Saved from the Sea; Or, The Loss of the Viper, and her Crew's Saharan Adventures
Chapter 4
Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ sắc khéo là cợt nhau. Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy đã đau đớn lòng. Lạ gì bỉ sắc tư phong, Trời xanh quen với má hồng đánh ghen. Cảo thơm lần giở trước đèn, Phong tình có lục còn truyền sử xanh. Rằng: năm Gia Tĩnh triều Minh, Bốn phương phẳng lặng hai Kinh vững vàng Có nhà viên ngoại họ Vương, Gia tư nghĩ cũng thường thường bực trung. Một trai con thứ rốt lòng, Vương Quan là chữ nối dòng nho gia. Đầu lòng hai ả tố nga, Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân. Mai cốt cách tuyết tinh thần, Một người một vẻ mười phân vẹn mười. Vân xem trang trọng khác vời, Tư phong đầy đặn nét ngài nở nang. Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây khoe nước tóc tuyết nhường màu da. Kiều xem sắc sảo mặn mà, So bề tài sắc lại là phần hơn. Hương thu thuỷ vết xuân sơn, Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh. Một hai nghiêng nước nghiêng thành, Sắc đành trọi một tài đành hoạ hai. Thông minh vốn sẵn tư trời, Pha nghề thư hoạ đủ mùi ca ngâm. Cung thương làu bậc năm âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương. Khúc nhà tay lựa nên xoang, Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân. Phong lưu rất mực hồng quần, Xuân xanh xấp xỉ lên tuần cập kê. Êm nềm trướng rủ màn che, Tường đông ong bướm đi về mặc ai. Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi. Cỏ non xanh tạn chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. Thanh minh giữa tiết ngày ba, Lễ là tảo mộ gọi là đạp thanh. Gần xa nô nức yến anh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân. Dập dìu tài tử giai nhân, Ngựa xe như nước áo quần như nen. Ngổn ngang gò đống kéo lên, Thoi vàng vó rắc tro tàn giấy bay. Tà tà bóng ngã về tây, Chị em thơ thẩn dan tay ra về. Bước dần theo ngọn tiểu khê, Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh. Nao nao dòng nước uốn quanh, Nhịp cầu nhỏ nhỏ cuối ghềnh bắc ngang. Trờ trờ nấm đất bên đường, Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh. Rằng: "Sao trong tiết thanh minh, Mà đây hương khói vắng tanh thế mà? Chàng Vương mới dẫn gần xa: Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi. Nổi danh tài sắc một thì, Sán quanh ngoài cửa kém gì yến anh. Kiếp hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương. Có người khách ở viễn phương, “Xa nghe cũng phục tiếng nàng tìm chơi. “Thuyền tình vừa ghé đến nơi, Thì đà trâm gãy bình rơi bao giờ! “Buồng không lạnh ngắt như tờ, Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh. Khóc than khôn xiết sự tình, Khéo vô duyên bấy là mình với ta! “Đã không duyên trước chăng là, “Thì chi chút đích gọi là duyên sau. “Sắm xanh nếp chỉ xe châu, Vùi nông một nấm mặc dầu cỏ hoa. Trải bao thỏ lặn ác tà, Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm! Lòng đâu sẵn mòn thương tâm, Thoạt nghe kiều thoắt đầm đầm châu sa: Đau đớn thay phận đàn bà! Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung. Phũ phàng chi bấy hoá công! Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha. Sống làm vợ khắp người ta, “Hại thay nằm xuống là ma không chồng! Nào người phượng chạ loan chung, Nào người tiếc lục tham hồng là ai? Đã không kẻ đoái người hoài, “Sẵn đây ta cắm một vài nén hương. Gọi là gặp gỡ giữa đường, Hoạ là người dưới suối vàng biết cho. Lầm rầm khấn vái nhỏ to, Sụp ngồi và cáo trước mồ bước ra. Một vùng cỏ áy bóng tà, Gió hiu hiu thổi một vài ngọn lau. Rút trâm sẵn giắt mái đầu, Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần. Lại càng mê mải tâm thần, Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra. Lại càng ủ dột nét hoa, Sầu tuôn đứt nối châu sa vắn dài. Vân rằng: "Chị cũng nực cười, Cũng dư nước mắt khóc người đời xưa! Rằng: "Hồng nhan tự thủa sơ, Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu. Nỗi niềm tưởng đến mà đau, “Thấy người nằm đấy biết sau thế nào?” Quan rằng: "Chị nói hay sao? Một điều là một vận vào khó nghe! Ở đây âm khí nặng nề. Bóng chiều đã ngả dặm về còn xa. Kiều rằng: "Những đấng tài hoa, Thác là thể phách còn là tinh anh. Dễ hay tình lại gặp tình. Chờ xem ắt thấy hiển linh bây giờ! Một lời nói chửa kịp thưa, Phút đâu trận gió cuốn cờ đến ngay. Ào ào gió lốc rung cây, Ở trong dường có hương bay ít nhiều. Đè chừng ngọn gió lần theo, Vết giày từng bước in rêu rành rành. Mặt nhìn ai nấy đều kinh, Nàng rằng: "Này thực tinh thành chẳng xa. “Hữu tình ta lại biết ta, “Chẳng nề u hiển mới là chị em.” Đã lòng hiển hiện cho xem, Tạ lòng nàng lại nối thêm và lời. Lòng thơ lai láng bồi hồi, Gốc cây lại vạch một bài cổ thi. Dùng dằng dở ở dở về, Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần. Trông chừng thấy một văn nhân, Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng. Đề huề lưng túi gió trăng, Sau chân theo một vài thằng con con. Tuyết in sắc ngựa câu giòn, Cỏ pha mùi áo nhuộm non da trời. Nẻo xa mới rõ mặt người, Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình. Giai nhân lần bước dặm xanh, Một vùng như thể cây quỳnh cành dao. Chàng vương quen mặt ra chào, Hai e mặt mặt nép vào dưới hoa. Nguyên người quanh quất đâu xa, Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh. Nền phú hậu bực tài danh, Văn chương nết đất thông minh tính trời. Thiên tư tài mạo tót vời, Vào trong thanh nhã ra ngoài hào hoa. Chung quanh vẫn đất nước nhà, Với Vương Quan trước vẫn là đồng thân. Vẫn nghe thơm nức hương lân, Một nền đồng tước khoá xuân hai kiều. Nước non cách mấy buồng thêu, Những là trộm dấu thầm yêu chốc mòng. May thay giải cấu tương phùng, Gặp tuần đố lá thoả lòng tìm hoa. Bóng hồng nhác thấy nẻo xa, Xuân hương thu cúc mặn mà cả hai. Người quốc sắc kẻ thiên tài, Tình trong như đã mặt ngoài còn e. Chập chờn cơn tỉnh cơn mê, Rốn ngồi chẳng tiện dứt về chỉn khôn. Bóng tà như giục cơn buồn, Khách đà lên ngựa người còn nghé theo. Dưới cầu dải nước trong veo, Bên cầu tơ liễu bóng chiều tha la. Kiều từ trở gót trướng hoa, Mặt trời lặn núi chiêng đà thu không. Gương nga vạnh vạnh đầy song, Vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân. Hải đường lã ngọn đông lân, Giọt sương treo nặng cành xuân la đà. Đăm đăm lặng ngắm bóng hoa, Rộn đường gần với nỗi xa bời bời: Người mà đến thế thì thôi, Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi! Người đâu gặp gỡ làm chi, Trăm năm biết có duyên gì hay không?" Ngổn ngang trăm mối bên lòng, Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình. Chênh chênh bóng nguyệt xế mành, Tựa loan bên triện một mình thiu thiu. Thoắt đâu thấy một tiểu kiều, Có chiều phong vận có chiều thanh tân. Sương in mặt tuyết pha thân, Sen vàng lãng đãng như gần như xa. Chào mừng đon hỏi dò la: “Nguồn đào lạc lối đâu mà đến đây?” Thưa rằng: "Thanh khí xưa nay, “Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên? Hàn gia ở mé tây thiên, Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu. Mấy lòng hạ cố đến nhau, Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng. Vâng trình hội chủ xem tường, Mà xem trong sổ đoạn trường có tên. Âu đành quả kiếp nhân duyên, Cũng người một hội một thuyền đâu xa! Này mười bài mới mới ra, Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời. Kiều vâng lĩnh ý đề bài, Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm. Xem thơ thắc thỏm khen thầm: Giá đành tú khẩu cẩm tâm khác thường! Ví đem vào tập đoạn trường. Thì treo giải nhất chi nhường cho ai! Thềm hoa khách đã trở hài, Nàng còn cầm lại một hai tự tình. Gió đâu sịch bức mành mành Tỉnh ra mới biết là mình chiêm bao. Trông theo nào thấy đâu nào, Hương thừa nhường hãy ra vào đâu đây. Một mình lưỡng lự canh chầy, Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh. Hoa trôi bèo dạt đã đành, Biết đâu mình biết phận mình thế thôi. Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi, Nghĩ đòi cơn lại sụt sùi đòi cơn. Giọng kiều rền rĩ trướng loan, Nhà huyên chợt tỉnh hỏi cơn cớ gì. “cớ chi trằn trọc canh khuya, Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa? Thưa rằng: "Chút phận ngây thơ, Dưỡng sinh đôi nợ tóc tơ chưa đền. Ngày ngày chơi mả đạm tiên, Nhắp đi thoắt thấy ứng liền chiêm bao. Đoạn trường là số thế nào, Bài ra thế ấy vịnh vào thế kia. Cứ trong mộng triệu mà suy, Phận con thôi có ra gì mai sau! Dạy rằng: "Mộng triệu cứ đâu, Bỗng không mua não chuốc sầu nghĩ nao! Vâng lời khuyên giải thấp cao. Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch tương. Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng, Nách tường bông liễu bước sang ngang duềnh. Hiên tà gác bóng chênh chênh, Hãy riêng riêng trạnh tấc riêng một mình. Cho hay là thói hữu tình, Đố ai dứt mối tơ mành cho xong! Chàng kim từ lại thư song, Nỗi nàng cánh cánh bên lòng biếng khuây. Sầu đong càng khắc càng đầy, Ba thu giọn lại một ngày dài ghê! Mây tần khoá kín song the, Bụi hồng liệu nẻo đi về chiêm bao. Tuần trăng khuyết đĩa dầu hao, Mặt mơ tưởng mặt lòng ngao ngán lòng. Buồng văn hơi giá như đồng, Trúc se ngón thỏ tơ chùng phím loan. Mành tương phất phất gió đàn, Hương dây mùi nhớ trà khan giọng tình. Ví chăng duyên nợ ba sinh, Làm chi đem thói khuynh thành trêu ngươi? Bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người, Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi. Một dòng cỏ mọc xanh rì, Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu! Gió chiều như giục cơn sầu, Vi lau hiu hắt như màu cới trêu. Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều, Xăm xăm đè nẻo lam- kiều lần sang. Thẳm nghiêm kín cống cao tường, Cạn dòng lá thắm dứt đường chim xanh. Lơ thơ tơ liễu buông mành, Con oanh học nói trên cành mỉa mai. Mấy lần cửa đóng then cài, Dẫy thềm hoa rụng biết người ở đâu? Tần ngần đứng suốt giờ lâu, Diễu quanh chợt thấy mé sau có nhà. Là nhà ngô việt thương gia, Buồng không để đó người xa chưa về. Lấy điều du học hỏi thuê, Túi đàn cặp sách đề huề dọn sang. Có cây có đá sẵn sàng, Có hiên lãm thuý nét vàng chưa phai. Mừng thầm chốn ấy chữ bài, Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây! Song hồ nửa khép cánh mây, Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông. Tấc gang động khoá nguồn phong, Tuyệt mù nào thấy bóng hồng vào ra. Nhẫn từ quán các lân la, Tuần trăng thấm thoát nay đà tròn hai. Cách tường phải buổi im trời, Dưới đào dường có bóng người thướt tha. Buông cầm xốc áo vội ra, Hương còn ngát sực người đà vắng tanh. Lần theo tường gấm dạo quanh, Trên đào nhác thấy một cành kim thoa. Giơ tay với lấy về nhà, Này trong khuê các đâu mà đến đây? Gẫm âu người ấy, báu này, Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm! Liền tay ngắm nghía biếng nằm, Hãy còn thoang thoảng hương thầm chưa phai. Tan sương đã thấy bóng người, Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ. Sinh đà có ý đợi chờ, Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng: “Thoa đâu bắt được hư không, Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về? Tiếng Kiều nghe lọt bên kia: Ơn lòng quân tử sá gì của rơi. “Chiếc thoa nào của mấy mươi, “Mà lòng trượng nghĩa khinh tài xiết bao!” Sinh rằng: "Lân lý ra vào, Gần đây nào phải người nào xa xôi. “Được rày nhờ chút hơi rơi, Kể đà thiểu não lòng người bấy nay! Bấy lâu mới được một ngày, Dừng chân gạn chút niềm tây gọi là.” Vội vào thêm lấy của nhà, Xuyến vàng hai chiếc khăn là một vuông. Vin mây rón bước ngọn tường, Phải người hôm nọ rõ ràng chẳng nhe? Sượng sùng giữ ý rụt rè, Kẻ nhìn rõ mặt người e cúi đầu. Rằng: "Từ ngẫu nhĩ gặp nhau, “Đắm trông trộm nhớ bây lâu đã chồn. “Xương mai tính đã ròn mòn, “Lần lừa ai biết lại còn hôm nay. “Năm tròn như gởi cung mây, Trần trần một phận ấp cây đã liều. Tiện đây xin một hai điều, Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng? Ngần ngừ nàng mới thưa rằng: Thói nhà băng tuyết chất hằng phỉ phong. Dầu khi lá thắm chỉ hồng, Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha. Nặng lòng xót liễu vì hoa, “Trẻ con đã biết đâu mà dám thưa!” Sinh rằng: "Rày gió mai mưa, Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi. Dầu chăng xét tấm tình si, Thiệt đây mà có ích gì đến ai? “Chút chi nhắn bó một hai, Cho đành rồi sẽ liệu bài mối manh. Khuôn thiêng dầu phụ tấc thành, Cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời. Lượng xuân dầu quyết hẹp hòi, Công đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru! Lặng nghe lời nói như ru, Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng. Rằng: “khi buổi mới lạ lùng, Nể lòng có lẽ cầm lòng cho đang. Đã lòng quân tử đa mang, Một lời vâng tạc đá vàng thuỷ chung. Được lời như cổi tấm lòng, Giở kim châu với khăn hồng trao tay. Rằng: "Trăm năm cũng từ đây, Của tin gọi một chút này làm ghi. Sẵn ta bả quạt hoa quì, Với cành thoa ấy tức thì đổi trao. Một lời vừa gắn tất giao, Mé sau dường có xôn xao tiếng người. Vội vàng lá rụng hoa rơi, Chàng về thư viện nàng rời lầu trang. Từ phen đá biết tuổi vàng, Tình càng thấm thía lòng càng ngẩn ngơ. Sông tương một dải nông sờ, Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia. Một tường tuyết chở sương che, Tin xuân đâu dễ đi về cho năng. Lần lần ngày gió đêm trăng, Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua. Ngày vừa sinh nhật ngoại gia, Trên hai đường dưới nữa là hai em. Tưng bừng sắm áo sửa xiêm, Biện dâng một lễ xa đem tấc thành. Nhà hương thanh vắng một mình, Gẫm cơ hội ngộ đã dành có nay. Thì trân thức thức sẵn bày, Gót sen thoắt thoắt dạo ngay mé tường. Cách hoa sẽ dặng tiếng vàng, Dưới hoa thấy đã có chàng đứng trông. “Trách lòng hờ hững bấy lòng, “Lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu. Những là đắp nhớ đổi sầu, “Tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm.” Nàng rằng: "Gió bắt mưa cầm, đã cam tệ với tri âm bấy chầy. Vắng nhà được buổi hôm nay, “lấy lòng gọi chat ra nơi tạ lòng!” Lần theo núi giả đi vòng, Cuối tường dường có nẻo thông mới rào. Xắn ngang mở mặt động đào, Rẽ mây trông rõ lối vào thiên- thai. Mặt nhìn mặt càng thêm tươi, Bên lời vạn phúc bên lời hàn huyên. Sánh vai về chốn thư hiên, Ngâm lời phong nguyệt nặng nguyền non sông. Trên yên bút giá thi đồng, Đạm thanh một bức tranh tùng treo trên. Phong sương được vẻ thiên nhiên, Phục khen nét bút càng nhìn càng tươi. Sinh rằng: “phác hoạ mới rồi, Phẩm đề xin một vài lời thêm hoa. Tay tiên gió táp mưa sa, Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu. Khen: "Tài nhả ngọc phun châu, Nàng Ban ả Tạ cũng đâu thế này. “Kiếp tu xưa ví chửa dày, “Phúc nào đổi được giá này cho ngang!” Nàng rằng: "Trộm liếc dung quang, Chẳng sân ngọc bội thì phường kim môn. Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn, Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay? Nhớ từ năm hãy thơ ngây, Có người tướng sĩ đoán ngay một lời: Anh hoa phát tiết ra ngoài, Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa. “Trông người lại ngắm vào ta, Một dày một mỏng biết là có nên? Sinh rằng: "Giải cấu là duyên, Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều. “Ví dù giải kết đến điều, “Thì đem vàng đá mà liều với thân!” Đủ điều trung khúc ân cần, Lòng xuân phới phới chén xuân tàng tàng. Ngày vui vắn chẳng đầy gang, Trông ra ác đã ngậm gương non đoài. Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai, Giã chàng, nàng mới kíp dời song sa. Đến nhà vừa thấy tin nhà, Hai thân còn dở tiệc hoa chưa về. Cửa ngoài vội rủ rèm the, Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình. Nhặt thưa gương giọi đầu cành, Ngọn đèn trông suốt trướng huỳnh hắt hiu. Sinh vừa tựa án thiu thiu. Giở chiều như tỉnh giở chiều như mê. Tiếng sen sẽ động giấc hoè, Bóng trăng đã trở hoa lê lại gần. Bâng khuâng đỉnh giáp non thần, Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng. Nàng rằng: "Khoảng vắng đêm trường, “Vì hoa cho phải dò đường tìm hoa. “Bây giờ tỏ mặt đôi ta, Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao? Vội mừng làm lễ rước vào, Đài sen nối sáp song đào thêm hương. Tiên thề cùng trót một chương, Tóc mây một món dao vàng một đôi. Vầng trăng vặc vặc giữa trời, Đinh ninh hai mặt một lời song song. Tóc tơ căn vặn tấc lòng, Trăm năm tạc một chữ đồng tàng xương. Chén hà sánh giọng quỳnh tương, Giải là hương lộn bình gương bóng lồng. Sinh rằng: "Gió mát trăng trong, Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam. Chày sương chưa nện cầu lam, Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng? Nàng rằng: "Hồng diệp xích thằng, Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri. Đừng điều nguyệt nọ hoa kia, Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai. Rằng: "Nghe nổi tiếng cầm đài, Nước non luống những lắng tai chung kỳ. Thưa rằng: "Tiện kỹ sá chi! Đã lòng dạy đến dạy thì phải vâng. Hiên sau treo sẵn cầm trăng, Vội vàng sinh đã tay nâng ngang mày. Nàng rằng: “nghề mọn riêng tây, “Làm chi cho nặng lòng người lắm thăn?” So dần dây võ dây văn, Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương. Khúc đâu sở hán chiến trường, Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau. Khúc đâu Tư Mã hoàng cầu, Nghe ra như oán như sầu phải chăng? Kê Khang này khúc Quảng Lăng, Một rằng lưu Thuỷ hai rằng hành vân. Quá quan này khúc Chiêu Quân, Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia. Trong như tiếng hạc bay qua, Đục như tiếng suối mới sa nửa vời. Tiếng khoan như gió thoảng ngoài, Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa. Ngọn đèn khi tỏ khi mờ, Khiến người ngồi đấy cũng ngơ ngẩn sầu. Khi tựa gối khi cúi đầu, Khi vò chín khúc khi chau đôi mày. Rằng: "Hay thì thật là hay, Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào! “Lựa chi những bực tiêu tao? “Thiệt lòng mình cũng nao nao lòng người?” Rằng: "Quen mất nết đi rồi, Tẻ vui thôi cũng tính trời biết sao. Lời vàng vâng lĩnh ý cao, Hoạ dần dần bớt chút nào được không. Hoa hương càng tỏ thức hồng, Đầu mày cuối mặt càng nồng tấm yêu. Sóng tình xem đã xiêu xiêu, Xem trong âu yếm có chiều lả lơi. Thưa rằng: "đừng lấy làm chơi, Dẽ cho thưa hết một lời đã nao! “Vĩ chi một đoá yêu đào, Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh. Đã cho vào bực bố kinh, Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu. Ra tuồng trên bộc trong dâu, Thì con người ấy ai cầu làm chi! Phải điều ăn xổi ở thì, Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày! “Gẫm duyên kỳ ngộ xưa nay, Lứa đôi ai lại đẹp tày thôi trương. Mây mưa đánh đổ đá vàng, Quá chiều nên đã chán chường yến anh. “Trong khi bày cánh liền cành, “Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên. Mái tây để lạnh hương nguyền, Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng. “Gieo thoi trước chẳng giữ giàng, Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai? Vội chi liễu ép hoa nài, “Còn thân còn một đền bồi có khi!” Thấy lời đoan chính dễ nghe, Chàng càng thêm nể thêm vì mười phân. Bóng tàu vừa lạt vẻ sân. Tin đâu đã đến cửa ngăn gọi vào. Nàng thì vội trở buồng thêu, Sinh thì dạo bước sân đào vội ra. Cửa sài vừa ngỏ then hoa, Gia đồng vào gửi thư nhà mới sang. Đem tin thúc phụ từ đường, Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề. Liêu Dương cách trở sơn khê, Xuân đường kíp gọi sinh về hộ tang. Mắng tin xiết nỗi kinh hoàng, Băng mình lén trước đài trang tự tình. Gót đầu mọi nỗi đinh ninh, Nỗi nhà tang tóc nỗi mình xa xôi: Sự đâu chưa kịp đôi hồi, Duyên đâu chưa kịp một lời trao tơ. “Trăng thềm còn đó trơ trơ, Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng. Ngoài nghìn dặm chốc ba đông, “Mối sầu khi gỡ chưa xong còn chầy. Gìn vàng giữ ngọc cho hay, Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời! Tai nghe ruột rối bời bời, Nhịn ngừng nàng mới giải lời trước sau: Ông tơ ghét bỏ chi nhau, Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi. “Cùng nhau trót đã nặng lời, Dẫu thay mái tóc dám dời lòng tơ. Quản bao tháng đợi năm chờ, Nghĩ người ăn gió nằm mưa xót thầm. “Đã nguyền đôi chữ đồng tâm Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai. Còn non còn nước còn dài, Còn về còn nhớ đến người hôm nay! Dùng dằng chưa nỡ dời tay, Vừng đông trông đã đứng ngay nóc nhà. Ngại ngần một bước một xa, Một lời trân trọng châu sa mấy hàng. Buộc yên quảy gánh vội vàng. Mối sầu sẻ nửa bước đường chia hai. Buồn noi phong cảnh quê người, Tiếng cây quyên nhặt bóng trời nhạn thưa. Não người nghe gió, rằng mưa, Một ngày nặng gánh tương tư một ngày. Nàng thì đứng rũ hiên tây, Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ. Trông chừng khói ngất song thưa, Hoa trôi trác thắm liễu xơ xác vàng. Tần ngần dạo gót lầu trang, Một đoàn mừng thọ ngoại hương mới về. Hàn huyên chưa kịp dã dề, Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao. Người nách thước kẻ tay đao, Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi. Vơ chằng một lão một trai, Một dây vô lại buộc hai thâm tình. Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh, Rụng rời khung dệt tan tành gói may. Đồ tế nhuyễn của riêng tây, Sạch sành sanh quét cho đầy túi tham. Điều đâu bay buộc ai làm? Này ai đan rập giật giàm bỗng dưng? Hỏi ra sau mới biết rằng: Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ. Một nhà hoảng hốt ngẩn ngơ, Tiếng oan dậy đất án ngờ rựng mây. Hạ từ van vái suốt ngày, Điếc tai lân tuất phũ tay tồi tàn. Rường cao rút ngược dây oan, Dẫu người đá cũng nát gan lọ người! Mặt trông đau đớn rụng rời, Oan này còn một kêu trời nhưng xa. Một ngày lạ thói sai nha, Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền. Sao cho cốt nhục vẹn tuyền. Trong khi ngộ biến tòng quyền biết sao? Duyên hội ngộ đức cù lao. Chữ tình chữ hiếu bên nào nặng hơn? Để lời thệ hải minh sơn, Làm con trước phải đền ơn sinh thành. Quyết tình nàng mới hạ tình: “Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha!” Họ chung có kẻ lại già, Cũng trong nha dịch lại là từ tâm. Thấy nàng hiếu trọng tình thâm, Vì nàng nghĩ cũng thương thầm xót vay. Tính bài lót đó luồn đây, Có ba trăm lạng việc này mới xuôi. Hãy cầu tạm phó giam ngoài, Dặn nàng qui liệu trong đôi ba ngày. Thương nàng con trẻ thơ ngây, Gặp cơn vạ gió tai bay bất kỳ. Đau lòng tử biệt sinh ly, Thân còn chả tiếc tiếc gì đến duyên! Hạt mưa sá ngại phận hèn, Liệu đem tấc cỏ quyết đền ba xuân. Sự lòng ngỏ với băng nhân, Tin sương đồn đại xa gần xôn xao. Gần miền có một mụ nào, Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh. Hỏi tên rằng Mã giám sinh, Hỏi quê rằng huyện Lâm Thanh tán gần”. Quá niên trạc ngoại bốn tuần, Râu mày nhẵn nhụi áo quần bảnh bao. Trước thầy sau tớ lao xao, Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang. Ghế trên ngồi tót sắn sàng, Buồng trong mối đã đưa nàng kíp ra. Thềm hoa một bước giọt hoa mấy hàng. Ngại ngùng nản gió e sương, Ngừng hoa bóng thẹn trông gương mặt dày. Mối càng vuốt tóc bắt tay, Nét buồn như cúc điệu gầy như mai. Đắn đo cân sắc cân tài, Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ. Mặn nồng một vẻ một ưa, Bằng lòng khách mới tuỳ cơ dặt dìu. Rằng: "Mua ngọc đến Lam Kiều “Sính nghi xin dạy bao nhiêu đấy chiềng” Mối rằng: “đáng giá nghìn vàng, “Giớp nhà nhờ lượng người thương dám nài.” Cò kè bớt một thêm hai, Giờ lâu ngã giá vâng ngoài bốn trăm. Một lời thuyền đã êm giầm, Hãy đưa canh thiếp trước cầm làm ghi. Định thời nạp thái vu qui. Tiền lưng đã thấy việc gì chẳng xong! Một lời cậy với chung công, Khất từ tạm lĩnh vương ông về nhà. Thương nàng con trẻ cha già, Nhìn nàng ông đã máu sa ruột rầu. Nuôi con những ước về sau, Trao tơ phải lứa gieo cầu đáng nơi. Trời làm chi cực bấy trời! Này ai vu thác cho người hợp tan. “Búa đao bao quản thân tàn, Nỡ đày đoạ trẻ càng oan khốc già. “Một lời sau trước cũng ra, “Thôi thì mặt khuất chẳng thà lòng đau.” Theo lời như chảy dòng châu, Liều mình ông đã gieo đầu tường vôi. Vội vàng kẻ giữ người coi, Nhỏ to nàng lại tìm lời khuyên can: Vĩ chi một mảnh hồng nhan, Tóc tơ chưa chút đền ơn sinh thành. Dâng thư đã thẹn nàng Oanh, Lại thua ả Lý bán mình hay sao? “Đống xuân tuổi hạc càng cao, “Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành. “lòng tơ dù chẳng dứt tình, “Gió mây âu hẳn tan tành nước non. “Thà rằng liều một thân con, Hoa dù rã cánh là còn xanh cây. Phận sao đành vậy cũng vầy, Cầm như chẳng đỗ những ngày còn xanh. “Cũng đừng tính quẩn tính quanh, Tan nhà là một thiệt mình là hai. Phải lời ông cũng êm tai, Nhìn nhau giọt vắn giọt dài ngổn ngang. Mé ngoài họ Mã vừa sang, Tờ hoa đã ký cân vàng mới trao. Trăng già độc địa làm sao? Cầm dây chẳng lựa buộc vào tự nhiên! Trong tay đã sẵn đồng tiền, Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì! Họ chung ra sức giúp vì, Lễ tâm đã đặt tụng kỳ cũng xong. Việc nhà đã tạm thong dong, Tinh kỳ giục giã đã mong độ về. Một mình nàng ngọn đèn khuya, Áo dầm giọt tủi tóc xe mối sầu. Phận rầu dầu vậy cũng dầu, Xót lòng đeo đẳng bấy lâu một lời. Công trình kể biết mấy mươi. Vì ta khăng khít cho người dở dang. “Thề lòng chưa ráo chén vàng, Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa! Trời liêu non nước bao xa, Nghĩ đâu rẽ cửa chia nhà tự tôi! Biết bao duyên nợ thề bồi, Kiếp này thôi thế thì thôi còn gì! Tái sinh chưa dứt hương thề, Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai “Nợ tình chưa trả cho ai, Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan." Nỗi riêng riêng những bàn hoàn, Dầu chong trắng đĩa giọt tràn thấm khăn. Thuý Vân chợt tỉnh giấc xuân, Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han: “Cơ trời dâu bể đa đoan, Một nhà để chị riêng oan một mình. “Một mình ngồi nhẫn tàn canh” “Nỗi riêng còn mắc mưới tình chi đây?” Rằng: "Lòng đương thổn thức đầy, “Con tơ còn vướng mối này chưa xong. “Hở môi ra cũng thẹn thùng, Để lòng thì phụ tấm lòng với ai. Cậy em em có chịu lời, Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa. Giữa đường đứt gánh tương tư, Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em. Kể từ khi gặp chàng kim, Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề. Sự đâu sóng gió bất kỳ, “hiếu tình có nhẽ hai bề vẹn hai. Ngày xuân em hãy còn dài, Xót tình máu mủ thay lời nước non. Chị dù thịt nát xương mòn, Ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây. Chiếc vành với bức tờ mây, Duyên này thì giữ vật này của chung. Dầu em nên vợ nên chồng, Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên. “Mất người gọi chút của tin, Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa. Mai sau dầu có bao giờ, “Đốt lò hương ấy so tơ phím này. Trông ra ngọn cỏ lá cây, Thấy hiu hiu gió thì hay chị về. Hồn còn mang nặng lời thề, “Nát thân bồ liễu còn nghì trúc mai. Dạ đài cách mặt khuất lời, “Rưới xin giọt nước cho người thác oan. Bây giờ trâm gãy gương tan, Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân! “Trăm nghìn gởi lạy tình quân, “Tóc tơ vắn vỏi có ngần ấy thôi. Phận sao phận bạc như vôi! “Đã đành nước chảy bèo trôi lỡ dường. Ối Kim lang! Hỡi Kim lang! “Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ nay!” Cạn lời hồn dứt máu say, Một hơi lặng ngắt đôi tay lạnh đồng. Xuân huyên chợt tỉnh giấc nồng, Một nhà tấp nập kẻ trong người ngoài. Kẻ thang người thuốc bời bời, Mới dầu cơn vựng chưa phai giọt hồng. Hỏi sao ra sự lạ lùng. Kiều càng nức nở mở không ra lời. Nỗi nàng vân mới rỉ tai: Chiếc vành đây với tờ bồi ở đây. Bởi cha làm lỗi duyên mày “Thôi thì nỗi ấy sau này đã em. Vì ai rụng cải rơi kim? Để con bèo nổi mây chìm vì ai? Lời con dặn lại một hai, “Dẫu mòn ngấn đá dám sai tấc vàng.” Lạy thôi nàng lại rén chiềng: “Nhờ cha giả được nghĩa chàng cho xuôi. Thốt chi thân phận tôi đòi, “Dẫu rằng xương trắng quê người quản đâu!” Xiết đâu trong nỗi thảm sầu! Khắc canh lại giục nam lâu mấy hồi. Kiệu hoa đâu đã đến ngoài, Quản huyền đâu đã giục người sinh ly. Đau lòng kẻ ở người đi, Giọt rơi thấm đá tơ chia rũ tằm. Trời hôm mây kéo tối rầm, Rầu rầu ngọn khói đầm đầm cành sương. Rước dâu về đến trú phường, Bốn bề xuân khoá một nàng ở trong. Ngập ngừng thẹn lục e hồng, Nghĩ lòng lại xót xa lòng đòi phen. Phẩm tiên thuở đến