Thoa Thuan Trips Ve Nhung Khia Canh Lien Quan Toi Thuong Mai Cu
Chapter 3
2. Trái với các quy định khác trong Phần này và với điều kiện là các quy định tại Phần II đề cập cụ thể đến việc sử dụng bởi Chính phủ hoặc các bên thứ ba được Chính phủ cho phép mà không được phép của chủ thể quyền được tuân thủ thì các Thành viên có thể giới hạn các biện pháp chế tài đối với việc sử dụng đó trong việc trả thù lao theo quy định tại điểm (h) của Điều 31. Trong những trường hợp khác, các biện pháp chế tài theo Phần này phải được áp dụng hoặc khi các biện pháp chế tài này trái với luật quốc gia của một Thành viên thì phải có quy định về án văn tuyên nhận và bồi thường thoả đáng.
=
1. Các cơ quan xét xử phải có quyền bắt buộc người vi phạm trả cho chủ thể quyền một khoản bồi thường thích đáng để bù lại thiệt hại mà chủ thể quyền đã phải chịu vì có hành vi xâm phạm đối với quyền mà người đó khi thực hiện có biết hoặc có cơ sở để biết hành vi xâm phạm.
2. Các cơ quan xét xử phải có quyền bắt buộc người vi phạm trả cho chủ thể quyền những chi phí của chủ thể quyền, chi phí đó có thể bao gồm phí thích hợp cho luật sư. Trong các trường hợp thích hợp, các Thành viên có thể cho các cơ quan xét xử được quyền ra lệnh thu hồi các khoản lợi nhuận và/hoặc trả các khoản đền bù thiệt hại ấn định trước, kể cả trường hợp người xâm phạm khi thực hiện không biết hoặc không có căn cứ để biết hành vi xâm phạm.
=
Để tạo ra sự ngăn chặn có hiệu lực hành vi xâm phạm, các cơ quan xét xử phải có quyền ra lệnh loại những hàng hoá mà họ cho là vi phạm khỏi các kênh thương mại mà không có bất kỳ sự bồi thường nào để tránh những thiệt hại gây ra cho chủ thể quyền hoặc tiêu huỷ hàng hoá đó, trừ trường hợp làm như vậy là trái với các yêu cầu của Hiến pháp hiện hành. Các cơ quan xét xử phải có quyền ra lệnh loại các nguyên liệu và các phương tiện được sử dụng chủ yếu trong việc tạo ra hàng hoá vi phạm khỏi các kênh thương mại mà không có bất kỳ sự bồi thường nào theo cách thức để có thể làm giảm đến mức tối thiểu nguy cơ xảy ra các vi phạm tiếp theo. Khi xem xét việc có đưa ra một lệnh như trên hay không, phải tính đến sự cần thiết tương xứng giữa mức độ nghiêm trọng của vi phạm và các chế tài áp dụng, đồng thời phải tính đến lợi ích của các bên thứ ba. Đối với hàng hoá giả, chỉ thực hiện việc loại bỏ nhãn hiệu hàng hoá đã được gắn bất hợp pháp không được coi là đủ để cho phép giải phóng hàng hoá đó vào các kênh thương mại, trừ những trường hợp ngoại lệ.
=
Các Thành viên có thể quy định các cơ quan xét xử có quyền, trừ khi điều đó không tương xứng với mức độ nghiêm trọng của vi phạm, ra lệnh buộc người vi phạm phải thông báo cho chủ thể quyền về nhân thân của những bên thứ ba tham gia vào việc sản xuất và phân phối hàng hoá hoặc dịch vụ vi phạm và về các kênh phân phối của họ.
