấy có đọc rằng: "Xin Chúa cho tôi gặp bạn tôi"; hay là thầy ấy phiền vì đã mất bạn mình là người mình rất yêu mến lắm, cho nên phải phiền vậy chăng ? Như vậy không có lẽ ? nếu phải phiền vì sự ấy mà thôi thì không nói rằng: "Dầu tội nó thể nào thì tôi cũng quên rồi." Vậy tôi chắc một là thầy này điên, hai là thầy có làm sự gì quái gở quá trí hiểu không đặng.

Tôi còn đang suy như vậy thì tôi nghe thầy ấy ho hai tiếng nhẹ nhẹ rồi nói rằng:

" Thầy ôi ! Thầy nghe tôi thì thầy biết tôi là thể nào ? Sanh ra khỏi lòng mẹ thì đã chịu cực cho đến lớn. Tưởng khi có trí khôn thì được sung sướng một ít mà cũng không được; số phận tôi phải chịu khốn nạn cho đến trọn đời mà thôi.

" Song sự cực tôi đã chịu cho đến mười hai tuổi thì tính lại không bằng sự tôi sẽ chịu khi Tây qua. Thuở ấy là năm 1860 tôi được mười ba tuổi thì tôi nghe nói xôn xao rằng: "Tỉnh Gia-định đã bị Tây lấy rồi hơn hai ba tháng nay; chừng ít ngày nữa thì Tây cũng sẽ qua đánh lấy Biên-hoà cùng Bà-rịa. Kẻ ngoại khi nghe đều ấy thì lo sợ, còn kẻ có đạo thì mầng rở, vì người ta đoán rằng: "Tây qua sẽ binh vực những người có đạo Datô mà giết những người chẳng giữ đạo ấy."

" Song người có đạo thì mầng là vì trông cậy một ít lâu sẽ đặng thong thả mà giữ đạo mình mà thôi.

"Phải chi người có đạo biết sự dữ tợn quan Annam sẽ làm cho những kẻ ấy chịu, khi Tây sẽ đánh lấy Bà-rịa thì những kẻ ấy chẳng trông đợi như vậy đâu !

" Hẳn thật như vậy, vì năm sau thì nghe Tây đã đánh lấy Biên-hoà rồi, còn kẻ có đạo thì đã bị quan Annam đốt hết, khi ấy ai nấy đều kinh khủng, người thì sợ Tây qua giết, người thì sợ quan Annam đốt trước khi Tây qua. Mà cũng không khỏi vì cách ít tháng (khi ấy tôi đã nên mười lăm tuổi) thì có lịnh truyền dạy bắt những con nhà có đạo cầm tù lại hết; cùng khắc bốn chữ nầy, "Biên-hoà Tả-đạo" trên hai mép tai, hầu sau có trốn mà bắt cho dể.

" Tôi và ông già tôi cũng bị bắt cầm một nơi. [ 2 ]

" Thầy ôi! Tôi muốn nói sự cực những kẻ bị bắt vô ngục cho thầy nghe, song nói chẳng đặng. Ban đầu khi những người ở tù còn tiền đủ mà cho những người lính canh thì còn đặng thong thả mà đi việc của mình; mà đến khi hết tiền cho chúng nó ăn, thì phải chịu các sự cực khổ muôn phần. Mọi người đều bị đóng trăng hết, cho nên những kẻ đau đớn bịnh hoạn, hay là những kẻ có việc cần phải đi ra, mà bị lính không cho đi thì lại phải làm nhiều sự dơ dáy nơi mình nằm, thì ngục ấy hóa ra thúi tha gớm ghiết lắm, nhiều người phải mang bịnh mà chết. Chúng ta chịu như vậy cho tới bốn tháng trường, đến năm 1862 thì nghe đồn nói binh Langsa đã kéo qua đánh lấy Bà-rịa. Nhiều kẻ khi nghe tin ấy thì mầng, nhiều kẻ thì sợ, nhưng mà mầng sợ cũng không bao lâu, vì binh Tây chưa đến nơi thì ngục đã bị đốt ra tro mạt hết rồi. Đến khi lấy đặng Bà-rịa thì ngục còn một đống xương mà thôi."

Tới đây tôi chận truyện thầy ấy mà hỏi rằng: "Mà thầy không nói làm sao mà thầy ra khỏi tù."

Thầy ấy gặc đầu cùng trả lời rằng: " Ông già tôi trước khi đốt ngục thì đã xán bịnh rồi, nên khi đốt ổng nghe tiếng thiên hạ la, thì ổng ngồi dậy mà coi, song ổng vừa ngó thấy ngục cháy thì giực mình té ngữa ra mà chết." Thầy ôi ! Khi tôi thấy cha tôi chết như vậy, thì tôi không còn muốn sống nữa, tôi mới chạy lại ôm xác ông già tôi quyết lòng đợi lửa tới mà chết thui với ông già tôi, song lửa mới vừa tới cháy hai chơn tôi thì sự đau đớn làm cho tôi quên hết mọi sự cùng bắt tôi chạy a ra cửa mà ra khỏi tù.