tay hèn, Hoài công nắng giữ mưa gìn với ai! Biết thân đến bước lạc loài, Nhị đào thè lấy tay người tình chung. Vì ta ngăn đón gió đông. Thiệt lòng khi ở đau lòng khi đi. Trùng phùng dù hoạ có khi, Thân này thôi có còn gì mà mong. Đã sinh ra số long đong, Còn ôm lấy kiếp má hồng được sao? Trên yên nhác thấy thanh dao, Giấu cầm nàng đã gói vào rọt khăn. Phòng khi nước đã đến chân, Dao này thì liệu với thân phận này. Điểm sầu một khắc một chầy, Bâng khuâng như tỉnh như say một mình. Chẳng là gã mã giám sinh, Vẫn là một đứa phong tình đã quen. Quá chơi lại gặp hồi đen, Quen vùng lại kiếm ăn miền nguyệt hoa. Lầu xanh có mụ tú bà, Làng chơi đã trở về nhà hết duyên. Tình cờ chẳng hẹn mà nên, Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường. Chung lưng mở một cửa hàng, Quanh năm buôn phấn bán gương đã lề. Dạo tìm khắp chợ thì quê, Giả danh hầu hạ dạy nghề ăn chơi. Rủi may âu cũng sự trời, Đoạn trường lại chọn mặt người vô duyên. Xót nàng xót phận thuyền quyên, Cành hoa đi bán vào thuyền lái buôn. Mẹo lừa đã chớm vào khuôn, Sính nghi rẻ giá nghinh hôn sẵn ngày. Mừng thầm cờ đã đến tay, Càng nhìn vẻ ngọc càng say khúc vàng. Đã nên quốc sắc thiên hương, Một cười này hẳn nghìn vàng chẳng ngoa. Về đây nước trước bẻ hoa, Vương tôn quý khách ắt là đua nhau. Ba bốn trăm lạng thử đâu, Cũng đà vừa vốn còn sau thì lời. Miếng ngon kề đến tạn nơi, Vốn nhà cũng tiếc của trời cũng tham. Đào tiên đã bén tay phàm, Thì vin cành quít cho cam sự đời. Dưới trần mấy mặt làng chơi, Chơi hoa chưa dễ mấy người biết hoa. Nước vỏ lựu máu mào gà, Mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên. Mập mờ đánh lận con đen, Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền mất chi? Mụ già hoặc có điều gì, Liều công mất một buổi quì mà thôi. Đến đây đường sá xa xôi, Mà ta bất động nữa người sinh nghi. Tiếc thay một đoá trà mi, Con ong đã mở đường đi lối về! Một cơn mưa gió nặng nề, Thương gì đến ngọc tiếc gì đến hương. Tiệc xuân một giấc mơ màng, Đuốc hoa để đó một nàng ngồi trơ. Giọt riêng tầm tã tuôn mưa, Phần căm nỗi khách phần dơ nỗi mình Tuồng chi là chốn hôi tanh, Thân nghìn vàng để ô danh má hồng. Thôi còn chi nữa mà mong, Đời người thôi thế là xong một đời! Giận duyên tủi phận bời bời, Cầm dao nàng đã toan bài quyên sinh. Nghĩ đi nghĩ lại một mình: Một mình thì chớ hai tình thì sao? Sau dầu sinh sự thế nào, Truy nguyên chẳng kẻo luỵ vào song thân. Đánh liều âu hãy thả dần, Kíp chầy thôi cũng một lần là thôi. Những là đo đắn ngược xuôi, Tiếng gà nghe đã gáy sôi mé tường. Lầu mai vừa rúc còi sương, Mã sinh giục giạo vội vàng ra đi. Đoạn trường thay lúc phân kỳ, Vó câu khấp khểnh bánh xe gập ghềnh. Bề ngoài mười dặm trường đình, Vương Ông gánh tiệc tiễn hành đưa theo. Ngoài thì chủ khách dặt dìu, Một nhà huyên với một kiều ở trong. Nhìn càng lã chã giọt hồng, Rỉ tai nàng mới giải lòng thấp cao: “Vả sinh ra phận thơ đào, Công cha nghĩa mẹ kiếp nào giả xong! “Lỡ làng nước đục pha trong, Trăm năm để một tấm lòng từ đây. Xem gương trong bấy nhiêu ngày, Thân con chẳng kẻo mắc tay bợm già. Khi về bỏ vắng trong nhà, “Khi vào dùi dắng khi ra vội vàng. Khi ăn khi nói lỡ làng, Khi thầy khi tớ xem thường xem khinh. Khác màu kẻ quý người thanh, “Ngắm ra cho kỹ như hình con buôn. Thôi con còn nói chi con, Sống nhờ đất khách thác chôn quê người! Vương Bà nghe bấy nhiêu lời, Tiếng oan đã muốn rạch trời kêu lên. Vài câu chưa cạn chén khuyên, Mé ngoài nghỉ đã giục liền ruổi xe. Xót con lòng nặng bì bì; Trước yên ông lại nằn nì thấp cao: “Xót thân liễu yếu thơ đào, Trất nhà đến nỗi giấn vào tôi ngươi. Từ đây góc bể bên trời, Nắng mưa thủi thủi quê người một thân. Nghìn tầm nhờ bóng tùng quân, Tuyết sương che chở cho thân cát đằng. Cạn lời khách mới thưa rằng: Buộc chân thôi cũng xích thằng nhiệm trao. Mai sau dầu dến thế nào, Kìa gương nhật nguyệt nọ dao quỉ thần. Đùng dùng gió giục mây tần, Một xe trong cõi hồng trần như bay. Trông vời gạt lệ phân tay, Góc trời thăm thẳm ngày ngày đăm đăm. Nàng thì cõi khách xa xăm, Bạc phau cầu giá đen dầm ngàn mây. Vi lau sát sát hơi may, Một trời thu để riêng say một người. Dặm khuya ngắt tạnh mù khơi, Thấy trăng mà thẹn những lời non sông. Rừng thu từng biếc úa hồng, Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn. Những là lạ nước lạ non, Lâm Tri vừa một tháng tròn đến nơi. Xe châu dừng bánh cửa ngoài, Rèm trong đã thấy một người bước ra. Thoắt trông lợt lợt màu da, Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao? Trước xe lơi lả han chào, Vâng lời nàng mới bước vào tạn nơi. Bên thì mấy ả mày ngài, Bên thì ngồi bốn năm người làng chơi. Giữa thì hương nến hẳn hoi, Treo tranh quan thánh trắng đôi lông mày. Lầu xanh quen lối xưa nay, Nghề này thì lấy ông này tiên sư. Hương hôm hoa sớm phụng thờ, Cô nào xấu mẽ cho thưa mối hàng. Cổi xiêm lột áo chán chường, Trước thần sẽ nguyện mảnh hương lầm dầm. Đổi hoa lót dưới chiếu nằm, Bướm ong bay lại ầm ầm tứ vi. Kiều còn liệu đất biết gì, Cứ lời lạy xuống mụ thì khấn ngay: Cửa hàng buôn bán cho may, Đêm đêm hàn thực ngày ngày nguyên tiêu. Muôn nghìn người thấy cũng yêu, “Xôn xao anh yến dập dìu trúc mai. Tin nhạn vẩn lá thơ bời, Đưa người cửa trước rước người cửa sau. Lạ tai nghe chửa biết đâu, Xem tình ra cũng những màu dở dang. Lễ xong hương hoả gia đường, Tú bà vắt nóc lên giường ngồi ngay. Dạy rằng: “con lạy mẹ đây, Lạy rồi thì lạy cậu mày bên kia Nàng rằng: "Phải bước lưu ly, Phận hèn vâng đã cam bề tiểu tinh. điều đâu lấy yến làm anh, “Ngây thơ chẳng biết với danh phận gì. Đủ điều nạp thái vu qui, “Đã khi chung chạ lại khi đứng ngồi. Giờ ra thay bậc đổi ngôi, “Dám xin gửi lại một lời cho minh.” Mụ nghe nàng nói hay tình, Bấy giờ mới nổi tam bành mụ lên: Này này sự đã quả nhiên, “Thôi đà cướp của chồng min đi rồi! “bBo thì đi dạo lấy người, Đem về rước khách kiếm lời mà ăn. “Tuồng vô nghĩa ở vô nhân, Buồn mình trước đã tần mần thử chơi. Màu hồ đã mất đi rồi, Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma! Con kia đã bán cho ta, Nhập gia phải cứ phép nhà tao đây. “Lão kia có giở bài bây, “Chẳng phang vào mặt mà mày đành nghe. Cớ sao chịu tốt một bề, Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao! Phải làm cho biết phép tao! Giật bì tiên rắp sấn vào ra tay. Nàng rằng: "Trời thẳm đất dày! Thân này đã bỏ những ngày ra đi! Thôi thì thôi có tiếc gì! Sẵn dao tay áo tức thì giở ra. Sợ gan nát ngọc liều hoa, Mụ còn trông mặt nàng đà quá tay. Thương ôi tài sắc mực này, Một dao oan nghiệt dứt dây phong trần. Nỗi oan vỡ lở xa gần, Trong nhà người chật một lần như nen. Nàng thì bặt bặt giấc tiên, Mụ thì ngáy ngáy mắt nhìn hồn bay. Vực nàng vào chốn hiên tây, Cắt người xem sóc chạy thầy thuốc men. Nào hay chưa hết trần duyên, Trong mê dường đã đứng bên một nàng. Rỉ rằng: "Nhân quả dở dang, Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao? Số còn nặng nghiệp má đào, “Người dầu muốn quyết trời nào đã cho! Hãy xin hết kiếp liễu bồ, Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau. Thuốc thang suốt một ngày thâu, Giấc mơ nghe đã dầu dầu vừa tan. Tú bà chực sẵn bên màn, Gieo lời ỏn thót mơn man gỡ dần: Một người dễ có mấy thân. Hoa xuân đương nhị ngày xuân còn dài. Cũng là lỡ một lầm hai, Đá vàng sao nỡ ép nài mưa mây! Lỡ chân trót đã vào đây, Khoá buồng xuân để đợi ngày đào non. Người còn thì của hãy còn, Tìm nơi xứng để là con cái nhà. Làm chi tội báo oan gia, Thiệt mình mà hại đến ta hay gì?" Kề tai mấy nỗi nằn nì, Nàng nghe dường cũng thị phi rạch ròi. Vả suy thần mộng mấy lời, Túc nhân thì cũng có trời ở trong. Kiếp này nợ giả chưa xong, Làm chi thì cũng một chồng kiếp sau! Lặng nghe tâm ngẩm cúi đầu, Thưa rằng: "Ai có muốn đâu thế này. “Được như lời thế là may, Hẳn rằng mai có như rày cho chăng! “Lệ khi ong bướm đãi đằng, Đến điều sống đục, sao bằng thác trong! Mụ rằng: "Con hãy thong dong, Phải điều lòng lại dối lòng mà chơi! Mai sau ở chẳng như lời, Trên đầu có bóng mặt trời rạng soi. Thấy lời quyết đoán hẳn hoi, Đành lòng nàng cũng sẽ nguôi nguôi dần. Trước sau ngưng biếc khoá xuân, Vệt non xa tấm trăng gần ở chung. Tư bề bát ngát xa trông, Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia. Bẽ bàng mây sớm đèn khuya. Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng. Tưởng người dưới nguyệt chén đồng, Tin sương luống hãy rày trông mai chờ. Bên trời góc bể bơ vơ, Tấm son gột rửa bao giờ cho phai. Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng đắp lạnh những ai đó giờ? Sân lai cách mấy nắng mưa, Có khi gốc tử đã vừa người ôm. Buồn trông cửa bể gần hôm, Thuyền ai thoáng cánh gió buồm xa xa. Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu? Buồn trông nội cỏ rầu rầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. Buồn trông gió cuốn mặt duềnh, Om thòm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi. Chung quanh những nước non người, Đau lòng lưu lạc nên vài bốn câu. Ngậm ngùi rủ bức rèm châu, Cách lầu nghe có tiếng đâu hoạ vần. Một chàng vừa trạc thanh xuân, Hình dung chải chuốt áo khăn dịu dàng. Nghĩ rằng cũng mạch thư hương, Hỏi ra mới biết rằng chàng sở khanh. Bóng nga thấp thoáng dưới mành. Trông nàng chàng cũng ra tình đeo đai: “Ôi than sắc nước hương trời, Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây? Quế trong trăng hạnh trên mây, Cát hồng nỡ để cho đầy đoạ hoa! Hựu nhất thể vân: Giá đành trong nguyệt trên mây, Hoa sao hoa khéo giã giày bấy hoa? Nổi gan riêng giận trời già, Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng? Thuyền quyên ví biết anh hùng, Ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi! Tiếc điều lầm chẳng biết ta Vể châu vớt ngọc dễ đà như chơi Song thu đã khép cánh ngoài, Tai còn đồng vọng mấy lời sắt đanh. Nghĩ người thôi lại nghĩ mình, Cám lòng chua xót lạt tình bơ vơ. Những là lần lữa nắng mưa, Kiếp phong trần biết bao giờ là thôi? Đánh liều nhắn một hai lời, Nhờ tay tế độ vớt người trầm luân. Mảnh tiên kể hết xa gần, Nỗi nhà báo đáp nỗi thân lạc loài. Hôm dao vừa rạng ngày mai, Tiện hồng nàng mới nhắn lời gửi sang. Trời tây lãng đãng bóng vàng, Phục thư đã thấy tin chàng đến nơi. Mở xem một bức tiên mai, Rành rành tích việt có hai chữ đề. Lấy trong ý tứ mà suy: Ngày hai mươi mốt tuất thì phải chăng? Chim hôm thoi thót về rừng, Giá [trà/đồ] mi đã ngậm trăng nửa mành. Tường đông lay động bóng cành, Đẩy song đã thấy sở khanh lẻn vào. Sượng sùng đánh dạn ra chào, Đoạn thôi nàng mới rỉ trao ân cần. Rằng: “tôi bèo nước xót thân, “Lạc đường mang lấy nợ nần yến oanh. Dám nhờ cốt nhục tử sinh, Còn nhiều kết cỏ ngậm vành về sau. Lặng ngồi thấm thía gật đầu: “Ta đây phải mượn ai đâu mà rằng! Nàng đà biết đến ta chăng, Bể trầm luân lấp cho bằng mới thôi! Nàng rằng: "Muôn sự ơn người, Thế nào xin quyết một bài cho xong? Rằng: "Ta có ngựa truy phong, Có tên dưới trướng vốn dòng kiện nhi. “Thừa cơ lén khẽ ra đi, “Ba mươi sáu chước chước gì lại hơn? Dù khi gió kép mưa đơn, Có ta đây cũng chẳng cơn cớ gì! Nghe lời nàng đã sinh nghi, Song đà quá đến quản gì được thân. Cũng liều nhắm mắt giao chân, Mà xem con tạo xoay vần đến đâu. Cùng nhau lẻn bước dưới lầu, Song song ngựa trước ngựa sau một đoàn. Đêm thu khắc vợỉ canh tàn, Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm gương. Lối mòn cỏ lợt mùi sương, Lòng quê đi một bước đường một đau. Tiếng gà xao xác gáy mau, Tiếng người đâu đã mé sau dậy dàng. Nàng càng thổn thức gan vàng, Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào! Một mình khôn biết làm sao, Dặm rừng bước thấp bước cao hãi hùng. Hoá nhi thật có nỡ lòng, Làm chi giày tía vò hồng lắm nao! Một đoàn đổ đến trước sau, Vuốt đâu dưới đất cánh đâu trên trời? Tú bà tốc thẳng đến nơi, Hăm hăm áp điệu một hơi lại nhà. Hung hăng chẳng hỏi chẳng tra, Đang tay vùi liễu giập hoa tơi bời. Thịt da ai cũng là người, Lòng nào hồng rụng thắm rời chẳng đau. Hết lời thú phục khẩn cầu, Uốn lưng thịt đổ cất đầu máu sa. Rằng: “tôi chút phận đàn bà, “Nước non lìa cửa lìa nhà đến đây. Bây giờ sống thác ở tay, Thân này đã đến thế này thì thôi! Nhưng tôi có sá chi tôi, “Phận tôi đành vậy vốn người để đâu? Thân lươn bao quản lấm đầu, “Chút lòng trinh bạch từ sau cũng chừa” Được lời mụ mới tuỳ cơ, Bắt người bảo lĩnh bắt tờ cung chiêu. Bày vai có ả mã kiều, Xót nàng ra mới đánh liều chịu đoan. Mụ càng kể nhặt kể khoan, Đón rào đến mực nồng nàn mới tha. Vực nàng vào nghỉ trong nhà, Mã kiều lại hở ý ra dặn lời: Thôi đà mắc lận thì thôi! Đi đâu chẳng biết con người Sở Khanh? Bạc tình nổi tiếng lầu xanh, Một tay chôn biết mấy cành phù dung. Đà đao sắp sẵn chước dùng, Lạ gì một cốt một đồng xưa nay! “Có ba trăm lạng trao tay, “Không dưng chi có chuyện này trò kia. Rồi ra trở mặt tức thì, “Bớt lời kêu chớ rầy chi mà đời.” Nàng rằng: "Thề thốt nặng lời, “Có đâu mà lại CÓ người hiểm sâu.” Còn đương suy trước nghĩ sau, Mặt mo đã thấy ở đâu dẫn vào. Sở khanh lên tiếng rêu rao: “Dọ nghe rằng có con nào ở đây, Phao cho quyến gió rủ mây, Hãy xem có biết mặt này là ai? Nàng rằng: "Thôi thế thì thôi, “Rằng không, thì cũng la trời rằng không.” Sở Khanh quát mắng đùng đùng, Bước vào vừa rắp thị hùng ra tay. Nàng rằng: "Trời nhẽ có hay! Quyến anh rủ yến sự này tại ai? Đem người dẩy xuống giếng thơi, Nói rồi rồi lại ăn lời được ngay! Còn tiên tích việt ở tay, Rõ ràng mặt ấy mặt này chớ ai? Lời ngay đông mặt trong ngoài, Ai ai cũng gớm mặt người vô lương. Riêng tình án đã rõ ràng, Dơ tuồng nghỉ mới kiếm đường tháo lui. Buồng riêng riêng những sụt sùi, Nghĩ thân mà lại ngậm ngùi cho thân. Tiếc thay trong giá trắng ngần, Đến phong trần cũng phong trần như ai. Tẻ vui cũng một kiếp người, Hồng nhan phải giống ở đời mãi ru! Kiếp xưa đã vụng đường tu, Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi. Dẫu sao bình đã vỡ rồi, Lấy thân mà giả nợ đời cho xong. Vừa tuần nguyệt sáng gương trong, Tú bà sính lại thong dong dặn dò: Nghề chơi cũng lắm công phu, “Con người ta phải biết cho đủ điều.” Nàng rằng: "Mưa gió dập dìu, Liều thân thì cũng phải liều thế thôi! Mụ rằng: "Ai cũng như ai, “Người ta ai có tiền hoài đến đây? Ở trong còn lắm điều hay, Nỗi đêm khép mở nỗi ngày riêng chung. Này con thuộc lấy làm lòng: Vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề. Chơi cho liễu chán hoa chê, Cho lăn lóc đá cho mê mẫn đời. “Khi khóe hạnh khi nét ngài, Khi ngâm ngợi nguyệt khi cười cợt hoa. Đều là nghề nghiệp trong nhà, Đủ ngần ấy nết mới là người soi. Cúi đầu vâng dạy mấy lời, Dường chau nét nguyệt, dường phai chiều hồng. Những nghe nói đã thẹn thùng, Nước đời lắm nỗi lạ lùng khắt khe! Xót mình cửa các phòng khuê, Vỡ lòng học lấy những nghề nghiệp hay! Khéo là mặt dạn mày dày, Kiếp người đã đến thế này thì thôi! Thương thay thân phận lạc loài, Dẫu sao cũng ở tay người biết sao? Lầu xanh mới rủ trướng đào, Càng treo giá ngọc càng cao phẩm người. Biết bao bướm lả ong lơi, Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm. Dập dìu lá gió cành chim, Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh. Khi tỉnh rượu lúc tàn canh, Giật mình mình lại thương mình xót xa. Khi sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường. Mặt sao dày gió dạn sương, Thân sao bướm chán ong chường bấy thân! Mặc người mưa sở mây tần, Những mình nào biết có xuân là gì. Đòi phen gió tựa, hoa kề, Nửa rèm tuyết ngậm, bốn hè trăng thâu. Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ? Đòi phen nét vẽ câu thơ, Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa. Vui là vui gượng kẻo là, Ai tri âm đó mặn mà với ai? Thờ ơ gió trúc mưa mai, Ngẩn ngơ trăm nỗi dùi mài một thân. Ôm lòng đòi đoạn xa gần, Chẳng vò mà rối chẳng dần mà đau. Nhớ ơn chín chữ cao sâu, Một ngày một ngã bóng dâu tà tà. Dặm nghìn nước thẳm non xa, Nghĩ đâu thân phận con ra thế này! Sân hoè đôi chút thơ ngây, Trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình? Nhớ lời nguyện ước ba sinh, Xa xôi ai có biết tình chăng ai? Khi về hỏi liễu Chương Đài, Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay. Tình sâu mong giả nghĩa dày, Hoa kia đã chắp cây này cho chưa? Mối tình đòi đoạn vò tơ, Giấc hương quan luống những mơ canh dài. Song sa võ võ phương trời, Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng. Lần lần thỏ bạc ác vàng, Xót người trong hội đoạn trường đòi cơn. Đã cho lấy chữ hồng nhan, Làm cho cho hại cho tàn cho cân. Đã đày vào kiếp phong trần, Sao cho xuyết nhục một lần mới thôi. Khách du bỗng có một người, Kỳ tâm họ thúc cũng loài thư hương. Vốn người huyện tích, châu thường, Theo nghiêm thân mở ngôi hàng lâm tri. Hoa khôi mộ tiếng kiều nhi, Thiếp hồng tìm đến hương khuê gửi vào. Trướng tô giáp mặt hoa đào, Vẻ nào chẳng mặn nét nào chẳng ưa. Hải đường mởn mởn cành tơ, Ngày xuân càng gió càng mưa càng nồng. Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng, Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng! Lạ gì thanh khí nhẽ hằng, Một dây một buộc ai giằng cho ra? Sớm đào tối mận lân la, Trước còn trăng gió sau ra đá vàng. Dịp sao may mắn lạ dường, Lại vừa gặp khoảng nghiêm đường lại quê. Sinh càng một tỉnh mười mê, Ngày xuân lắm lúc quên về với xuân. Khi gió gác khi trăng sân, Bầu tiên dốc rượu câu thần nối thơ. Khi hương sớm khi mây trưa, Bàn vây lừa nước đường tơ hoạ đàn. Mệt mờ trong cuộc truy hoan, Càng quen thuộc nết càng dan díu tình. Lạ cho cái sóng khuynh thành, Làm cho đổ quán xiêu đình như chơi. Thúc sinh quen nết bốc rời, Trăm nghìn đổ một trận cười như không. Mụ càng tô lục chuốt hồng, Máu tham ngửi thấy hơi đồng thì mê. Dưới trăng quyên đã gọi hè, Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông. Phòng la phải buổi thong dong, Thang hương rủ bức trướng hồng sạch hoa. Rõ ràng trong ngọc trắng ngà, Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên. Sinh càng tỏ nét càng khen, Ngụ tình tay thảo một thiên luật Đường. Nàng rằng: "Vâng biết lòng chàng, Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu. Hay hèn nhẽ cũng nối điêu, “Nỗi quê nghĩ một hai điều ngang ngang. “Lòng còn gửi áng mây vàng, “Bấn ngòi xin hãy chịu chàng hôm nay.” Rằng: "Sao nói lạ lùng thay! Cành kia chẳng phải cỗi này mà ra? Nàng càng tủi dột thu ba, Đoạn trường lúc ấy dở mà buồn tênh: Thiếp như hoa đã lìa cành, “Chàng như con bướm lựa vành mà chơi. Chúa xuân đành đã có nơi, “Vắn ngày thôi chớ dài lời làm chi!” Sinh rằng: "Từ thuở tương tri, Tấm riêng riêng những nặng vì nước non. Trăm năm tính cuộc vuông tròn, “Phải dò cho đến ngọn nguồn ngác sông.” Nàng rằng: "Muôn đội ơn lòng, Xót e bên thú bên tòng dễ đâu. Bình Khang nấn ná bấy lâu, Yêu hoa yêu được một màu điểm trang. “Rồi ra rữa phấn xao hương, Lòng kia giữ được thường thường mãi chăng? “Vả trong thềm Quế cung trăng, Chủ trương đành đã chị Hằng ở trong. “Bấy lâu khăng khít dải đồng, Thêm người người cũng chia lòng riêng tây. “Vĩ chi chút phận bèo mây, Làm cho bể ái khi đầy khi vơi. Trăm điều ngang ngửa vì tôi, Thân sau ai chịu tội trời ấy cho? Như chàng có vững tay co, Mười phần cũng đắp điếm cho một vài. Thế trong dù lớn hơn ngoài, Trước hàm sư tử gửi người đằng la. “Cúi đầu luồn dưới mái nhà, Giấm chua lại tội bằng ba lửa nồng. Ở trên còn có nhà thung, “Lòng trên trông xuống biết lòng có thương? Sá chi liễu ngõ hoa tường, Lầu xanh lại bỏ ra phường lầu xanh. Lại càng dơ dáng dại hình, Đành thân phận thiếp ngại danh giá chàng. Thương sao cho vẹn thì thương, “Tính sao cho trọn mọi đường thì vâng.” Sinh rằng: "Hay nói đè chừng, Lòng đây lòng đấy chưa từng hay sao? “Đường xa chớ ngại ngô lào, Trăm điều hãy cứ trông vào một ta. Đã gần chi có điều xa, Đá vàng cũng quyết phong ba cũng liều. Cùng nhau căn vặn đến điều, Chỉ non thề bể nặng gieo đến lời. Nỉ non đêm vắn tình dài, Ngoài hiên thỏ đã non đoài ngậm gương. Mượn điều trúc viện thừa lương, Rước về hãy tạm giấu nàng một nơi. Chiến hoà sắp sẵn hai bài, Cậy tay thầy thợ mượn người dò la. Bắn tin đến mặt tú bà, Thua cơ mụ cũng cầu hoà dám sao! Rõ ràng của dẫn tay trao, Lịch dời một thiếp thân vào cửa công. Công riêng hai nhẽ đều xong, Gót tiên trót đã thoát vòng trần ai. Một nhà sum họp trúc mai, Càng sâu nghĩa bể càng dài tình sông. Hương càng sóng lửa càng nồng; Càng sôi vẻ nguyệt càng lồng màu sen. Nửa năm hơi tiếng vừa quen, Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng. Hè thu vừa nảy giò sương, Xe bồ đã thấy xuân đường đến nơi. Phong lôi nổi trận bời bời, Sốt lòng ơi hỡi tính bài phân chia. Quyết ngay biện bạch một bề, Dạy cho má phấn lại về lầu xanh. Thấy lời nghiêm huấn rành rành, Đánh liều sinh mới lấy tình nài kêu. Rằng: "Con biết tội đã nhiều, Dẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam. “Xót vì tay đã giúng chàm, Dại rồi còn biết khôn làm sao đây! Cùng nhau vả tiếng một ngày, Ôm cầm ai nỡ dứt dây cho đành. “Lượng trên quyết chẳng thương tình, Bạc đen thôi có tiếc mình làm chi! Thấy lời vàng đá tri tri, Sốt gan ông mới cáo tì cửa công. Đất bằng nổi sóng đùng đùng, Phủ đường sai lá phiếu hồng thôi tra. Cùng nhau theo gót sai nha. Song song vào trước sân hoa lạy quì. Trông lên mặt sắt đen sì, Lập uy trước đã ra uy nặng lời: Gã kia dại nết chơi bời, “Mà con người ấy là người đong đưa! Tuồng chi hoa thải hương thừa, Mượn màu son phấn đánh lừa con đen. “suy trong tình trạng nguyên đơn, Bề nào thì cũng chưa yên bề nào. Phép công chiếu án luận vào, Có hai đường ấy muốn sao mặc mình: “Một là cứ phép gia hình, Một là lại cứ lầu xanh phó về. Nàng rằng: "đã quyết một bề, “Dện này vương lấy tơ kia mấy lần! Đục trong thân cũng là thân, Yếu thơ vâng chịu trước sân lôi đình. Dạy rằng cứ phép gia hình!" Ba cây chặt lại một cành mẫu đơn. Phận đành chi dám kêu oan, Đào hoen quẹn má liễu tan tác mày. Một sân lầm cát đã đầy, Gương lờ nước thuỷ mai gầy vóc sương. Nghĩ tình chàng thúc mà thương, Nẻo xa trông thấy lòng càng xót xa. Khóc rằng: "Oan khốc vì ta, “Có nghe mình trước chả đà kẻo sau. Cạn lòng chẳng biết nghĩ sâu, Để ai trăng tủi hoa sầu vì ai? Phủ đường nghe thoảng vào tai, Động lòng lại gạn đến lời riêng tây. Sụt sùi chàng mới thưa ngay, Đầu đuôi lại kể sự ngày cầu thân: Nàng đà tính hết xa gần, Từ xưa nàng đã biết thân có rày. “Tại tôi xứng lấy một tay, Để nàng cho đến nỗi này vì tôi. Nghe lời nói cũng thương lời, Dẹp uy mới dạy mở bài giải vi. Rằng: "Như hẳn có thế thì, “Trăng hoa nhưng cũng thị phi biết điều.” Sinh rằng: "Xót phận bọt bèo, “Theo đòi cũng vả ít nhiều bút nghiên” Cười rằng: "đã thế thì nên, Mộc già hãy thử một thiên trình nghề. Nàng vâng cất bút tay đề, Tiên hoa trình trước án phê xem tường. Khen rằng: “giá lạt thịnh đường, Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân. Thực là tài tử giai nhân, “Châu Trần nào có Châu Trần nào hơn! “Thôi đừng chác dữ mua hờn, Làm chi lỡ nhịp cho đàn ngang cung. đã đưa đến trước cửa công, “ngoài thì là nhẽ song trong là tình. Dâu con trong đạo gia đình, Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong! Kíp thì sắm sửa lễ công, Kiệu hoa tinh gió đuốc hồng điểm sao. Bày hàng cổ vũ xôn xao, Song song đưa tới trướng đào sánh đôi. Thương vì nết trọng vì tài. Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba. Huệ hương sực nức một nhà, Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa. Mảng vui rượu sớm cờ trưa, Đào đà bay thắm sen vừa nảy xanh. Trướng hồ vắng vẻ đêm thanh, E tình nàng mới bày tình riêng chung: Phận bồ từ vẹn chữ tòng, “Đổi thay nhạn cá đã cùng đầy niên. “Tin nhà ngày một thầm tin, Mặn tình cát luỹ lạt tình tao khang. “Nghĩ ra thật cũng nên dường, Tăm hơi ai kẻ giữ giàng cho ta? Trộm nghe kẻ lớn trong nhà, Ở vào khuôn phép nói ra mối giường. “E thay những dạ phi thường, “Dễ dò rốn bể khôn lường bụng sông! Mà ta suốt một năm ròng, “Thế nào cũng chẳng giấu giung được nào. “Bây giờ chưa tỏ tiêu hao, Hoặc là trong có làm sao chăng là? “Xin chàng liệu kíp lại nhà, “Trước là đẹp ý sau ta biết tình. Đêm ngày giữ mực giấu quanh, Rày lần mai lữa như hình chưa thông. Nghe lời khuyên dỗ thong dong, Định lòng sinh mới quyết lòng hồi trang. Rạng ra gửi đến xuân đường, Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia. Tiễn đưa một chén quan hà, Xuân đình thoắt đã dạo ra Cao đình. Sông Tần một dải xanh xanh, Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương quan. Cầm tay dài thở ngắn than, Chia phôi ngừng chén hợp tan nghẹn lời. Nàng rằng: "Non nước xa khơi, Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm. Dễ loà yếm thắm trôn kim, “Làm chi bưng mặt bắt chim khó lòng! Đôi ta chút nghĩa đèo bồng, “Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh. “Dù khi mưa gió bất bình, “Lớn đành uy lớn tôi đành phận tôi. “Hơn điều giấu ngược giấu xuôi, Lại mang những việc tày trời đến sau. Thương nhau xin nhớ lời nhau, Năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy. “Chén đưa nhớ bữa lần nay, “Chén mừng xin đợi đêm này năm sau.” Người lên ngựa kẻ chia bâu, Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san. Dặm hồng bụi cuốn chinh an, Trông người đã khuất mấy ngàn cây xanh. Người về chiếc bóng năm canh, Kẻ đi muôn dặm một mình pha phôi. Vừng trăng ai sẻ làm đôi? Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường! Kể chi những nỗi dọc đường. Buồng trong lại nỗi chủ trương ở nhà. Vốn dòng họ hoạn danh gia, Con quan lại bộ gọi là Hoạn Thư. Duyên Đằng thuận nẻo gió đưa, Cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày Ở ăn thì nết cũng hay, Nói điều ràng buộc thì tay cũng già. Từ nghe vườn mới thêm hoa, Miệng người đã lắm tin nhà thì không. Lửa tâm càng dập càng nồng, Giận người đen bạc ra lòng trăng hoa. Ví bằng thú thật cùng ta, Cũng dung kẻ dưới mới là đường trên. Dại chi chẳng giữ lấy nền, Tốt chi mà chác tiếng ghen vào mình? Lại còn bưng bít giấu quanh, Làm chi những thói trẻ ranh nực cười! Tính rằng cách mặt khuất lời, Giấu ta ta cũng liệu bài giấu cho! Lo gì việc ấy mà lo, Kiến trong miệng chén có bò đi đâu? Làm cho nhìn chẳng được nhau, Làm cho đày đoạ cất đầu chẳng lên. Làm cho trông thấy nhãn tiền. Cho người thăm ván bán thuyền biết tay. Trong lòng kín chẳng ai hay, Ngoài tai để mặc gió bay mé ngoài. Trong lòng kín chẳng ai hay, Mách tin ý cũng liệu bài tân công. Tiểu thư nổi giận đùng đùng: “Gớm thay thêu dệt ra lòng trêu ngươi! “Lang quân nào phải như ai, Điều này hẳn bởi những người thị phi! Vội vàng làm dữ ra uy, Đứa thì vả miệng gã thì bẻ răng. Đứa thì vả miệng gã thì bẻ răng. Nào ai còn dám nói năng một lời! Buồng thêu khuya sớm thảnh thơi. Ra vào một mực nói cười như không. Đêm ngày lòng những dặn lòng, Sinh đà về đến lầu hồng xuống yên. Lời tan hợp nỗi hàn huyên, Chữ tình càng mặn chữ duyên càng nồng. Tẩy trần vui chén thong dong, Nỗi lòng ai ở trong lòng mà ra? Chàng về xem ý tứ nhà, Sự mình cũng rắp lân la giải bày. Mấy phen cười tỉnh nói say, Tóc tơ chẳng động mảy may sự tình. Nghĩ là bưng kín miệng bình, Nào ai có khảo mà mình đã xưng! Những là e ấp dùng dằng, Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi. Có khi vui chuyện mua cười, Tiểu thư lại giở những lời đâu đâu. Rằng: "Trong ngọc đá vàng thau, Mười phần ta đã tin nhau cả mười. Khen cho những miệng dông dài, “Bướm ong lại đặt những lời nọ kia. Thiếp dù vụng chẳng hay suy, đã dơ bụng nghĩ lại bia miệng cười! Thấy lời thủng thỉnh như chơi, Thuận lời chàng cũng nói xuôi đỡ đòn, Những là cười phấn cợt son, Đèn khuya chung bóng trăng tròn sánh vai. Non xuân thuần vược bén mùi, Giếng vàng đã nẩy một vài tin ngô. Chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ, Một niềm quan tái mấy mùa gió trăng. Tình riêng chưa dám rỉ răng, Tiểu thư trước đã liệu chừng nhủ qua: Cách năm mây bạc xa xa, “Lâm Tri cũng phải tính mà thần hôn.” Được lời như mở tấc son, Vó câu thẳng ruổi nước non xuân người. Long lanh đáy nước in trời, Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng. Vó câu vừa gióng dặm trường, Xe hương nàng đã thuận đường quy ninh. Thưa nhà huyên hết mọi tình, Nỗi chàng ở bạc nỗi mình chịu đen. Nghĩ rằng: “giận ghẻ hờn ghen, Xấu chàng mà có ai khen chi mình! Vậy nên ngảnh mặt làm thinh, Mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày. Lâm Tri đường bộ tháng chầy, Mà đường hải đạo sang