=
1. Các cơ quan xét xử phải có quyền bắt buộc một bên mà theo yêu cầu của bên đó các biện pháp thực thi đã được áp dụng và bên đó là bên đã lạm dụng những thủ tục thực thi phải dành cho một bên đã bị bắt buộc hoặc bị hạn chế một cách sai trái sự bồi thường tương xứng với thiệt hại do sự lạm dụng đó gây ra. Các cơ quan xét xử cũng có quyền ra lệnh buộc nguyên đơn phải trả cho bị đơn các chi phí, có thể bao gồm cả những khoản chi phí thích hợp cho luật sư.
2. Liên quan đến việc quản lý của bất kỳ một luật nào thuộc về bảo hộ hoặc thực thi quyền sở hữu trí tuệ, các Thành viên chỉ được miễn cho cả cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và công chức trách niệm đối với các biện pháp chế tài khi các hành vi được thực hiện hoặc được dự định thực hiện một cách có thiện ý phục vụ quản lý luật đó.
=
Trong phạm vi mà một chế tài dân sự nào đó có thể được đưa ra như là kết quả của thủ tục hành chính giải quyết một vụ việc thì các thủ tục đó phải tuân theo các nguyên tắc về cơ bản tương đương với các nguyên tắc quy định trong Mục này.
=
=
1. Các cơ quan xét xử phải có quyền đưa ra những biện pháp tạm thời một cách nhanh chóng và có hiệu quả: (a) Để ngăn chặn việc xảy ra hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và đặc biệt nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của hàng hoá vào các kênh thương mại thuộc phạm vi quyền hạn của họ kể cả hàng hoá nhập khẩu ngay sau khi hoàn thành thủ tục Hải quan; (b) Để giữ chứng cứ liên quan đến hành vi đang bị khiếu kiện là xâm phạm.
2. Các cơ quan xét xử phải có quyền đưa ra những biện pháp tạm thời trước khi nghe bị đơn trình bày ý kiến trong trường hợp thích hợp đặc biệt trong trường hợp bất kỳ sự chậm trễ nào đều có thể gây ra thiệt hại không thể khắc phục được cho chủ thể quyền hoặc trưòng hợp có nguy cơ rõ ràng là chứng cứ đang bị phá huỷ.
3. Các cơ quan xét xử phải có quyền yêu cầu người nộp đơn cung cấp bất kỳ chứng cứ nào có thể có được một cách hợp lý để thuyết phục được các cơ quan đó ở mức độ chắc chắn rằng người nộp đơn là chủ thể quyền và quyền của người nộp đơn đang bị xâm phạm hoặc sự xâm phạm là rất rõ ràng và buộc người nộp đơn nộp tiền cược hoặc tiền bảo chứng tương đương đủ để bảo vệ lợi ích của bị đơn và ngăn ngừa sự lạm dụng.
4. Trường hợp các biện pháp tạm thời được áp dụng trước khi nghe bị đơn trình bày ý kiến, các bên bị ảnh hưởng phải được thông báo ngay chậm nhất là sau khi thi hành các biện pháp đó. Việc xem xét lại, bao gồm quyền được trình bày ý kiến, phải được tiến hành theo yêu cầu của bị đơn liên quan đến quyết định, trong một thời hạn hợp lý kể từ khi có thông báo về các biện pháp, về việc các biện pháp nói trên phải được sửa đổi, thu hồi hoặc khẳng định.
5. Người nộp đơn có thể được cơ quan sẽ thi hành các biện pháp tạm thời yêu cầu cung cấp thông tin cần thiết khác để xác định hàng hoá liên quan.
6. Không ảnh hưởng đến Khoản 4, theo yêu cầu của bị đơn, các biện pháp tạm thời được áp dụng theo Khoản 1 và 2 trên đây phải bị thu hồi hoặc chấm dứt hiệu lực nếu thủ tục kiện dẫn đến một quyết định giải quyết vụ việc không được bắt đầu trong một khoảng thời hạn hợp lý, được ấn định bởi cơ quan xét xử là cơ quan đưa ra biện pháp tạm thời nếu luật quốc gia của Thành viên cho phép như vậy hoặc, nếu luật quốc gia không ấn định thời hạn như trên, trong thời hạn không quá 20 ngày làm việc hoặc 31 ngày theo lịch, tuỳ theo thời hạn nào dài hơn.