" Thầy ôi ! Trong ngục hết thảy là ba trăm người mà khi ấy còn sót lại có mười người mà thôi."

Đến đây thầy ấy vổ trán cùng nói rằng: "Đây nầy ! Tôi thấy rỏ các sự ấy như thể mới có hôm qua vậy; nó còn rỏ ràng trong trí tôi đây." Nói những lời ấy rồi thầy ấy thở ra một tiếng cùng giấu mặt trong tay mình.

V.

Khi đồng hồ tàu đổ hai giờ khuya thì thầy ấy nói tiếp theo rằng: "Khi tôi ra khỏi ngục thì chẳng biết đi đâu, ngó quanh ngó quất thì thấy những người lạ hay là những kẻ ngoại quen, mà những người ấy chẳng dám đam tôi về nhà vì sợ quan nói giấu người có đạo mà bắt chăng.

" Vậy khi tôi thấy tôi còn một mình bơ vơ giữa đàng không cha không mẹ không bà con cô bác. Không ai đoái thương thì tôi quyết lên trên núi liều mình cho thú dữ ăn đi cho rồi. Tôi phăn phăn đi đặng vài dặm đàng như vậy cho đến khi chơn tôi bị cháy nó phồng lên mà làm cho tôi đau đớn lắm; đi không nổi nữa, thì tôi mới ngồi lại bên đàng mà khóc, khi ấy mặt trời đã lặng rồi, lại tôi phần thì đau phần thì mệt và đói nên tôi té ngửa trong bụi kia cùng bất tỉnh nhơn sự. Tôi chẳng biết tôi nằm đó là bao lâu, vì khi tôi tỉnh trí lại mở con mắt ra thì tôi thấy tôi ở nơi nhà thương lính, nằm một bên người lính bị thương tích kia, còn dưới chơn tôi thì có một ông thầy thuốc đang giặc thuốc nơi chơn tôi bị phỏng.

Tôi ở nhà thương hơn bốn mươi ngày; không cục cựa đặng vì hai chơn tôi bị bó lại, cho nên đi đâu không được, mà trong bốn mươi ngày ấy thì có một ông quan ba kia cách vài ba bữa thì lại đến thăm tôi một lần. Đến khi hai chơn tôi lành, thì ông quan ba đã đến thăm tôi khi tôi đau, cho người kêu tôi lên và biểu người thông ngôn hỏi tôi rằng: "Mầy còn cha mẹ bà con tại Bà-rịa không ?"

" Tôi thưa rằng: "Tôi không còn ai hết, cha tôi đã chết trong ngục rồi, còn mẹ tôi đã chết khi tôi còn nhỏ." Thì ông biểu thông ngôn nói cùng tôi rằng: "Tao đã gặp mầy nằm trong bụi gần chết, tao coi thấy mặt mầy sáng sủa thì tao thương, muốn đem mầy về nuôi cho mầy lành; nay tao tưởng mầy còn cha mẹ thì tao cho mầụy về, mà mầy nói mầy không có ai thì tao đem về Gia-định với tao. Mầy chịu đi chăng ?"

"Tôi mới thưa rằng: "Ông đã cứu tôi cho khỏi chết, bây giờ ông thương tôi muốn đem tôi về Gia-định mà tôi không đi thì tôi sẽ bạc ngải và dại dột là dường nào."

" Ba bữa sau tôi xuống tàu mà về Gia-định đặng sáu tháng, kế lấy ông quan ba mắc bệnh phải về Tây, thì để tôi lại cho Đức cha Lefèbvre.

" Tôi ở giúp đức cha được một năm rưởi cùng học chữ quốc ngữ cho đến năm 1864 thì đức cha cho tôi vô trường Latinh.

" Khi tôi mới vô nhà trường thì tôi kết nghĩa làm anh em vuối một người tên là Verô Liểu, cũng vô trường một lượt cùng tôi. Người ấy là con ông trùm họ Cầu-kho mà bởi nhỏ hơn tôi hai tuổi, thì nhường cho tôi làm anh; hai anh em thương nhau như anh em ruột vậy; chẳng khi nào mà rời nhau, dầu trong nơi học, nơi ngủ, nơi ăn, thì cũng gần nhau luôn; khi đến ngày bải trường tôi muốn ở lại trường; song thầy Liểu một hai không cho, một bắt phải đi về nhà cùng thầy mà thôi.

" Lại cha mẹ thầy Liểu, thấy tôi kết nghĩa với con mình thì lại đem lòng thương tôi như thương con ruột mình, cho nên trong hai năm tôi học nhà trường Latinh, thì tôi chẳng thiếu sự gì, lại đặng vui lòng lắm vì chưng bây giờ tôi thương cha mẹ thầy Liểu và coi hai ông bà ấy như cha mẹ ruột tôi vậy.

" Học đặng hai năm đến 1866, khi có thầy dòng qua lập trường d’Adran, thì hai anh em xin qua đó mà học. Học đó thì hai anh em cũng còn thiết nghĩa với nhau như cũ, lại tôi cũng năng về nhà cha mẹ thầy ấy như thường.