ngay thì gần. Dọn thuyền lựa mặt gia nhân, Hãy đem dây xích buộc chân nàng về. Làm cho cho mệt cho mê, “Làm cho đau đớn ê chề cho coi. Trước cho bõ ghét những người, “Sau cho để một trò cười về sau.” Phu nhân khen chước cũng mầu, Chiều con mới dạy mặc dầu ra tay. Sửa sang buồm gió lèo mây, Khuyển ưng lại chọn một vài côn quang. Dặn dò hết các mọi đường, Thuận phong một lá vượt sang bến tề. Nàng từ chiếc bóng song the, Đường kia nỗi nọ như chia mối sầu. Bóng tang đã xế ngang đầu, Biết đâu ấm lạnh biết đâu ngọt bùi. Tóc thề đã chấm quanh vai, Nào lời non nước nào lời sắt son? Sắn bìm chút phận con con, Hương duyên biết có vuông tròn cho chăng? Thân sao nhiều án bất bằng! Liều như cung Quảng chị Hằng nghĩ nao! Đêm thu gió lọt song đào, Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời. Nén hương đến trước thiên đài, Nỗi lòng khấn chửa cạn lời vân vân. Dưới hoa dậy lũ ác nhân, Ầm ầm khốc quỷ kinh thần mọc ra. Đầy sân gươm tuốt sáng loà, Thất kinh nàng chửa biết là làm sao. Thuốc mê đâu thoắt tưới vào, Mơ màng như giấc chiêm bao biết gì. Dẫy ngay lên ngựa tức thì, Phòng đào viện sách bốn bề lửa chong. Sẵn thây vô chủ bên sông, Đem vào để đó lẫn sòng ai hay? Tôi đòi phách lạc hồn bay, Pha càn bụi cỏ, gốc cây ẩn mình. Thúc ông nhà cũng gần quanh, Chợt trông ngọn lửa thất kinh rụng rời. Tớ thầy chạy thẳng đến nơi, Tơi bời tưới lửa tìm người lao xao. Gió tung ngọn lửa càng cao, Tôi đòi tìm đủ nàng nào thấy đâu. Hớt hơ hớt hải nhìn nhau, Giếng sâu bụi rậm trước sau tìm quàng. Chạy ra chốn cũ phòng hương, Trông than thấy một đống xương cháy tàn. Ngay tình ai biết mưu gian, Hẳn nàng thôi lại có bàn rằng ai. Thúc ông sùi sụt vắn dài, Nghĩ con vắng vẻ thương người nết na. Di hài nhặt gói về nhà, Nào là khâm liệm nào là tang trai. Lễ thường đã vẹn một hai, Lục trình chàng cũng đến nơi bấy giờ. Bước vào chốn cũ lầu thơ, Gieo mình vật vã khóc than: Sang nhà cha tới trung đường, Linh sàng bài vị thờ nàng ở trên. Hỡi ôi nói hết sự duyên, Tơ tình đứt ruột lửa phiền cháy gan. Gieo mình vật vã khóc than: Con người thế ấy thác oan thế này! Chắc rằng mai trúc lại vầy, “Ai hay vĩnh quyết đến ngày đưa nhau!” Thương càng nghĩ nghĩ càng đau, Dễ ai rấp thảm quạt sầu cho khuây. Gần miền nghe có một thầy, Phi phù trí quỉ cao tay thông huyền. Trên tam bảo dưới cửu tuyền, Tìm đâu thì cũng biết tin rõ ràng. Sắm sanh lễ vật đưa sang, Xin tìm cho thấy mặt nàng hỏi han. Đạo nhân phục trước tĩnh đàn, Xuất thần giây phút chưa tàn nén hương. Trở về minh bạch nói tường: Mặt nàng chẳng thấy việc nàng đã tra. “Người này nặng kiếp oan gia, Còn nhiều nợ lắm sao đà thác cho! Mệnh cung đang mắc nạn to, Một năm nữa mới thăm dò được tin. Hai bên giáp mặt chiền chiền, Muốn nhìn mà chẳng dám nhìn lạ thay! Điều đâu nói lạ dường này, Sự nàng là thế lời thầy dám tin. Chẳng qua đồng cốt quàng xiên, Người đâu mà lại thấy trên cõi trần? Tiếc hoa những ngậm ngùi xuân, Thân này dễ lại mấy lần gặp tiên! Nước trôi hoa rụng đã yên, Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian. Khuyển Ưng đã đắt mưu gian, Vực nàng đưa xuống để an dưới thuyền. Buồm cao lèo thẳng cánh suyền, Đè chừng huyện tích băng miền vượt sang. Dỡ đò lên trước sảnh đường, Khuyển Ưng hai đứa nộp nàng dâng công. Vực nàng tạm xuống môn phòng, Hãy còn thiếp thiếp giấc nồng chưa phai. Hoàng lương nghe tỉnh hồn mai, Cửa nhà đâu mất lâu đài nào đây? Bàng hoàng dở tỉnh dở say, Sảnh trên mắng tiếng đòi ngay lên hầu. A hoàn trên dưới giục mau, Hãi hùng nàng mới theo sau mọi người. Nhác trông toà thoáng dãy dài, Thiên quan trủng tể có bài treo trên. Bằng ngày nến thắp hai bên, Trên giường thất bảo ngồi lên một bà. Gạn gùng ngọn hỏi ngành tra, Sự mình nàng đã cứ mà gởi thưa. Bất tình nổi trận mây mưa. Diếc nàng: “Những giống bơ thờ quen thân. Con này chẳng phải thiện nhân, “Chẳng màu trốn chúa thì quân lộn Ra tuồng mèo mả cò đồng, Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào. Đã đem mình bán cửa tao, “Lại còn khủng khiển làm cao thế này! “Gia pháp bơ trẻ nọ bay! Hãy cho ba chục biết tay một lần. A hoàn trên dưới dạ rân, Dẫu rằng trăm miệng khôn phân nhẽ nào. Trúc côn ra sức chập vào, Thịt nào chẳng nát gan nào chẳng kinh. Xót thay đào lý một cành, Một phen mưa gió tan tành một phen. Hoa nô truyền dạy đổi tên, Phòng thêu dạy ép vào phiên thị tì. Ra vào theo lũ thanh y, Dãi dầu tóc rối da chì quản bao. Quản gia có một mụ nào, Thấy người thấy nết ra vào mà thương. Khi chè chén khi thuốc thang, Đem lời phương tiện mở đường hiếu sinh. Dạy rằng: "May rủi đã đành, Liễu bồ mình giữ lấy mình cho hay. Cũng là oan nghiệp chi đây, Sa cơ mới đến thế này chẳng dưng. Ở đây tai vách mạch rừng, Thấy ai người cũ cũng đừng nhìn chi. Kẻo khi sấm sét bất kỳ, Con ong cái kiến kêu gì được oan! Nàng càng giỏ ngọc như chan, No lòng no những bàn hoàn niềm tây. Phong trần kiếp đã chịu đầy, Lầm than cũng có thứ này bằng hai! LÀM sao bạc chẳng vừa thôi? Chằng chằng buộc mãi lấy người hồng nhan. Đã đành túc trái tiền oan, Cũng liều ngọc nát hoa tàn mà chi. Những là nương náu qua thì, Tiểu thư phải buổi mới về ninh gia. Mẹ con trò chuyện lân la, Phu nhân mới gọi nàng ra dạy lời: Tiểu thư dưới trướng thiếu người, “Cho về bên ấy theo đòi đài trang.” Lĩnh lời, nàng mới theo sang, Biết đâu địa ngục thiên đường là đâu. Sớm khuya khăn mặt lược đầu, Phận con hầu giữ con hầu dám sai. Phải đêm êm ả chiều trời, Trúc tơ hỏi đến nghề chơi mọi ngày. Lĩnh lời nàng mới dắt dây, Nỉ non thánh thót dễ say lòng người. Tiểu thư xem cũng thương tài, Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân. Cửa người đày đoạ xót thân, Sớm năn nỉ bóng đêm ân hận lòng. Lâm Tri chút nghĩa đèo bòng, Nước bèo để chữ tương phùng kiếp sau. Bốn phương mây trắng một màu, Trông vời cố quốc biết đâu là nhà? Lần lần tháng lọn ngày qua, Nỗi gần, nào biết đường xa thế này. Lâm Tri từ thủa uyên bay, Phòng không thương kẻ tháng ngày chiếc thân. Mày xanh trăng mới in ngần, Phấn thừa hương cũ bội phần xót xa. Sen tàn mai lại chiếng hoa, Sầu dài ngày vắn đông đà sang xuân. Tìm đâu cho thấy cố nhân? Lấy câu vận mệnh cổi dần nhớ thương. Chạnh niềm nhớ đến gia hương, Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê. Tiểu thư đón cửa dã giề, Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa. Nhà hương cao cuốn bức là, Phòng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng. Bước ra một bước một dừng, Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa. Phải rằng nắng quáng đèn loà, Rõ ràng ngồi đó chẳng là thúc sinh? Bây giờ tình mới rõ tình, Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai! Chước đâu có chước lạ đời, Người đâu mà lại có người tinh ma. Rõ ràng thật lứa đôi ta, Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi. Bề ngoài thớt thớt nói cười, Mà trong nham hiểm chết người không dao. Bây giờ đất thấp trời cao, Ăn làm sao nói làm sao bây giờ? Càng trông mặt càng ngẩn ngơ, Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời, Sợ uy dám chẳng vâng lời, Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều. Sinh đà phách lạc hồn xiêu: Thương ôi chẳng phải nàng kiều ở đây? Nhân làm sao đến thế này? Thôi thôi ta đã mắc tay ai rồi! Sợ quen dám hở ra lời, Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa. Tiểu thư trông mặt hỏi tra: Mới về có việc chi mà động dung? Sinh rằng: "Hiếu phục vừa xong, “Suy lòng trắc dĩ đau lòng chung thiên!” Khen rằng: "Hiếu tử đã nên! Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu Vợ chồng chén tạc chén thù, Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi. Bắt khoan bắt nhặt đến lời, Bắt quì tận mặt bắt mời tận tay. Sinh càng như dại như ngây, Giọt dài giọt vắn chén đầy chén vơi. Dửng đi chợt nói chợt cười, Cáo say chàng đã dạm bài lảng ra. Tiểu thư vội thét: "Con hoa! Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn. Sinh càng nát ruột tan hồn. Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay. Tiểu thư cười tỉnh nói say, Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi. Rằng: "Hoa nô đủ mọi tài, Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe. Nàng đà tán hoán tê mê, Vâng lời ra trước bình the vặn đàn. Bốn dây như khóc như than, Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng. Cùng trong một tiếng tơ đồng, Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm. Giọt châu lã chã khôn cầm, Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương. Tiểu thư lại nạt lấy nàng: Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi! Sao chẳng biết ý tứ gì? Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi. Sinh càng thảm thiết bồi hồi, Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua. Khúc rồng canh đã điểm ba, Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm. Lòng riêng khấp khởi mừng thầm: “Buồn này đã bõ đau ngầm xưa nay!” Sinh thì gan héo ruột dày, Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng. Người vào chung gối loan phòng, Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài. Đến nay mới biết đầu đuôi, Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen! Chước đâu rẽ thuý chia uyên. Ai ra đường nấy ai nhìn được ai? Bây giờ một vực một trời, Hết điều chiều chuộng hết lời thị phi. Nhẹ như bấc nặng như chì, Gỡ sao ra nợ còn gì là duyên? Lỡ dường chút phận thuyền quyên, Bể sâu sóng cả có tuyền được vay? Một mình âm ỷ đêm chầy, Đĩa dầu vơi nước mắt đầy năm canh. Sớm khuya hầu hạ đài doanh, Tiểu thư chạm mặt đè tình hỏi tra. Lựa lời nàng mới thưa qua: Phải khi mình lại xót xa nỗi mình. Tiểu thư lại hỏi thúc sinh: Cậy chàng tra lấy thực tình cho nao. Sinh đà rát ruột như bào, Nói ra chẳng tiện trông vào chẳng xoang. Những e lại luỵ đến nàng, Phô sòng mới sẽ liệu đường hỏi tra. Cúi đầu quì trước sân hoa, Bạch cung nàng mới lên qua một tờ. Diện tiền trình với tiểu thư, Thoắt xem dường có ngẩn ngơ nao tình. Liền tay trao lại thúc sinh, Rằng: "Tài nên trọng mà tình nên thương. Ví sinh có số giàu sang, Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên! Bể trần chìm nổi thuyền quyên, Hữu tài thương nỗi vô duyên lạ đời! Sinh rằng: "Thật có như lời, Hồng nhan bạc mệnh một người nào vay! Nghìn xưa âu cũng thế này, Từ bi âu liệu bớt tay mới vừa. Tiểu thư rằng: "ý trong tờ, Rắp đem mệnh bạc xin nhờ cửa không. Thôi thì thôi cũng chiều lòng, “Cũng cho cho nghỉ trong vòng bước ra. Sẵn Quan Âm Các vườn ta, Có cây trăm thước có hoa bốn mùa. “Có cổ thụ có san hô, “Cho nàng ra đó giữ chùa tụng kinh.” Tưng tưng trời mới bình minh, Hương hoa ngũ cúng sắm sanh lễ thường. Mống đưa đến trước phật đường, Tam qui ngũ giới cho nàng xuất gia. Áo xanh đổi lấy cà sa, Pháp danh lại đổi tên ra trạc tuyền. Sớm khuya tính đủ dầu đèn, Xuân thu cắt sẵn hai tên hương trà. Nàng từ lánh dấu vườn hoa, Dường gần rừng tía dường xa bụi hồng. Nhân duyên đâu lại còn mong? Khỏi điều thẹn phấn tủi hồng thôi thôi. Phật tiền thảm lấp sầu khơi, Ngày pho thủ tự đêm nồi tâm hương. Cho hay giọt nước cành dương, Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên. Sồng nâu từ trở mầu thiền, Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu. Quan phòng then nhặt lưới mau, Nói lời trước mặt rơi châu vắng người. Gác kinh viện sách đôi nơi, Trong gang tấc lại gấp mười quan san. Những là ngâm thở giột than, Tiểu thư phải buổi vấn an về nhà. Thừa cơ sinh mới lẻn ra, Xăm xăm đến mé vườn hoa với nàng. Sụt sùi kể nỗi đoạn trường, Giọt châu tầm tã ướt tràng áo xanh: Rằng cam chịu bạc với tình, “Chúa Đông để tội một mình cho hoa! Thấp cơ thua trí đàn bà, Trông vào đau ruột nói ra ngại lời. “Vì ta cho luỵ đến người, “Cát lầm ngọc trắng thiệt thòi xuân xanh. “Quản chi trên gác dưới duềnh, Cũng toan sống thác với tình cho xong. Tông đường chút chửa cam lòng, Cắn răng bẻ một chữ đồng làm hai. Thẹn mình đá nát vàng phai, Trăm thân dễ chuộc một lời được sao! Nàng rằng: "Chiếc bách sóng đào, “Phù trầm cũng mặc lúc nào rủi may. Chút thân quằn quại vũng lầy, Sống thừa còn tưởng đến rày nữa sao! Cũng liều một giọt mưa rào, Mà cho thiên hạ trông vào cũng hay! “Chút vì cầm đã bám dây, Chẳng trăm năm cũng một ngày duyên ta. Liệu mà ra cửa cho ra, Ấy là tình nặng ấy là ân sâu. Sinh rằng: "Riêng tưởng bấy lâu, “Lòng người nham hiểm biết đâu mà lường. Nữa khi giông tố phũ phàng, “Thiệt riêng đấy cũng lại càng cực đây. “Liệu mà cao chạy xa bay, Ái ân ta có ngần này mà thôi. Bây giờ kẻ ngược người xuôi, Biết bao giờ lại nối lời nước non? Dẫu rằng sông cạn đá mòn, “Con tằm đến chết cũng còn kéoo tơ.” Cùng nhau kể lể sau xưa, Nói rồi lại nói lời chưa hết lời. Mặt trông tay chẳng nỡ rời, Hoa tì đã động tiếng người nẻo xa. Nhịn ngừng nuốt tủi đứng ra, Tiểu thư đâu đã gót hoa bước vào. Cười cười nói nói ngọt ngào, Hỏi: "Chàng mới ở chốn nào lại chơi?" Dối quanh sinh mới liệu lời: Tìm hoa quá bước xem người viết kinh. Khen rằng: "Bút pháp đã tinh, “So vào với thiếp hương đình nào thua! Tiếc thay lưu lạc giang hồ, Nghìn vàng thật cũng nên mua lấy tài. Thiền trà rót nước hồng mai, Thong dong nối gót thư trai cùng về. Nàng càng e lệ ủ ê, Rỉ tai hỏi lại hoa tì trước sau. Hoa rằng: "Bà đến đã lâu, Dón chân đứng núp độ đâu nữa giờ. Rành rành kẽ tóc chân tơ, Mấy lời nghe hết đã dư tỏ tường: Bao nhiêu đoạn khổ tình thương. “Nỗi ông vật vã nỗi nàng thở than. Ngăn tôi đứng lại một bên, Chán tai rồi mới bước lên trên lầu. Nghe thôi kinh hãi xiết đâu: “Đàn bà dường ấy thấy âu một người! Ấy mới gan ấy mới tài! “Nghĩ càng thêm nghĩ sởn gai rụng rời. Người đâu sâu sắc nước đời, “Mà chàng thúc thủ ra người bó tay. Thực tang bắt được dường này, “Máu ghen ai cũng cau mày cắn răng. “Thế mà êm chẳng đãi đằng, Chào mời vui vẻ nói năng dịu dàng. Giận ru ra dạ thế thường, Cười ru mới thực khôn lường hiểm sâu. Thân ta ta phải lo âu, Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này. Ví chăng gieo cánh cao bay, Rào cây lâu cũng có ngày bẻ hoa. Phận bèo bao quản nước sa, Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh. Chỉn e quê khách một mình, Tay không chưa dễ tìm vành ấm no. Nghĩ đi nghĩ lại quanh co. Phật tiền, sẵn có mọi