7. Nếu biện pháp tạm thời bị thu hồi, hoặc mất hiệu lực do bất kỳ hành vi hoặc thiếu sót nào của người nộp đơn, hoặc nếu sau đó có khẳng định rằng đã không có sự xâm phạm hoặc đe doạ xâm phạm một quyền sở hữu trí tuệ thì theo yêu cầu của bị đơn, các cơ quan xét xử phải có quyền ra lệnh cho người nộp đơn dành cho bị đơn sự bồi thường thoả đáng đối với bất kỳ thiệt hại nào do các biện pháp đó gây ra.
8. Trong phạm vi mà một biện pháp tạm thời nào đó có thể được đưa ra như là kết quả của thủ tục hành chính thì các thủ tục đó phải tuân theo những nguyên tắc về cơ bản tương đương với các thủ tục quy định tại Mục này.
=
=
Các Thành viên phải ban hành, một cách phù hợp với các quy định sau đây, những thủ tục cho phép chủ thể quyền, khi có những cơ sở hợp pháp để nghi ngờ rằng hoạt động nhập khẩu hàng giả nhãn hiệu hàng hoá hoặc hàng đánh cắp bản quyền có thể xảy ra, được nộp đơn cho các cơ quan có thẩm quyền, là cơ quan hành chính hoặc cơ quan xét xử , yêu cầu cơ quan Hải quan tạm đình chỉ việc giải toả hàng hoá đó vào lưu thông tự do. Các Thành viên có thể cho phép nộp đơn như vậy đối với những hàng hoá có chứa đựng những xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, với điều kiện các yêu cầu của Mục này được đáp ứng. Các Thành viên cũng có thể quy định các thủ tục tương ứng về việc đình chỉ thông quan tại các cơ quan Hải quan đối với những hàng hoá xâm phạm được tập kết để xuất khẩu ra khỏi lãnh thổ của mình.
=
Bất kỳ một chủ thể quyền nào khởi kiện theo Điều 51 đều phải cung cấp chứng cứ thoả đáng để đáp ứng đòi hỏi của các cơ quan có thẩm quyền là theo luật của nước nhập khẩu thì rõ ràng có một sự xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể quyền đó và phải cung cấp sự mô tả đủ chi tiết về hàng hoá để các cơ quan Hải quan có thể nhận biết được hàng hoá đó. Trong một thời hạn hợp lý, các cơ quan có thẩm quyền phải thông báo cho người nộp đơn về việc họ có chấp nhận đơn đó hay không, và nếu được các cơ quan có thẩm quyền xác định thì thông báo thời hạn mà các cơ quan Hải quan sẽ hành động.
=
1. Các cơ quan có thẩm quyền phải có quyền yêu cầu người nộp đơn cung cấp một khoản tiền cược hoặc tiền bảo chứng tương đương đủ để bảo vệ quyền lợi của bị đơn và của cơ quan có thẩm quyền và để ngăn chặn sự lạm dụng. Khoản tiền cược hoặc tiền bảo chứng tương đương nói trên không được cản trở một cách bất hợp lý quyền tố cầu với các thủ tục này.
2. Nếu theo đơn được nộp theo Mục này, việc giải toả hàng hoá có chứa đựng kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, thiết kế bố trí hoặc thông tin kín vào lưu thông tự do bị đình chỉ bởi cơ quan Hải quan trên cơ sở một quyết định không phải của một cơ quan xét xử hoặc một cơ quan độc lập khác và thời hạn quy định tại Điều 55 đã hết mà biện pháp tạm thời không được cơ quan đủ thẩm quyền cấp và nếu các điều kiện khác về thủ tục nhập khẩu đã đáp ứng được thì chủ sở hữu, người nhập khẩu, hoặc người nhập khẩu uỷ thác hàng hoá nói trên phải được quyền được giải toả hàng hoá đó khi đặt một khoản tiền đủ để bảo vệ chủ thể quyền đối với bất kỳ sự xâm phạm nào. Việc thanh toán khoản tiền này không được ảnh hưởng đến bất kỳ biện pháp chế tài nào khác có thể áp dụng cho chủ thể quyền, nhưng khoản bảo đảm này phải được trả lại nếu chủ thể quyền không thực hiện quyền kiện của mình trong một thời hạn hợp lý.