Đến năm 1870 là năm có giặt người Allemanha và người Phalangsa đánh cùng nhau thì hai anh em tôi ra đi thi tại Saigon. May đâu hai anh em thi đậu một lượt và lại được sai đi làm việc một nơi tại dinh quan Thượng-thơ cho nên tôi lại còn nương ngụ nơi nhà cha mẹ thầy Liểu nữa.

" Tôi ra làm thông ngôn đặng sáu tháng, khi cha mẹ thầy Liểu thấy tôi ở nơi nhà ấy mà có lòng ngại chưa đặng thong thả, thì lại muốn giúp mà lo đôi bạn cho tôi, để tôi lập cơ nghiệp đặng ra ở riêng cho thong thả.

" Ôi ! Thầy ôi ! Phải mà tôi biết người thiết nghĩa ấy sẽ phá sự phước tôi, thì tôi sẽ xa lánh người ấy là thể nào ? Ấy thầy xem đó mà coi, thì thầy biết lòng người ta giả trá là thể nào ? Nó đang còn thiết nghĩa với mình hết sức, mà nó kiếm sự làm cho mình phải khốn không hay.

" Phải chi tôi chết cùng cha tôi trong ngục thì tôi sẽ khỏi chịu cực cho đến bây giờ ! Ôi ! Trong ba mươi lăm năm, tôi đặng hưởng phước không đầy năm năm, còn mấy năm kia thì những chịu cực chịu khổ mà thôi."

VI.

" Thuở tôi còn ở nhà trường d’Adran thì cha mẹ thầy Liểu thường đến mà thăm viếng hai anh em tôi, nhiều khi đi thăm thì bà già thầy Liểu hay đem một người con gái chừng mười bảy tuổi đi lên theo. Người ấy không lịch sự thiệt, song coi phải thể người mà thôi: tiếng nói dịu dàng, mặt mủi cách điệu, tính nết ăn ở thì dể làm cho người ta thương lắm. Người ấy là con bà dì thầy Liểu.

" Ban đầu khi người đi đến thì tôi cũng tưởng là như bà con; mà cách ít tháng thì tôi lại đem lòng thương, cùng hằng tưởng đến người ấy luôn. Tôi đã thương người ấy như vậy là một năm chẳng, cho đến khi thi đậu mà ra khỏi trường.

" Song dầu mà tôi thương người ấy mặc lòng, tôi cũng chẳng tỏ sự ấy ra cho thầy Liểu là anh em thiết nghĩa với tôi hay.

" Vậy ngày kia nhằm ngày chúa nhựt khi xem lể về, ông già thầy Liểu rủ tôi ra vườn đi dạo chơi. Khi đến một đống đá thì ổng nói cùng tôi rằng: "Ta ngồi đây nghỉ một chặp và nói chuyện hử Mi Lazare !"

" Khi nghe ổng mời tôi ngồi, thì trong lòng tôi bắt hồ nghi có sự gì cả thể, cho nên mới kêu tôi ra ngoài vườn một mình, vậy tôi mới ngồi mà làm thinh.

Ông già thầy Liểu cũng làm thinh một chặp rồi nắm tay tôi mà nói rằng: "Thầy ! Thầy biết xưa nay tôi thương thầy như con ruột tôi vậy, cho nên khi nào bải trường có con tôi về mà không có thầy thì tôi cũng trông nhớ thầy lắm."

" Còn thầy thì tôi cũng biết thầy thương hai vợ chồng già tôi như cha mẹ thầy, cho nên hai vợ chồng tôi cũng mầng, và lại tôi thấy thằng Liểu nó yêu mến thầy thì tôi càng mầng hơn nữa, vì nó đặng bắt chước cách ăn ở thầy mà sửa mình lại và nó khỏi theo những đứa hoang đàng mà hư đi."

" Tôi nghe nói như vậy thì tôi làm thinh cúi đầu xuống mà nghe cho cùng, thì ông già thầy Liểu nói rằng:

" Thầy nay đã lớn tuổi rồi, cho nên bữa nay tôi muốn nói mà hỏi thầy có ưng nơi nào thì nói ra, cho tôi liệu cho thầy."

" Xin thầy đừng ngại mà từ chối làm chi. Nếu thầy từ chối thì sẽ làm cho vợ chồng tôi buồn bực lắm, tôi không có giàu có muôn hộ chi, song tôi cũng có đủ mà lo cho thầy cách tử tế vì thầy là như con tôi. Còn khi thầy có đôi bạn rồi, mà muốn ra tư riêng thì tôi cũng sẽ lo cho thầy đặng đủ mọi sự, mà lập cơ nghiệp riêng."

"Vậy tôi xin thầy tỏ thật lòng thầy đã ưng nơi nào cho tôi biết ?"

" Tôi trả lời rằng: "Bỏ và vú thấy tôi mồ côi, mà đem tôi về nuôi như con ruột, mà tôi chưa đền ơn ấy được nay bỏ vú lại muốn lo đôi bạn cho tôi nữa, thì tôi khi nào trả nghỉa cho vú bỏ cho xong ơn ấy kể sao cho xiết ?"