đồ kim ngân. Bên mình giắt để hộ thân, Lần nghe canh đã một phần trống ba. Cất mình qua ngọn tường hoa, Lần đường theo bóng trăng tà về tây. Mịt mù dặm cát đồi cây, Tiếng gà điếm cỏ dấu giày cầu sương. Canh khuya thân gái dặm trường, Chỉn e đường sá phần thương dãi dầu. Trời đông vừa rạng ngàn dâu, Bơ vơ nào đã biết đâu là nhà. Chùa đâu trông thấy nẻo xa, Rành rành “chiêu ẩn am” ba chữ bài Xăm xăm gõ cửa bước vào Trụ trì nghe tiếng rước mời vào trong. Thấy màu ăn mặc nâu sồng, Giác Duyên sư trưởng lành lòng liền thương. Gạn gùng ngành ngọn cho tường, Lạ lùng nàng hãy tìm đường nói quanh: Tiểu thiền quê ở Bắc Kinh, Quy sư quy Phật tu hành bấy lâu. Bản sư rồi cũng đến sau, Dạy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh. Rày vâng diện hiến rành rành, Chuông vàng khánh bạc bên mình giở ra. Xem qua sư mới dạy qua: “phải nơi hằng thuỷ là ta hậu tình. “hiền đồ đường sá một mình, ở đây chờ đợi sư huynh ít ngày, Gởi thân được trốn am mây, Muối dưa đắp đổi tháng ngày thong dong, Kệ kinh câu cũ thuộc lòng, Hương đèn việc cũ trai phòng quen tay. Sớm khuya ra mái phên mây, Ngọn đèn khêu nguyệt tiếng chày nện sương. Thấy nàng thông tuệ khác thường, Sư càng nể mặt nàng càng vững chân. Cửa thiền vừa trăng cuối xuân, Bóng hoa đầy đất vẻ ngân ngang trời. Gió quang mây tạnh thảnh thơi, Có người đàn việt lên chơi cửa già. Giở đồ chuông khánh xem qua, Khen rằng: “khéo hệt của nhà Hoạn nương!” Giác Duyên thực ý lo lường, Đêm thanh mới hỏi lại nàng trước sau. Nghĩ rằng khôn nỗi giấu mầu, Sự mình nàng mới gót đầu bày ngay: Bây giờ sự đã dường này, Phận hèn dù rủi dù may tại người. Giác Duyên nghe nói rụng rời, Nửa thương nửa sợ bồi hồi chẳng xong. Rỉ tai nàng mới dãi lòng: Ở đây cửa phật là không hẹp gì. E chăng những sự bất kỳ, Để nàng cho đến thế thì cũng thương. Lánh xa trước liệu tìm đường, Ngồi chờ nước đến nên dường còn quê. Có nhà mụ Bạc bên kia, Am mây quen lối đi về dầu hương. Nhắn sang dặn hết mọi đường, Dọn nhà hãy tạm cho nàng chứa chân. Những mừng được chốn an thân, Vội vàng nào kịp tính gần tính xa. Nào ngờ cũng tổ bợm già, Bạc bà học với Tú bà đồng môn. Thấy nàng lạt phấn nhàm son, Mừng thầm được thóp bán buôn có lời. Hư không đặt bỏ nên lời, Nàng đà sớn sác rụng rời lắm phen. Mụ càng xoi dói cho len, Lấy lời hung hiểm ép duyên châu trần. Rằng: "Nàng muôn dặm một thân, “Lại mang nhứng tiếng dữ gần lành xa. Khéo oan gia của phá gia, Còn ai dám chứa vào nhà nữa đây. Kíp toan kiếm chốn xe dây, Không dưng chưa dễ mà bay đường trời. “Nơi gần thì chẳng tiện nơi, Nơi xa thì chẳng có người nào xa. Này chàng bạc hạnh cháu nhà, Cũng trong thân thích ruột rà chẳng ai. “Cửa nhà buôn bán châu Thai, Thật thà có một đơn sai chẳng hề. Thế nào nàng cũng phải nghe. Thành thân rồi sẽ liệu về châu Thai. “bấy nay ai lại biết ai, Dầu lòng bể rộng, sông dài thênh thênh. Nàng dù chẳng quyết thuận tình. Trái lời nẻo trước luỵ mình đến sau. Nàng càng mặt ủ mày chau, Càng nghe mụ nói càng đau như dần. Nghĩ mình túng đất sẩy chân, Thế cùng nàng mới xa gần thở than: Thiếp như con én lạc đàn, “Phải cung rày đã sợ bàn máy cung. Cùng đường dù tính chữ tòng, Biết người biết mặt biết lòng làm sao? Nữa khi muôn một thế nào, “Bán hùm buôn quỷ chắc vào lưng đâu? Dù ai lòng có sở cầu, Tâm minh xin quyết với nhau một lời. Chứng minh có đất có trời, Bấy giờ vượt bể ra khơi quản gì. Được lời mụ mới ra đi, Mách tin họ Bạc tức thì náy sinh. Một nhà dọn dẹp linh đình, Quét sân đặt trác rửa bình thắp hương. Bạc sinh quì xuống vội vàng, Quá lời nguyện hết Thành hoàng Thổ công. Trước sân lòng đã giải lòng, Trong màn làm lễ Tơ hồng kết duyên. Thành thân mới rước xuống thuyền, Thuận buồm một lá xuôi miền châu Thai. Thuyền vừa đỗ bến thảnh thơi, Bạc sinh lên trước tìm nơi mọi ngày. Cũng nhà hàng viện xưa nay, Cũng phường bán thịt cũng tay buôn người. Xem người định giá vừa rồi, Mối hàng một đã ra mười thì buông. Mượn người thuê kiệu rước nàng, Bạc đem mặt bạc kiếm đường cho xa. Kiệu hoa đặt trước thềm hoa, Bên trong thấy một mụ ra vội vàng. Đưa nàng vào lạy gia đường, Cũng thần mày trắng cũng phường lầu xanh. Thoạt trông nàng đã biết tình, Chim lồng khôn nhẽ cất mình bay cao. Chém cha cái số hoa đào, Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi! Nghĩ đời mà ngán cho đời, Tài tình chi lắm cho trời đất ghen! Tiếc thay nước đã đánh phèn, Mà cho bùn lại nhuốm lên mấy lần! Hồng quân với khách hồng quần, Đã xoay đến thế còn hằn chưa tha. Lỡ từ lạc bước bước ra, Cái thân liệu những từ nhà liệu đi. Đầu xanh đã tội tình gì? Má hồng đền quá nửa thì chưa thôi. Biết thân chạy chẳng khỏi trời, Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh. Lần thâu gió mát đêm thanh, Bỗng đâu có khách biên đình đến chơi. Râu hùm cằm én mày ngài, Vai năm tấc rộng thân mười thước cao. Đường đường một đấng anh hào, Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài. Đội trời đạp đất ở đời, Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông. Giang hồ quen thú vẫy vùng, Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo. Qua chơi thấy tiếng nàng Kiều, Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng. Thiếp danh đưa đến lầu hồng, Hai bên cùng liếc hai lòng cùng ưa. Từ rằng: “tâm đảm tương cờ, Phải người trăng gió vật vờ hay sao! Bấy lâu nghe tiếng má đào, “Mắt xanh chẳng để ai vào có không? Một đời được mấy anh hùng, Bõ chi cá chậu chim lồng mà chơi! Nàng rằng: "Người dạy quá lời, Thân này còn dám xem ai làm thường. Đốt than chọn đá thử vàng, Biết đâu mà gởi can trường vào đâu? Còn như vào trước ra sau, Ai cho kén chọn vàng thau tại mình? Từ rằng: "Lời nói hữu tình, Khiến người lại nhớ câu bình nguyên quân. Lại đây xem lại cho gần, Phỏng tin được một vài phần hay không. Thưa rằng: "Lượng cả bao dung, Tấn Dương được thấy mây rồng có phen. Rộng thương cỏ nội hoa hèn, Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau. Nghe lời vừa ý gật đầu, Cười rằng: “tri kỉ trước sau mấy người! Khen cho con mắt tinh đời, “Anh hùng đứng giữa trần ai mới già. Một lời đã biết đến ta, Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau. Hai bên ý hợp tâm đầu, Khi thân chẳng lọ là cầu mới thân. Ngỏ lời nói với băng nhân, Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn. Phòng riêng sửa chốn thanh nhàn, Đặt giường thất bảo vây màn bát tiên. Trai anh hùng gái thuyền quyên, Phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng. Nửa năm hương lửa đương nồng, Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương. Trông vời trời bể mênh mang, Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng dong. Nàng rằng: "Phận gái chữ tòng, “Chàng đi thiếp cũng quyết lòng xin đi”. Từ rằng: “tâm đảm tương tri, Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình. Bao giờ mười vạn tinh binh, “tiếng đồng dậy đất bóng tinh rợp đường. Làm cho rõ mặt phi thường, “Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia. Bằng nay bốn bể không nhà, Theo càng thêm bận biết là đi đâu? Đành lòng chờ đó ít lâu, Chầy chăng là một năm sau vội gì! Quyết lời dứt áo ra đi, Gió mây bằng đã đến kỳ dặm khơi. Nàng thì chiếc bóng song mai, Đêm thâu đẵng đẵng nhặt cài then mây. Sân rêu chẳng vẽ dấu giày, Cỏ cao hơn thước liễu gầy và phân. Đoái thương muôn dặm tử phần, Hồn quê theo ngọn mây tần xa xa. Xót thay huyên cỗi xuân già, Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi. Chốc là mười mấy năm trời, Còn ra khi đã da mồi tóc sương. Tiếc thay chút nghĩa cũ càng, Dầu lìa tơ chỉ còn vương tơ lòng. Duyên em dầu nối tơ hồng, May ra khi đã tay bồng tay mang. Tấc niềm cố quốc tha hương. Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời. Cánh hồng bay bổng tuyệt vời, Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm. Đêm ngày luống những âm thầm, Lửa binh đâu đã ầm ầm một phương. Ngất trời sát khí mơ màng, Đầy sông kình ngạc chật đường giáp binh. Người quen thuộc kẻ chung quanh, Rủ nàng hãy tạm lánh mình một nơi. Nàng rằng: "Trước đã hẹn lời, “Dẫu trong nguy hiểm dám rời ước xưa!” Còn đang dùi dắng ngẩn ngơ, Mé ngoài đã thấy ngọn cờ tiếng la. Giáp binh kéo đến quanh nhà, Đồng thanh cùng gởi: “nào là phu nhân?” Hai bên mười vị tướng quân, Đặt gươm cởi giáp trước sân khấu đầu. Cung nga thể nữ nối sau, Rằng: "Vâng lệnh chỉ rước chầu vu qui." Sẵn sàng phượng liễn loan nghi, Hoa quan giấp giới hà y rõ ràng. Dựng cờ nổi trống lên đường, Trúc tơ nổi trước đào vàng kéo sau. Hoả bài tiền lộ ruổi mau, Nam đình nghe động trống chầu đại doanh. Kéo cờ luỹ phát súng thành, Từ công ra ngựa thân nghênh cửa ngoài. Rỡ mình lạ vẻ cân đai, Hãy còn hàm én mày ngài như xưa. Cười rằng: "Cá nước duyên ưa, Nhớ lời nói những bao giờ hay không? Anh hùng mới biết anh hùng, Rày xem phỏng đã cam lòng ấy chưa? Nàng rằng: "Chút phận ngây thơ, Cũng may dây cát được nhờ bóng cây. Đến bây giờ mới thấy đây, Mà lòng đã chắc những ngày một hai. Cùng nhau trông mặt cả cười, Dan tay về chốn trướng mai tự tình. Tiệc bày thưởng tướng khao binh, Om thòm trống trận rập rình nhạc quân. Vinh hoa bõ thuở phong trần, Chữ tình ngày lại thêm thân một ngày. Trong quân nhân lúc vui vầy, Thong dong mới kể sự ngày hàn vi: Khi vô tích khi lâm tri, Nơi thì lừa đảo nơi thì xót thương. Tấm thân rày đã nhẹ nhàng, Chút còn ân oán đôi đường chưa xong. Từ công nghe hết thuỷ chung, Bất bình nổi giận đùng đùng sấm vang. Nghiêm quân chọn tướng sẵn sàng, Dưới cờ một lệnh vội vàng ruổi sao. Ba quân chỉ ngọn cờ đào, Đạo ra vô tích đạo vào lâm tri. Mấy người phụ bạc xưa kia, Chiếu danh tìm chọn bắt về đợi tra. Lại sai lệnh tiễn truyền qua, Giữ giàng họ thúc một nhà cho yên. Mụ quản gia vãi giác duyên, Cũng sai lệnh tiễn đem tin rước mời. Thệ sư kể hết mọi lời, Lòng lòng cũng giận người người chấp uy. Đạo trời báo phục chỉn ghê, Khéo thay một mẻ tóm về đòi nơi. Quân trung gươm lớn giáo dài, Vệ trong thị lập cơ ngoài song phi. Sẵn sàng tể chỉnh uy nghi, Bác đồng chật đất tinh kỳ vầy sân. Trướng hùm mở giữa trung quân, Từ công sánh với phu nhân cùng ngồi. Tiên nghiêm trống chửa dứt hồi Điểm danh trước dẫn chực ngoài cửa viên. Từ rằng: "ân oán hai bên, Mặc nàng xử quyết báo đền cho minh. Nàng rằng: “nhờ cậy uy linh, Hãy xin báo đáp ân tình cho phu. “Báo ân rồi sẽ giả thù.” Từ rằng: “việc ấy đây cho mặc nàng.” Cho gươm truy đến Thúc lang, Mặt như chàm đổ thân dường [dẽ/cầy] run. Nàng rằng: "Nghĩa nặng nghìn non, Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không? “Sâm Thương chẳng vẹn chữ đồng, Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân? Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân, “Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là. Vợ chàng quỷ quái tinh ma, Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau. Kiến bò miệng chén chưa lâu, Mưu sâu cũng giả nghĩa sâu cho vừa. Thúc sinh trông mặt bấy giờ, Bồ hôi chàng đã như mưa ướt dầm. Lòng riêng mừng sợ khôn cầm, Sợ thay mà lại mừng thầm cho ai. Mụ già sư trưởng thứ hai, Thoắt đưa đến trước vội mời rước lên. Dắt tay mở mặt cho nhìn: Hoa nô kia với trạc tuyền cũng tôi. Nhớ khi lỡ bước sẩy vời, Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương. Nghìn vàng gọi chút lễ thường. “Mối lòng Phiếu Mẫu mấy vàng cho cân.” Hai người trông mặt tần ngần, Nửa phần khiếp sợ nửa phần mừng vui. Nàng rằng: "Xin hãy rốn ngồi, Xem cho rõ mặt biết tôi báo thù. Kíp truyền chư tướng hiến phù. Lại đem các tích phạm tù hầu tra. Dưới cờ gươm tuốt mai ra, Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư. Xa trông nàng đã chào sơ: Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây! Đàn bà dễ có mấy tay, Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan! “ Dẽ dàng là thói hồng nhan, Càng cay ngặt lắm càng oan trái nhiều! Hoạn Thư phách lạc hồn xiêu, Khấu đầu dưới trướng lựa điều kêu ca. Rằng: “tôi chút dạ đàn bà, Ghen tuông thì cũng người ta thường tình. Nghĩ cho khi gác viết kinh, Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo. “Lòng riêng riêng cũng kính yêu, Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai. Trót lòng gây việc chông gai, Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng. Khen cho: "Thật đã nên rằng, Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời, Tha ra thì cũng may đời, Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen. đã lòng tri quá thời nên. Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay. Tạ lòng lạy trước sân mây, Cửa viên lại dắt một dây dẫn vào. Nàng rằng: "Lộng lộng trời cao, Hại nhân nhân hại sự nào tại ta! Trước là Bạc hạnh Bạc bà, Bên là Ưng Khuyển bên là Sở Khanh. Tú bà cùng Mã giám sinh, Các tên tội ấy đáng tình còn sao? Lệnh quân truyền xuống nội đao, Thề sao thì lại cứ sao gia hình. Máu rơi thịt nát tan tành, Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời. Cho hay muôn sự tại trời, Phụ người chẳng bỏ khi người phụ ta. Mấy người bạc ác tinh ma, Mình làm mình chịu kêu mà ai thương! Ba quân đông mặt pháp trường. Thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi. Việc nàng báo phục vừa rồi, Giác Duyên vội đã gởi lời từ quy. Nàng rằng: "Thiên tải nhất thì, Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn. Rồi đây bèo hợp mây tan, “Biết đâu hạc nội mây nhàn là đâu. Sư rằng: “cũng chẳng mấy lâu, Trong năm năm lại gặp nhau đó mà. Nhớ ngày hành cước phương xa, Gặp sư tam hợp vốn là tiên tri. Bảo cho hội hợp chi kỳ, Năm nay là một nữa thì năm năm. Mới hay tiền định chẳng lầm, đã tin điều trước ắt nhằm việc sau. Còn nhiều ân ái với nhau, Cơ duyên nào đã hết đâu vội gì! Nàng rằng: "Tiền định tiên tri, Lời sư đã dạy ắt thì chẳng sai. Hoạ bao giờ có gặp người, Vì tôi cậy hỏi một lời chung thân. Giác Duyên vâng dặn ân cần, Tạ từ thoắt đã dời chân cõi ngoài. Nàng từ ân oán rạch ròi, Sát oan dường đã vơi vơi góc lòng. Tạ ơn lạy trước từ công: “Chút thân bồ liễu nào mong có rày! Trộm nhờ sấm sét ra tay, Tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi, Chạm xương chép dạ xiết chi, Dễ đem gan óc đền nghì trời mây! Từ rằng: "Quốc sĩ xưa nay, Chọn người tri kỷ một ngày được chăng? Anh hùng tiếng đã gọi rằng, Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha! Huống chi việc cũng việc nhà, Lọ là thâm tạ với là tri ân. Xót nàng còn chút song thân, “Bây nay kẻ Việt người Tần cách xa. “Sao cho muôn dặm một nhà, Cho người thấy mặt là ta cam lòng. Vội truyền sửa tiệc quân trung, Muôn binh nghìn tướng hội đồng tẩy oan. Thừa cơ trúc chẻ ngói tan, Binh uy từ ấy sấm ran trong ngoài. Triều đình riêng một góc trời, Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà. Đòi cơn gió quét mưa sa, Huyện thành đạp đổ năm toà cõi nam. Phong trần mài một lưỡi gươm, Những loài giá áo túi cơm sá gì. Nghênh ngang một cõi biên thuỳ, Thiếu gì cô quả thiếu gì bá vương! Trước cờ ai dám tranh cường, Năm năm hùng cứ một phương hải tần. Có quan tổng đốc trọng thần, Là Hồ Tôn Hiến kinh luân gồm tài. Dẫy xe vâng chỉ đặc sai, Tiện nghi bát tiễu việc ngoài đổng nhung. Biết Từ là đấng anh hùng, Biết nàng cũng dự quân trung luận bàn. Đóng quân làm chước chiêu an, Ngọc vàng gấm vóc sai quan thuyết hàng. Lại riêng một lễ với nàng, Hai tên thể nữ ngọc vàng nghìn cân. Tin vào gửi trước trung quân, Từ công riêng nghĩ mười phân hồ đồ. Một tay gây dựng cơ đồ, Bây lâu bể Sở sông Ngô tung hoành. Bó thân về với triều đình, Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu? Áo xiêm buộc trói lấy nhau, Vào luồn ra cúi công hầu mà chi? Sao bằng riêng một biên thuỳ, Sức này đã dễ làm gì được nhau! Chọc trời quấy nước mặc dầu, Dọc ngang nào biết trên đầu có ai! Nàng thì thật dạ tin người, Lễ nhiều nói ngọt nghe lời dễ xiêu. Thì mình mặt nước cánh bèo, Đã nhiều lưu lạc đã nhiều gian truân. Bằng nay chịu tiếng vương thần. Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì! Công tư vẹn cả hai bề, Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương. Cũng ngôi mệnh phụ đường đường, Nở nang mày mặt rỡ ràng mẹ cha. Trên vì nước dưới vì nhà, Một là đắc hiếu hai là đắc trung. Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng, E dè sóng gió hãi hùng cỏ hoa. Nhân khi bàn bạc gần xa, Thừa cơ nàng mới bàn ra nói vào. Rằng: “trong Thánh Đế dồi dào, Tưới ra đã khắp thấm vào đã sâu. Bình thành công đức bấy lâu, “Ai ai cũng đội trên đầu biết bao. Ngẫm từ dấy việc binh đao, Đống xương vô định đã cao bằng đầu. Làm chi để tiếng về sau, “Nghìn năm ai có khen đâu hoàng sào! Sao bằng lộc trọng quyền cao, “Công danh ai dắt lối nào cho qua?” Nghe lời nàng nói mặn mà, Thế công từ mới trở ra thế hàng. Chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng, Hẹn kỳ thúc giáp quyết đường giải binh. Tin lời thành hạ yêu minh, Ngọn cờ ngơ ngác trống canh trễ tràng. Việc binh bỏ chẳng giữ giàng, Vương sư dòm đã tỏ tường thực hư. Hồ công quyết kế thừa cơ, Lễ tiên binh hậu khắc cờ tập công. Kéo cờ chiêu phủ tiên phong, Lễ nghi dàn trước bác đồng phục sau. Từ công hờ hững biết đâu? Đại quan lễ phục ra đầu cửa viên. Hồ công ám hiệu trận tiền, Ba bề phát súng bốn bên kéo cờ. Đang khi bất ý chẳng ngờ, Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn. Tử sinh liều giữa trận tiền, Dạn dày cho biết gan liền tướng quân. Khí thiêng khi đã về thần, Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng. Trơ như đá vững như đồng, Ai lay chẳng chuyển ai rung chẳng rời. Quan quân truy sát đuổi dài, Ù ù sát khí ngất trời ai đang. Trong hào ngoài luỹ tan hoang, Loạn quân vừa dắt tay nàng đến nơi, Trong vòng tên đá bời bời, Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ trơ. Khóc rằng: "Trí dũng có thừa, Bởi nghe lời thiếp đến cơ hội này! Mặt nào trông thấy nhau đây? “Thè liều sống chết một ngày với nhau.” Dòng thu như xối cơn sầu, Dứt lời nàng cũng gieo đầu một bên. Lạ thay oan khí tương triền! Nàng vừa phục xuống từ liền ngã ra. Quan quân kẻ lại người qua, Xót nàng sẽ lại vực ra dần dần. Đem vào đến trước trung quân, Hồ công thấy mặt ân cần hỏi han. Rằng: "Nàng chút phận hồng nhan, Gặp cơn binh cách nhiều nàn cũng thương. Đã hay thành toán miếu đường, Giúp công cũng có lời nàng mới nên. Bây giờ sự đã vẹn tuyền, “Mặc lòng nghĩ đó muốn xin bề nào.” Nàng càng nhỏ ngọc tuôn dào, Ngập ngừng mới gởi thấp cao sự lòng. Rằng: "Từ là đấng anh hùng, Dọc ngang trời rộng vẫy vùng bể khơi. Tin tôi nên quá nghe lời, Đưa thân bách chiến làm tôi triều đình. Ngỡ là phu quí phụ vinh, Ai ngờ một phút tan tành thịt xương! Năm năm trời bể ngang tàng. Đem mình đi bỏ chiến trường như không. Khéo khuyên kể lấy làm công, Kể bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu! Xét mình công ít tội nhiều, Sống thừa tôi đã nên liều mình tôi. Xin cho thiển thổ một doi, “Gọi là đắp để lấy người tử sinh.” Hồ công nghe nói thương tình, Truyền cho kiểu táng di hình bên sông. Trong quân mở tiệc hạ công, Xôn xao tơ trúc hội đồng quân quan. Bắt nàng thị yến dưới màn, Dở say lại ép vặn đàn nhặt tâu. Một cung gió tủi mưa sầu, Bốn cung nhỏ máu năm đầu ngón tay. Ve ngâm vượn hót nào tầy, Lọt tai hồ cũng nhăn mày rơi châu. Hỏi rằng: "Này khúc ở đâu? Nghe ra muôn oán nghìn sầu lắm thay! Thưa rằng: “bạc phận khúc này, Phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ. Cung đàn lựa những ngày xưa. Mà gương bạc mệnh bây giờ là đây! Nghe càng đắm đắm càng say, Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình! Dạy rằng: "Hương lửa ba sinh. Dây loan xin nối cầm lành cho ai. Thưa rằng: "xót phận lạc loài. Trong mình nghĩ đã có người thác oan. Còn chi nữa cánh hoa tàn, Tơ lòng đã dứt dây đàn Tiểu Lân. “Rộng cho còn mảnh hồng quần, Hơi tàn được thấy gốc phần là may. Hạ công chén đã quá say, Hồ công đến lúc rạng ngày nhớ ra. Nghĩ mình phương diện quốc gia, Quan trên nhắm xuống người ta trông vào. Phải tuồng trăng gió hay sao. Sự này biết tính thế nào được đây? Tảo nha vừa buổi sáng ngày, Quyết tình CÔNG mới đoán ngay một bài. Lệnh quan ai dám han lời, Ép tình là gán cho người thổ quan. Ông tơ thật nhẽ đa đoan! Xe tơ chửa khéo: vơ càn vơ xiên! Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền, Lá màn rủ thấp ngọn đèn khêu cao. Nàng càng ủ liễu phai đào, Trăm phần nào có phần nào phần tươi? Đành thân cát dập sóng vùi, Cướp công cha mẹ thiệt đời thông minh. Chân trời mặt biển lênh đênh, Nắm xương biết gửi tử sinh chốn nào? Duyên đâu ai dứt tơ đào, Nợ đâu ai đã dắt vào tạn tay? Thân sao thân đến thế này? Còn ngày nào cũng dư ngày ấy thôi. Đã không biết sống là vui, Hoài thân nào biết thiệt thòi là thương. Một mình cay đắng trăm đường, Thôi thì nát ngọc tan vàng thì thôi. Mảnh gương đã ngậm non Đoài, Một mình luống những đứng ngồi chưa xong. Triều đâu nổi tiếng đùng đùng, Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường, Nhớ lời thần mộng rõ ràng, Này thôi hết kiếp đoạn trường là đây! “Đạm Tiên nàng nhẽ cho hay! “Hẹn ta thì đợi dưới này rước ta.” Dưới đèn sẵn bức tiên hoa, Một thiên tuyệt bút gọi là để sau. Cửa bồng vội thác rèm châu, Trời cao bể rộng một màu bao la. Rằng: "Từ Công hậu đãi ta, Chút vì việc nước mà ra phụ lòng. Giết chồng mà lại lấy chồng, “Mặt nào mà lại đứng trong cõi đời? “Thôi thì một thác cho rồi, Tấm lòng phó mặc trên trời, dưới sông. Trông vời con nước mênh mông, Đem mình gieo xuống giữa dòng Trường Giang. Thổ quan theo vớt vội vàng, Thì đà đắm ngọc chìm hương đã rồi, Thương thay cũng một thân người, Hại thay mang lấy sắc tài làm chi! Những là oan khổ lưu ly, Chờ cho hết kiếp còn gì là thân! Mười lăm năm bấy nhiêu lần, Làm gương cho khách hồng quần thử soi! Đời người đến thế thì thôi, Trong cơ âm cực dương hồi khôn hay. Mấy người vì nghĩa xưa nay, Trời làm chi đến lâu ngày càng thương! Giác Duyên từ tiết giã nàng, Treo bầu quảy níp rộng đường vân du. Gặp bà tam hợp đạo cô, Thong dong hỏi hết nhỏ to sự nàng: Người sao hiếu nghĩa đủ đường, Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi? Sư rằng: "Phúc hoạ đạo trời, Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra. Có trời mà cũng tại ta, Tu là cỗi phúc tình là dây oan. Thuý Kiều sắo sảo khôn ngoan, Vô duyên là phận hồng nhan đã đành. Lại mang lấy một chữ tình, Khư khư mình buộc lấy mình vào trong. “Vậy nên những chốn thong dong, Ở không yên ổn ngồi không vững vàng. “ma giủi lối quỷ đem đường, “Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi. Hết nan ấy đến nạn kia, Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần. Giữa vòng giáo dựng gươm trần, Kề răng hùm sói gửi thân tôi đòi. “Giữa vòng nước dẫy sóng giồi, “Trước hàm rồng cá gieo mồi thủy tinh. Oan kia theo mãi với tình, Một mình mình biết một mình mình hay. “Làm cho sống đoạ thác đày, Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi. Giác Duyên nghe nói rụng rời: Một đời nàng nhẽ thương ôi còn gì! Sư rằng: "Song chẳng hề chi, Nghiệp duyên cân lại nhắc đi còn nhiều. Xét trong tội nghiệp thuý kiều, Mắc điều tình ái khỏi điều tà dâm. “Kấy tình thâm giả tình thâm, Bán mình đã động hiếu tâm đến trời. “Hại một người cứu muôn người, Biết đường khinh trọng biết lời phải chăng. Thửa công đức ấy ai bằng? Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi. Khi nên trời cũng chiều người, Nhẹ nhàng nợ trước đền bồi duyên sau. Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau, “Tiền Đường thả một bè lau rước người. Trước sau cho vẹn một lời, Duyên ta mà cũng phúc trời chi không! Giác Duyên nghe nói mừng lòng, Lân la tìm thú bên sông Tiền Đường. Đánh tranh chụm nóc thảo đường, Một gian nước biếc mây vàng chia đôi. Thuê năm ngư phủ hai người, Đóng thuyền chực bến kết chài giăng sông. Một lòng chẳng quảng mấy công, Khéo trong gặp gỡ cũng trong chuyển vần! Kiều từ gieo xuống duềnh ngân, Nước xuôi bỗng đã trôi dần tạn nơi. Ngư ông kéo lưới vớt người, Gẫm lời tam hợp rõ mười chẳng ngoa. Trên mai lướt sướt áo là, Tuy dầm hơi nước chưa loà bóng gương. Giác duyên nhìn thật mặt nàng, Nàng còn thiếp thiếp giấc vàng chưa phai. Mơ màng phách quế hồn mai, Đạm Tiên thoắt lại thấy người ngày xưa. Rằng: “tôi đã có lòng chờ, “Mất công đã mấy năm thừa ở đây. “Chị sao phận mỏng đức dày, Kiếp này cũng vậy lòng này dễ ai! Tấm thành đã thấu đến trời, Bán mình là hiếu cứu người là nhân “Một mình vì nước vì dân. “Dương công cất một đồng cân đã già. Đoạn trường sổ rút tên ra, “Đoạn trường thơ phải nghênh mà giả nhau. “Còn nhiều hưởng thụ về lâu, “Duyên xưa tròn trặn phúc sau dồi dào.” Nàng còn ngơ ngẩn biết sao, Trạc tuyền! Nghe tiếng gọi vào bên tai. Giật mình thoắt tỉnh giấc mai, Bâng khuâng nào đã biết ai mà nhìn. Trong thuyền nào thấy Đạm Tiên? Bên mình chỉ thấy Giác Duyên ngồi kề. Thấy nhau mừng rỡ trăm bề, Dọn thuyền mới rước nàng về thảo lư. Một nhà chung chạ sớm trưa, Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng. Tư bề bát ngát mênh mông, Triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau. Nạn xưa trút sạch làu làu, Duyên xưa chưa dễ biết đâu chốn này. Nỗi nàng tai nạn đã đầy, Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương. Từ ngày muôn dặm phù tang, Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà. Vội sang vườn thuý dò la, Nhìn phong cảnh cũ nay đà khác xưa. Đầy vườn cỏ mọc lau thưa, Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời. Trước sau nào thấy bóng người, Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. Xập xè én lạnh lầu không, Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày. Cuối tường gai góc mọc đầy, Đi về này những lối này năm xưa. Chung quanh lạnh nhẵn như tờ, Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai? Láng giềng có kẻ sang chơi, Lân la sẽ hỏi một hai sự tình. Hỏi ông ông mắc tụng đình, Hỏi nàng nàng đã bán mình chuộc cha. Hỏi nhà nhà đã dời xa, Hỏi chàng Vương Quan cùng là Thuý Vân. Đều nay sa sút khó khăn, Thuê may bán viết kiếm ăn lần hôi. Điều đâu sét đánh lưng trời, Thoạt nghe chàng thoắt rụng rời xiết bao. Vội han di trú nơi nao, Đánh đường chàng mới tìm vào tạn nơi. Nhà tranh vách đất tả tơi, Lau treo rèm nát trúc gài phên thưa. Một sân đất cỏ dầm mưa, Càng ngao ngán nỗi càng ngơ ngẩn dường. Đánh liều lên tiếng ngoài tường. Chàng Vương nghe tiếng vội vàng chạy ra. Dắt tay vội rước vào nhà, Mé sau viên ngoại ông bà ra ngay. Khóc than kể hết niềm tây: Chàng ôi biết nỗi nước này cho chưa? Kiều nhi phận mỏng như tờ, Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng. Gặp cơn gia biến lạ dường, Bán mình nó phải tìm đường cứu cha. Dùng dằng khi bước chân ra, Cực trăm nghìn nỗi dặn ba bốn lần. Trót lời nặng với lang quân, Mượn con em nó Thuý Vân thay lời. Gọi là giả chút nghĩa người, Sầu này dặc dặc muôn đời chưa quên. Kiếp này duyên đã phụ duyên, “Dạ đài còn biết sẽ đền lai sinh. Mấy lời ký chú đinh ninh, Ghi lòng để dạ cất mình ra đi. Phận sao bạc mấy kiều nhi! “Chàng kim về đó con thì ở đâu?” Ông bà càng nói càng đau, Chàng càng nghe nói càng rầu như dưa. Vật mình gào gió tuôn mưa, Dầm dề giọt ngọc thẫn thờ hồn mai. Đau đòi đoạn ngất đòi thôi, Tỉnh ra lại khóc khóc rồi lại mê. Thấy chàng đau nỗi biệt ly, Nhịn ngừng ông mới vỗ về tới khuyên: “Bây giờ ván đã đóng thuyền, Đã đành phận bạc khôn đền tình chung. Quá thương chút nghĩa đèo bòng. “Nghìn vàng thân ấy thì hòng bỏ sao?” Dỗ dành khuyên giải trăm chiều, Lửa phiền khôn dập càng khêu mối phiền. Thề xưa giở đến kim hoàn, Của xưa lại giở đến đàn đến hương. Sinh càng trông thấy càng thương, Gan càng tức tối ruột càng xót xa. Rằng: “Tôi trót quá chân ra, Để cho đến nỗi trôi hoa dạt bèo. Cùng nhau thề thốt đã nhiều Những điều vàng đá phải điều nói không! Chưa chăn gối cũng vợ chồng, “Lòng nào mà nỡ dứt lòng cho đang. Bao nhiêu của mấy ngày đường, Còn tôi tôi một gặp nàng mới thôi. Nỗi thương nói chẳng hết lời, Tạ từ sinh mới sụt sùi trở ra. Vội về sửa chốn vườn hoa, Rước mời viên ngoại ông bà cùng sang. Thần hôn chăm chút lễ thường, Dưỡng thân thay tấm lòng nàng ngày xưa. Đinh ninh mài lệ chép thơ, Cắt người tìm tõi đưa tờ nhắn nhe. Biết bao công mượn của thuê, Lâm Tri mấy độ đi về dặm khơi. Người một nơi hỏi một nơi, Mênh mông nào biết bể trời nơi nao? Sinh càng thảm thiết khát khao, Như nung gan sắt như bào lòng son. Ruột tằm ngày một héo don. Tuyết sương ngày một hao mòn hình ve. Thẩn thơ lúc tỉnh lúc