=
Người nhập khẩu và nguyên đơn phải được thông báo ngay về việc tạm đình chỉ giải toả hàng hoá theo Điều 51 trên đây.
=
Trong một thời hạn không quá 10 ngày làm việc kể từ khi nguyên đơn nhận được thông báo về việc tạm đình chỉ, nếu các cơ quan Hải quan không được thông báo rằng thủ tục để đưa ra quyết định giải quyết vụ việc đó đã được một bên không phải là bị đơn tiến hành hoặc cơ quan đủ thẩm quyền đã thực hiện các biện pháp tạm thời để kéo dài thời hạn tạm đình chỉ việc giải toả hàng hoá thì hàng hoá đó phải được giải toả, với điều kiện là tất cả các điều kiện khác liên quan đến nhập khẩu hoặc xuất khẩu đã được đáp ứng; trong những trường hợp thích hợp, thời hạn này có thể được kéo dài thêm 10 ngày làm việc. Nếu thủ tục để giải quyết vụ việc đã được bắt đầu, thì việc xem xét lại, gồm cả quyền được trình bày ý kiến, phải được tiến hành theo yêu cầu của bị đơn, trong một thời hạn hợp lý, nhằm quyết định sửa đổi, thu hồi hay giữ nguyên những biện pháp nói trên. Không phụ thuộc vào các quy định trên, trường hợp việc tạm đình chỉ giải toả hàng hoá được thực hiện hoặc tiếp tục được thực hiện phù hợp với biện pháp tạm thời của cơ quan xét xử, các quy định tại Khoản 6 Điều 50 phải được áp dụng.
=
Những cơ quan hữu quan phải có quyền buộc người nộp đơn trả cho người nhập khẩu, người nhập khẩu uỷ thác, chủ sở hữu hàng hoá khoản tiền bồi thường thích hợp về thiệt hại do việc thu giữ hàng hoá không đúng hoặc do việc thu giữ hàng hoá đã được giải toả theo quy định tại Điều 55 gây ra.
=
Với điều kiện không gây tổn hại đến việc bảo vệ thông tin kín, các Thành viên phải quy định cho các cơ quan có thẩm quyền quyền cho phép chủ thể quyền có cơ hội để yêu cầu thanh tra hàng hoá bị cơ quan Hải quan giữ để chứng minh các yêu cầu của mình. Các cơ quan có thẩm quyền cũng phải có quyền cho phép người nhập khẩu cơ hội tương đương để yêu cầu thanh tra hàng hoá đó. Trường hợp quyết định giải quyết vụ việc cho nguyên đơn thắng, các Thành viên có thể quy định cho các cơ quan có thẩm quyền quyền thông báo cho chủ thể quyền tên và địa chỉ của người uỷ thác nhập khẩu, người nhập khẩu và người nhập khẩu uỷ thác và về số lượng hàng hoá liên quan.
=
Trường hợp các Thành viên yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền hành động một cách chủ động và tạm đình chỉ việc giải toả hàng hoá nếu họ có được các chứng cứ khẳng định rằng một quyền sở hữu trí tuệ đang bị xâm phạm thì: a) Các cơ quan có thẩm quyền có thể, tại bất kỳ thời điểm nào, tiến hành thu thập từ chủ thể quyền những thông tin có thể giúp các cơ quan đó thực thi quyền lực nói trên; b) Người nhập khẩu và chủ thể quyền phải được thông báo kịp thời về việc tạm giữ hàng hoá. Trường hợp người nhập khẩu khiếu nại việc tạm giữ hàng hoá với các cơ quan có thẩm quyền, việc tạm giữ này phải tuỳ thuộc vào các điều kiện quy định tại Điều 55 với những sửa đổi nếu cần thiết; c) Các Thành viên chỉ được phép miễn trách nhiệm cho cả cơ quan Nhà nước và công chức Nhà nước khỏi bị áp dụng các biện pháp chế tài thích hợp nếu những hành vi được thực hiện hoặc được dự định thực hiện một cách có thiện ý.
=
Với điều kiện không gây tổn hại cho các quyền kiện khác dành cho chủ thể quyền và quyền của bị đơn được yêu cầu cơ quan xét xử xem xét lại vụ việc, cơ quan có thẩm quyền phải có quyền yêu cầu tiêu huỷ hoặc loại bỏ hàng hoá vi phạm theo các nguyên tắc quy định tại Điều 46. Đối với những hàng hoá mang nhãn hiệu giả mạo, các cơ quan có thẩm quyền không được phép cho tái xuất khẩu những hàng hoá vi phạm trong tình trạng chưa được thay đổi hoặc xử lý chúng tuỳ thuộc vào một thủ tục Hải quan khác, trừ trường hợp đặc biệt.
=
Các Thành viên có thể không áp dụng các quy định trên đối với số lượng nhỏ sản phẩm không mang tính thương mại trong hành lý cá nhân hoặc hàng gửi với số lượng nhỏ.
=
=
Các Thành viên phải quy định những thủ tục tố tụng hình sự và hình phạt cần được áp dụng ít nhất trong các trường hợp cố ý làm hàng giả nhãn hiệu hàng hoá hoặc vi phạm bản quyền với quy mô thương mại. Những chế tài có thể áp dụng phải bao gồm tù giam và/ hoặc phạt tiền đủ để răn đe xâm phạm, phù hợp với mức hình phạt áp dụng đối với tội phạm có mức độ nặng nhẹ tương ứng. Trong những trường hợp thích hợp, những biện pháp chế tài có thể áp dụng cũng phải bao gồm cả việc thu giữ, tịch thu và tiêu huỷ hàng hoá vi phạm và bất kỳ nguyên liệu và phương tiện nào sử dụng chủ yếu để thực hiện tội phạm. Các Thành viên có thể quy định những thủ tục hình sự và các hình phạt áp dụng cho những trường hợp khác vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là trường hợp cố ý vi phạm và vi phạm với quy mô thương mại.
=
=
1. Các Thành viên có thể yêu cầu, như một trong những điều kiện để đạt được hoặc duy trì các quyền sở hữu trí tuệ nêu tại các Mục từ 2 đến 6 của Phần II Thoả thuận này, việc tuân thủ những thủ tục và hình thức hợp lý. Các thủ tục và hình thức đó sẽ phải phù hợp với các quy định của Thoả thuận này.
2. Trường hợp việc nhận được một quyền sở hữu trí tuệ tuỳ thuộc vào quyền đó khi được đăng ký hoặc cấp, các Thành viên phải đảm bảo rằng các thủ tục cấp hoặc đăng ký quyền, tuỳ thuộc vào việc đáp ứng các điều kiện chính để nhận được quyền sở hữu trí tuệ, cho phép việc cấp hoặc đăng ký quyền đó trong một thời hạn hợp lý để tránh rút ngắn một cách tuỳ tiện thời hạn bảo hộ.
3. Điều 4 của Công ước Paris (1967) phải được áp dụng, với những sửa đổi thích hợp, cho nhãn hiệu dịch vụ.