mê, Máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao. Xuân huyên lo sợ xiết bao, Quá ra khi đến thế nào mà hay! Vội vàng sắm sửa chọn ngày, Duyên vân sớm đã tính dây cho chàng. Người yểu điệu kẻ văn chương, Trai tài gái sắc xuân đương KỊP thì. Dẫu rằng vui chữ vu quy, Vui này đã cất sầu kia được nào! Khi ăn ở lúc ra vào, Càng âu duyên mới càng dào tình xưa. Nỗi nàng nhớ đến bao giờ, Tuôn châu đòi trận vò tơ trăm vòng. Có khi vắng vẻ hương phòng, Đốt lò hương giở phím đồng ngày xưa. Bẻ bai rẩu rĩ tiếng tơ, Trầm bay nhạt khói gió đưa lay rèm Dường như bên chái trước thềm, Tiếng Kiều đồng vọng bóng xiêm mơ màng. Bởi lòng tạc đá ghi vàng, Tưởng nàng nên lại thấy nàng về đây. Những là phiền muộn đêm ngày, Xuân thu biết đã đổi thay mấy lần? Chế khoa gặp hội trường văn, Vương Kim cùng chiếm bảng xuân một ngày. Cửa trời rộng mở đường mây, Hoa chào ngõ hạnh hương bay dặm phần. Chàng Vương nhớ đến xa gần, Sang nhà Chung lão tạ ơn chu tuyền. Tình xưa ơn giải nghĩa đền, Gia thân bèn mới kết duyên Châu Trần. Chàng càng nhẹ bước thanh vân, Nỗi nàng càng nghĩ xa gần càng thương. Ấy ai dặn ngọc thề vàng, Bây giờ Kim mã Ngọc đường với ai? Ngọn bèo chân sóng lạc loài, Nghĩ mình vinh hiển thương người lưu ly. Vâng ra ngoại nhậm Lâm Tri, Quan sơn nghìn DẶM thê nhi một đoàn. Cầm đường ngày tháng thanh nhàn, Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao. Phòng xuân trướng rủ hoa đào, Nàng Vân nằm bỗng chiêm bao thấy nàng. Tỉnh ra mới rỉ cùng chàng, Nghe lời chàng cũng hai đường tin nghi. Nọ Lâm Thanh với Lâm Tri, Khác nhau một chữ hoặc khi có lầm. Trong cơ thanh khí tương tầm, Ở đây hoặc có giai âm chăng là? Thăng đường chàng mới hỏi tra, Họ đô có kẻ lại già thưa lên: “Sự này đã ngoại thập niên, Tôi đà biết mặt biết tên rành rành. Tú bà cùng Mã giám sinh, đi mua người ở Bắc Kinh đưa về. Thuý Kiều tài sắc ai bì! Có nghề đàn lại đủ nghề văn thơ. Kiên trinh chẳng phải gan vừa, “Liều mình thế ấy phải lừa thế kia. Phong trần chịu đã ê chề, Dây duyên sau lại gả về Thúc lang. Phải tay vợ cả phũ phàng, Bắt về Vô Tích toan đường bẻ hoa. Dứt mình nàng phải trốn ra, Chẳng may lại gặp một nhà Bạc kia. Thoắt buôn về thoắt bán đi, Mây trôi bèo nổi thiếu gì là nơi! Bỗng đâu lại gặp một người, “Hơn người trí dũng nghiêng trời uy linh. “Trong tay muôn vạn tinh binh, Kéo về đóng chật một thành Lâm Tri. Tóc tơ các tích mọi khi, “Oán thì giả oán ân thì giả ân. Đã nên có nghĩa có nhân, Trước sau trọn vẹn xa gần ngợi khen. Chưa tường được họ được tên, Sự này hỏi Thúc Sinh viên mới tường. Nghe lời đô nói rõ ràng, Tức thì đưa thiếp mời chàng Thúc Sinh. Nỗi nàng hỏi hết phân minh, Chồng con đâu tá tính danh là gì. Thúc rằng: “gặp lúc lưu ly, “Trong quân tôi hỏi thiếu gì tóc tơ. Đại vương tên Hải họ Từ, Đánh quen trăm trận sức dư muôn người. Gặp nàng ngày ở châu thai, Lạ gì quốc sắc thiên tài phải duyên. Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên, Làm nên động địa kinh thiên đùng đùng. Đại quân đồn đóng cõi đông, Về sau chẳng biết vân mồng làm sao? Nghe tường ngành ngọn tiêu hao, Lòng riêng chàng luống lao đao thẫn thờ. Xót thay chiếc lá bơ vơ, Kiếp trần biết rũ bao giờ cho xong? Hoa trôi nước, nước xuôi dòng, Xót thân chìm nổi đau lòng hợp tan! Lời xưa đã lỗi muôn vàn, Mảnh gương còn đó phím đàn còn đây. Đàn cầm khéo ngẩn ngơ dây, Lửa hương biết có kiếp này nữa thôi? Bình bồng còn chút xa xôi, Đỉnh chung sao nỡ ăn ngồi cho an! Rắp mong treo ấn từ quan, Mấy sông cũng lội mấy ngàn cũng pha. Dấn mình trong áng can qua, Vào sinh ra tử hoạ là thấy nhau. Nghĩ điều trời thẳm vực sâu, Bóng chim tăm cá biết đâu mà nhìn! Những là nấn ná đợi tin, Nắng mưa biết đã mấy phen đổi dời? Năm mây bỗng thấy chiếu trời, Khâm ban sắc chỉ đến nơi rành rành: Kim thì cải nhậm nam bình, Chàng Vương cũng cải nhậm thành Hoài Dương. Sắm xanh xe ngựa vội vàng, Hai nhà cũng thuận một đường phó quan. Xảy nghe thế giặc đã tan, Sóng êm Phúc Kiến lửa tàn Chiết Giang. Được tin Kim mới rủ Vương. Tiện đường cùng lại tìm nàng sau xưa. Hàng Châu đến đó bây giờ, Thật tin hỏi được tóc tơ rành rành. Rằng: "Ngày hôm nọ giao binh, Thất cơ từ đã thu linh trận tiền. Nàng Kiều công cả chẳng đền, Lệnh quân lại bắt ép duyên thổ tù. Nàng đà gieo ngọc chìm châu, Sông Tiền Đường đó ấy mồ hồng nhan. Thương ôi! Không hợp mà tan, Một nhà vinh hiển riêng oan một nàng! Chiêu hồn thiết vị lễ thường, Giải oan lập một đàn tràng bên sông. Ngọn triều non bạc trùng trùng, Vời trông còn tưởng cánh hồng lúc gieo. Tình thâm biển thảm lạ điều, Nào hồn tinh vệ biết theo chốn nào? Cơ duyên đâu bỗng lạ sao, Giác Duyên đâu bỗng tìm vào đến nơi. Trông lên linh vị chữ bài, Chợt kinh mới hỏi: “những người đâu ta? Với nàng thân thích gần xa, “Người còn sao bỗng làm ma khóc người?” Nghe tin ngơ ngác rụng rời, Xúm quanh kể họ rộn lời hỏi tra: Này chồng này mẹ này cha, Này là em ruột này là em dâu. Thật tin nghe đã bấy lâu, Pháp sư dạy thế sự đâu lạ dường! Sư rằng: “Nhân quả với nàng, Lâm Tri buổi trước Tiền Đường buổi sau. “Khi nàng gieo ngọc đáy sâu, “Đón theo tôi đã gặp nhau rước về. Cùng nhau nương cửa Bồ đề, Thảo am đó cũng gần kề chẳng xa. Phật tiền ngày bạc lân la, Đăm đăm nàng cũng nhớ nhà khôn khuây. Nghe tin nở mặt mở mày, Mừng nào lại quá mừng này nữa chăng? Từ phen chiếc lá lìa rừng, Thăm tìm luống những liệu chừng nước mây. Rõ ràng hoa rụng hương bay, Kiếp sau hoạ thấy kiếp này hẳn thôi. Minh dương đôi ngả chắc rồi. Cõi trần mà lại thấy người Cửu Nguyên. Quây nhau lạy tạ Giác Duyên, Bộ hành một lũ theo liền một khi. Pha lau vạch cỏ tìm đi, Tình thâm luống hãy hồ nghi nửa phần. Quanh co theo dải giang tân, Khỏi rừng lau đã tới sân phật đường. Giác Duyên lên tiếng gọi nàng, Phòng trong vội khiến sen vàng bước ra. Nhìn xem đủ mặt một nhà, Xuân già còn khoẻ huyên già còn tươi. Hai em phương trưởng hoà hai, Nọ chàng Kim đó là người ngày xưa! Tưởng bây giờ là bao giờ, Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao. Sụt sùi thánh thót quẹn bào, Mừng mừng sợ sợ xiết bao là tình. Huyên già dưới gối gieo mình, Khóc than mình kể sự mình đầu đuôi: Từ con lưu lạc quê người, “Bèo trôi sóng vỗ chốc mười năm năm. Tính rằng sông nước cát lầm, “Kiếp này ai lại còn cầm gặp đây!” Ông bà trông mặt cầm tay, Dung quang chẳng khác chi ngày bước ra. Bấy chầy dãi nguyệt dầu hoa, Mười phần xuân có gầy ba bốn phần. Nỗi mừng ông lấy chi cân? Lời tan hợp chuyện xa gần thiếu đâu. Hai em hỏi trước han sau, Đứng trông nàng đã trở sầu làm tươi. Quây nhau lạy trước Phật đài, Tái sinh trần tạ lòng người từ bi. Kiệu hoa giục rước tức thì, Vương Ông dạy rước cùng về một nơi. Nàng rằng: "Chút phận hoa rơi. Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay. Tính rằng mặt nước chân mây, Lòng nào còn tưởng có rày nữa không? “Thì rày tái thế tương phùng, Khát khao đã thoả tấm lòng lâu nay. Đã đem mình bỏ am mây, Tuổi này gửi với cỏ cây cũng vừa. Mùi thiền đã bén muối dưa, Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng. “Sự đời đã tắt lửa lòng, “Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi! Dở dang nào có hay gì, Đã tu tu trót qua thì thì thôi! Trùng sinh ơn nặng bể trời, Lòng nào nỡ dứt nghĩa người ra đi? Ông rằng: "Bỉ thử nhất thì, Tu hành thì cũng phải khi tòng quyền. Phải điều cầu phật cầu tiên, “Tình kia hiếu nọ ai đền cho đây? Độ sinh nhờ đức cao dày, “Lập am rồi sẽ lên thầy ở chung.” Nghe lời nàng đã chiều lòng, Giã sư giã cảnh đều cùng bước ra. Một đoàn về đến quan nha, Đoàn viên vội mở tiệc hoa vui vầy. Tàng tàng chén cúc dở say, Đứng lên vân mới giãi bày một hai. Rằng: "Trong tác hợp cơ trời, “Hai bên gặp gỡ một lời kết giao. Gặp cơn bình địa ba đào, Vậy đem duyên chị rước vào cho em. Cũng là phận cải duyên kim, Cũng là máu chảy ruột mềm chớ sao? Những là rày ước mai ao, “Mười năm năm ấy biết bao nhiêu tình! Bây giờ gương vỡ lại lành, Khuôn thiêng lừa lọc đã dành có nơi. Còn duyên may lại còn người, Còn vừng trăng bạc còn lời nguyền xưa. “Quả mai ba bảy khi vừa, Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì. Dứt lời nàng vội gạt đi: “Sự muôn năm cũ kể chi bây giờ? Một lời tuy có ước xưa, “Xét mình dãi gió dầu mưa đã nhiều. Nói càng hổ thẹn trăm chiều, “Thè cho ngọn nước thuỷ triều chảy xuôi.” Chàng rằng: "Nói cũng lạ đời, Dẫu lòng kia vậy còn lời ấy sao? Một lời đã trót thâm giao, “Dưới trời có đất trên cao có trời. “Dẫu rằng vật đổi sao dời, Tử sinh cũng giữ lấy lời tử sinh. “Duyên kia có phụ chi mình, Mà toan chia gánh chung tình làm hai? Nàng rằng: "Gia thất duyên hài. “Xót lòng ân ái ai ai cũng lòng. “Nghĩ rằng trong sự vợ chồng, “hoa thơm phong [nhị] trăng vòng tròn gương. “Chữ trinh đáng giá nghìn vàng, “Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa. Thiếp từ ngộ biến đến giờ, Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa. “Bấy chầy gió táp mưa sa, “Mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn. Còn chi là cái hồng nhan, Đã xong thân thế còn toan nỗi nào? Nghĩ mình chẳng hổ mình sao? Dám đem trần cấu dự vào bố kinh! Đã hay chàng nặng vì tình, “Trông hoa đèn chẳng tủi mình lắm ru! Từ rày khép cửa phòng thu, “Chẳng tu thì cũng là tu mới là. “Chàng dù nghĩ đến gần xa, Đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ. Nói chi kết tóc xe tơ, “Đã buồn cả bụng mà nhơ cả đời.” Chàng rằng: “Khéo nói nên lời, Mà trong nhẽ phải có người có ta. Xưa nay trong đạo đàn bà, Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường. Có khi biến có khi thường, Có quyền nào phải một đường chấp kinh. Như nàng lấy hiếu làm trinh, Bụi nào cho đục được mình ấy vay? “Trời còn để có hôm nay, “Tan sương biết ngõ áng mây giữa trời. Hoa tàn mà lại thêm tươi, “Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa. Có điều chi nữa mà ngờ, “Khách qua đường để hững hờ chàng Tiêu!” Nghe chàng nói đã hết điều, Hai thân thì cũng quyết theo một bài. Hết lời khôn nhẽ chối lời, Cúi đầu nàng những vắn dài thở than. Nhà vừa mở tiệc đoàn viên, Hoa soi ngọn đuốc hồng chen bức là. Cùng nhau giao lạy một nhà, Lễ đà đủ lễ đôi là đủ đôi. Động phòng dìu dặt chén mồi, Bâng khuâng duyên mới ngậm ngùi tình xưa. Những từ sen ngó đào tơ, Mười năm năm mới bây giờ là đây. Tình duyên ấy hợp tan này, Bi hoan mấy nỗi đêm chầy trăng cao. Canh khuya bức gấm rủ thao, Dưới đèn tỏ nghĩa má đào thêm xuân. Tình nhân lại gặp tình nhân, Hoa xưa ong cũ mấy phân chung tình! Nàng rằng: "Phận thiếp đã đành, Có làm chi nữa cái mình bỏ đi! Nghĩ chàng nghĩa cũ tình ghi, Chiều lòng gọi có xướng tuỳ mảy may. Riêng lòng đã thẹn lắm thay, Cũng đà mặt dạn mày dày khó coi! “Những như âu yếm vành ngoài, Còn toan mở mặt với người cho qua. Lại như những thói người ta, “Vớt hương dưới đất bẻ hoa cuối mùa. “Giở nhơ giở nhuốc bày trò, “Còn tình đâu nữa mà thù đấy thôi! Người yêu ta xấu với người, Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau! Cửa nhà dù tính về sau, Thì còn em đó lọ cầu chị đây. Chữ trinh còn một chút này, Chẳng cầm cho vững lại dày cho tan! “Còn nhiều ân nghĩa chan chan, “Hay gì vầy cái hoa tàn mà chơi!” Chàng rằng: "Gắn bó một lời, Bỗng không cá nước chim trời lỡ nhau. Xót người lưu lạc bấy lâu, “Tưởng thề thốt nặng những đau đớn nhiều. “Thương nhau sinh tử đã liều. “Gặp nhau còn thiếu bấy nhiêu là tình. Chừng xuân tơ liễu còn xanh, “Nghĩ chưa chữa thoát khỏi vành ái ân. Gương trong chẳng chút bụi trần, Một lời quyết hẳn muôn phần kính thêm! Bấy lâu đáy bể mò kim, Là nhiều vàng đá phải tìm trăng hoa? Ai ngờ lại họp một nhà, Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm! Nghe lời sửa áo cài trâm, Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng: “Thân tàn dằn đục khơi trong, Là nhờ quân tử khác lòng người ta. “Mấy lời tâm đảm ruột rà. “Tương tri nghĩa ấy mới là tương tri! “Chở che đùm bọc thiếu gì? Trăm năm danh tiết cũng về đêm nay. Thoắt thôi tay lại cầm tay, Càng yêu vì nết càng say vì tình. Thêm nến giá nối hương bình, Cùng nhau lại chuốc chén quỳnh giao hoan. Tình xưa lai láng khôn hàn, Thong dong lại hỏi ngón đàn ngày xưa. Nàng rằng: "Vì mấy đường tơ, Lầm người cho đến bây giờ mới thôi. Ăn năn thì sự đã rồi, Nể lòng người cũ vâng lời một phen. Phím đàn dìu dặt tay tiên, Khói trầm cao thấp tiếng huyền gần xa. Khúc sao đầm ấm dương hoà. Ấy là Hồ điệp hay là Trang sinh? Khúc đâu êm ái xuân tình, Ấy hồn thục đế hay mình đỗ quyên? Trong sao châu nhỏ duềnh quyên! Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông! Lọt tai nghe suốt năm cung, Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao. Chàng rằng: "Phổ ấy tay nào? Xưa sao sầu thảm nay sao vui vầy? “Thương vui bởi tại lòng này, Hay là khổ tận đến ngày cam lai? Nàng rằng: “vì chút hay chơi, Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu. Một phen tri kỷ cùng nhau, Cuốn dây từ đấy về sau cũng chừa. Chuyện trò chưa cạn tóc tơ, Gà đà gáy sáng trời vừa rạng đông. Tình riêng chàng lại nói sòng, Một nhà ai cũng lạ lùng khen lao. Cho hay thục nữ chí cao, Phải người sớm mận tối đào như ai? Hai tình vẹn vẽ hoà hai, Chẳng trong chăn nệm cũng ngoài cầm thơ. Khi chén rượu khi cuộc cờ, Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên. Ba sinh đã phỉ mười nguyền, Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy. Nhớ lời lập một am mây, Sai người thân thích rước thầy Giác Duyên. Đến thì đóng cửa cài then, Rêu trùm kẽ ngạch cỏ len mái nhà. Sư đà hái thuốc phương xa, Mây bay hạc lánh biết là tìm đâu? Nặng vì chút nghĩa xưa sau, Trên am cứ giữ hương dầu hôm mai. Một nhà phúc lộc gồm hai, Hiên niên dặc dặc quan giai lần lần. Thừa gia chẳng hết nàng Vân: Một cây cù mộc một sân quế hoè. Phong lưu phú quý ai bì, Vầy xuân một cửa để bia muôn đời. Gẫm hay muôn sự là trời, Trời kia đã bắt làm người có thân. Bắt phong trần phải phong trần, Cho thanh cao mới được phần thanh cao. Có đâu thiên vị người nào, Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai. Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, Cũng đừng trách lẫn trời gần chẳng xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê nhặt góp dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.