4. Thủ tục liên quan đến việc nhận và duy trì quyền sở hữu trí tuệ và nếu luật quốc gia có quy định những thủ tục như vậy, thủ tục hành chính về thu hồi hiệu lực và thủ tục về quan hệ của các bên chẳng hạn như phản đối, thu hồi, và huỷ bỏ hiệu lực, phải được điều chỉnh bởi các nguyên tắc chung quy định tại các Khoản 2 và 3 của Điều 41.
5. Những quyết định hành chính cuối cùng theo bất kỳ thủ tục nào được dẫn chiếu trong Khoản 4 đều phải có thể bị xem xét lại tại cơ quan xét xử hoặc cơ quan có xét xử. Tuy nhiên, không có nghĩa vụ phải quy định việc xem xét lại các quyết định trong trường hợp sự phản đối hoặc thu hồi hành chính không đạt được kết quả, với điều kiện là căn cứ của các thủ tục đó có thể là đối tượng xem xét của những thủ tục huỷ bỏ hiệu lực.
=
=
1. Luật và quy định, và quyết định xét xử cuối cùng và quyết định hành chính cuối cùng mang tính chất áp dụng chung, do Thành viên ban hành liên quan đến đối tượng của Thoả thuận này (việc có bảo hộ, phạm vi, việc nhận được, thực thi và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ) phải được công bố, hoặc nếu việc công bố đó không có khả năng thực hiện thì phải tiếp cận được một cách công khai, bằng ngôn ngữ quốc gia, theo cách thức sao cho các Chính phủ và chủ thể quyền có thể tiếp cận được tới các văn bản đó. Những Thoả thuận liên quan đến đối tượng của Thoả thuận này, đang có hiệu lực giữa Chính phủ hoặc một cơ quan Chính phủ của một Thành viên và Chính phủ hoặc một cơ quan Chính phủ của một Thành viên khác cũng phải được công bố.
2. Các Thành viên phải thông báo về các luật và các quy định nêu tại Khoản 1 trên đây cho Hội đồng TRIPs để giúp Hội đồng đánh giá việc thi hành Thoả thuận này. Hội đồng phải cố gắng giảm đến mức tối thiểu nghĩa vụ này cho các Thành viên và có thể quyết định miễn nghĩa vụ thông báo các luật và các quy định đó trực tiếp cho Hội đồng nếu việc thương lượng với WIPO về việc thành lập một hệ thống chung để đăng ký các luật và quy định pháp luật đó đạt kết quả. Hội đồng cũng phải xem xét trong mối liên hệ trên bất kỳ hoạt động nào bắt buộc phải tiến hành để thực hiện các nghĩa vụ theo Thoả thuận này xuất phát từ các quy định của Điều 6 ter Công ước Paris (1967).
3. Theo yêu cầu bằng văn bản của một Thành viên, mỗi Thành viên khác phải sẵn sàng cung cấp thông tin về các vấn đề được quy định tại Khoản 1 trên đây. Thành viên nào có lý do để tin rằng một quyết định xét xử hoặc quyết định hành chính hoặc thoả thuận song phương cụ thể trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ ảnh hưởng đến các quyền của mình theo Thoả thuận này cũng có thể yêu cầu bằng văn bản để được tiếp cận tới hoặc được thông tin đủ chi tiết về những quyết định xét xử hoặc quyết định hành chính hoặc các thoả thuận song phương như vậy.
4. Không quy định nào tại các Khoản từ 1 đến 3 được phép yêu cầu các Thành viên tiết lộ những thông tin bí mật có thể cản trở việc thực thi luật hoặc trái với lợi ích xã hội hoặc có thể gây tổn hại cho lợi ích thương mại hợp pháp của những doanh nghiệp cụ thể nào đó, thuộc nhà nước hoặc tư nhân.
=
1. Các quy định tại các Điều XXII và XXIII của GATT 1994 như được chi tiết hoá và áp dụng trong Thoả ước về giải quyết tranh chấp phải được áp dụng đối với việc thương lượng và giải quyết tranh chấp theo Thoả thuận này, nếu không có quy định cụ thể khác trong Thoả thuận này.
2. Trong thời hạn 5 năm kể từ ngày Thoả thuận WTO bắt đầu có hiệu lực, không được áp dụng các Điểm 1(b) và 1(c) Điều XXIII của GATT 1994 để giải quyết các tranh chấp theo Thoả thuận này.
3. Trong suốt thời hạn trong quy định tại Khoản 2, Hội đồng TRIPs phải nghiên cứu phạm vi và thể thức của những khiếu kiện thuộc loại quy định tại các Điểm 1(b) và 1(c) Điều XXIII của GATT 1994 nộp theo Thoả thuận này, và đề xuất ý kiến để Hội nghị Bộ trưởng thông qua. Hội nghị Bộ trưởng chỉ được ra quyết định thông qua những ý kiến đề xuất đó hoặc quyết định kéo dài thời hạn nêu tại khoản 2 trên cơ sở nhất trí, và ý kiến đề xuất đã được thông qua phải có hiệu lực đối với tất cả các Thành viên mà không phải qua bất kỳ một thủ tục chấp nhận chính thức nào khác.
=
=
1. Tuỳ thuộc vào các quy định tại các Khoản 2, 3 và 4, không Thành viên nào có nghĩa vụ phải thi hành Thoả thuận này trước khi kết thúc thời hạn chung,
kéo dài một năm kể từ ngày Thoả thuận WTO bắt đầu có hiệu lực.
2. Một Thành viên là nước đang phát triển được quyền hoãn thời hạn thi hành các quy định của Thoả thuận này trừ các Điều 3, 4 và 5 thêm 4 năm so với thời hạn xác định tại Khoản 1.
3. Bất kỳ một Thành viên nào khác là Thành viên đang trong quá trình chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường, tự do kinh doanh và là thành viên đang tiến hành cải tổ cơ cấu hệ thống sở hữu trí tuệ và gặp những khó khăn đặc biệt trong việc chuẩn bị và thi hành luật và quy định về sở hữu trí tuệ, cũng có thể được hưởng thời hạn trì hoãn như dự định tại Khoản 2.
4. Trong phạm vi mà một Thành viên là nước đang phát triển bị Thoả thuận này ràng buộc phải mở rộng bảo hộ bằng sáng chế cho sản phẩm sang những lĩnh vực công nghệ chưa được bảo hộ trong lãnh thổ của Thành viên đó vào ngày Thành viên phải thi hành Thảo thuận này theo thời hạn chung quy định tại Khoản 2 thì Thành viên đó có thể hoãn thêm 5 năm nữa việc thi hành các quy định về bằng sáng chế cho sản phẩm của Mục 5 Phần II đối với những lĩnh vực công nghệ đó.
5. Một Thành viên nào khi sử dụng thời hạn chuyển tiếp theo các Khoản 1, 2, 3 hoặc 4 đều phải bảo đảm rằng bất kỳ sự thay đổi nào trong các luật, quy định và thực tiễn áp dụng luật của mình được thực hiện trong thời gian đó không dẫn tới mức độ phù hợp thấp hơn với các quy định của Thoả thuận này.
=
1. Chú ý đến những nhu cầu và yêu cầu đặc biệt của những Thành viên là nước kém phát triển, những hạn chế về kinh tế, tài chính và hành chính của các nước đó, và nhu cầu của các nước đó về sự linh hoạt để tạo ra một cơ sở công nghệ phát triển được, các Thành viên đó không bị buộc phải thi hành các quy định của Thoả thuận này, trừ các Điều 3, 4 và 5, trong thời hạn 10 năm kể từ ngày áp dụng chung quy định tại Khoản 1 Điều 65. Hội đồng TRIPs phải gia hạn thời hạn này theo yêu cầu chính đáng của một Thành viên là nước kém phát triển.
2. Những Thành viên là nước phát triển phải dành sự khuyến khích cho các doanh nghiệp và các tổ chức trong lãnh thổ của mình nhằm khuyến khích và thúc đẩy chuyển giao công nghệ cho những Thành viên là nước kém phát triển để giúp họ tạo ra một cơ sở công nghệ hợp lý và phát triển được.
=
Để tạo điều kiện thi hành Thoả thuận này, theo yêu cầu và theo những nội dung và điều kiện cùng thoả thuận, những Thành viên là nước phát triển phải dành hợp tác về kỹ thuật và tài chính cho những Thành viên là nước đang phát triểm và kém phát triển. Sự hợp tác đó phải bao gồm cả sự trợ giúp trong việc chuẩn bị luật và quy định quốc gia về bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ cũng như việc ngăn ngừa sự lạm dụng các quyền đó và phải bao gồm cả sự hỗ trợ việc thành lập và củng cố các cơ quan và tổ chức trong nước liên quan đến các vấn đề đó bao gồm đào tạo nhân lực.
=
=
Hội đồng TRIPs phải điều hành hoạt động của Thoả thuận này và đặc biệt là sự tuân thủ của các Thành viên đối với các nghĩa vụ của họ theo Thoả thuận này và phải tạo cho các Thành viên cơ hội trao đổi ý kiến về những vấn đề liên quan đến các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ. Hội đồng phải làm tròn những trách nhiệm khác do các Thành viên giao phó và đặc biệt phải đáp ứng mọi yêu cầu trợ giúp của các Thành viên trong các thủ tục giải quyết tranh chấp. Khi thực hiện các chức năng của mình, Hội đồng có thể tham khảo và tìm kiếm thông tin từ bất cứ nguồn nào mà Hộ đồng cho là thích hợp. Trong việc thương lượng với WIPO, trong vòng một năm kể từ cuộc họp Hội đồng lần thứ nhất, Hội đồng phải tìm cách thiết lập cơ chế phù hợp để hợp tác với các cơ quan của tổ chức đó.
=
Các Thành viên thoả thuận hợp tác với nhau nhằm loại trừ hoạt động thương mại quốc tế liên quan đến hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Để đạt được mục đích đó, các Thành viên phải thiết lập và thông báo các điểm liên lạc thuộc các cơ quan quản lý của họ và sẵn sàng trao đổi thông tin về việc buôn bán hàng hoá xâm phạm. Đặc biệt, các Thành viên phải đẩy mạnh việc trao đổi thông tin và hợp tác giữa các cơ quan Hải quan trong vấn đề chống buôn bán hàng hoá mang nhãn hiệu giả và hàng hoá đánh cắp quyền tác giả.
=
1. Thoả thuận này không làm phát sinh các nghĩa vụ đối với những hành vi xảy ra trước thời điểm áp dụng Thoả thuận này cho Thành viên liên quan.
2. Trừ trường hợp được quy định khác trong Thoả thuận này, Thoả thuận này làm phát sinh những nghĩa vụ đối với tất cả các đối tượng đang tồn tại vào thời điểm áp dụng Thoả thuận này cho Thành viên liên quan và đối với đối tượng đang được bảo hộ tại nước Thành viên đó tại thời điểm nói trên hoặc đối tượng đáp ứng hoặc sau đó đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ theo các điều khoản của Thoả thuận này. Đối với Khoản này và các Khoản 3, 4, các nghĩa vụ về bản quyền liên quan đến các tác phẩm đang tồn tại chỉ được xác định theo Điều 18 của Công ước Berne (1971) và các nghĩa vụ đối với các quyền của những người sản xuất bản ghi âm và những người biểu diễn về các bản ghi âm đang tồn tại chỉ được xác định theo Điều 18 của Công ước Berne (1971) như được quy định để có thể áp dụng theo Khoản 6 Điều 14 của Thoả thuận này.