Thoa Thuan Trips Ve Nhung Khia Canh Lien Quan Toi Thuong Mai Cu

Chapter 2

Chapter 25,085 wordsPublic domain

5. Trường hợp nhãn hiệu hàng hoá đã được nộp đơn đăng ký hoặc đã được đăng ký một cách có thiện ý hoặc trường hợp các quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa đạt được thông qua việc sử dụng có thiện ý thuộc một trong hai trường hợp sau đây: a) Trước thời điểm thi hành các quy định này ở nước Thành viên đó như quy định tại Phần thứ VI dưới đây; hoặc b) Trước khi chỉ dẫn địa lý liên quan được bảo hộ ở nước xuất xứ. Những biện pháp được áp dụng để thi hành Mục này không được làm ảnh hưởng đến khả năng được đăng ký hoặc hiệu lực đăng ký của nhãn hiệu hàng hoá hoặc quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá với lý do nhãn hiệu hàng hoá nói trên trùng hoặc tương tự với một chỉ dẫn địa lý.

6. Không một quy định nào trong Mục này buộc một thành viên phải áp dụng các quy định của mình cho một chỉ dẫn địa lý của bất cứ một Thành viên nào khác đối với hàng hoá hoặc dịch vụ mà chỉ dẫn đó trùng với thuật ngữ quen dùng trong ngôn ngữ phổ thông trong lãnh thổ của Thành viên đó là tên gọi thông thường của sản phẩm hoặc dịch vụ đó. Không một quy định nào trong phần này buộc một thành viên phải áp dụng các quy định của mình cho một chỉ dẫn địa lý của bất cứ một Thành viên nào khác đối với các sản phẩm của cây nho nếu chỉ dẫn đó trùng với tên gọi thông thường của một loại nho đang sinh trưởng trong lãnh thổ của Thành viên đó vào thời điểm thoả thuận WTO bắt đầu có hiệu lực.

7. Một Thành viên có thể quy định rằng bất kỳ một yêu cầu nào theo quy định của Mục này về việc sử dụng hoặc việc đăng ký một nhãn hiệu hàng hoá đều phải được đưa ra trong vòng 5 năm sau khi việc sử dụng đối nghịch nói trên của chỉ dẫn được bảo hộ đã được biết đến rộng rãi tại nước Thành viên đó hoặc sau khi nhãn hiệu hàng hoá được đăng ký tại nước Thành viên đó với điều kiện nhãn hiệu hàng hoá đã được công bố vào ngày đăng ký, nếu ngày đó sớm hơn ngày mà việc sử dụng đối nghịch trên đã được biết đến một cách rộng rãi tại nước Thành viên đó, với điều kiện là chỉ dẫn địa lý này được sử dụng hoặc đăng ký một cách có thiện ý.

8. Các quy định này của Mục này không được làm ảnh hưởng đến quyền của bất kỳ của người nào được sử dụng trong hoạt động thương mại tên của mình hoặc tên của người chuyển nhượng doanh nghiệp cho mình, trừ trường hợp tên đó được sử dụng theo cách thức chỉ dẫn sai công chúng.

9. Không có nghĩa vụ theo Thoả thuận này về bảo hộ những chỉ dẫn địa lý không được bảo hộ hoặc đã bị đình chỉ bảo hộ tại nước xuất xứ của chúng, hoặc đã không được sử dụng tại nước đó nữa.

=

=

1. Các Thành viên phải bảo hộ những kiểu dáng công nghiệp được tạo ra một cách độc lập mà là mới hoặc nguyên gốc. Các Thành viên có thể quy định rằng kiểu dáng không là mới hoặc nguyên gốc nếu chúng không khác biệt cơ bản với những kiểu dáng đã biết hoặc sự kết hợp của những đặc điểm kiểu dáng đã biết. Các Thành viên có thể quy định rằng việc bảo hộ này không được mở rộng đến các kiểu dáng chủ yếu được xác định bởi sự cân nhắc kỹ thuật hoặc chức năng.

2. Mỗi Thành viên phải đảm bảo rằng các tiêu chuẩn đối với bảo hộ kiểu dáng hàng dệt, đặc biệt về chi phí, xét nghiệm hoặc công bố, không ảnh hưởng một cách bất hợp lý đến cơ hội tìm kiếm và nhận được sự bảo hộ. Các Thành viên được tự do thực hiện nghĩa vụ này thông qua Luật Kiểu dáng Công nghiệp hoặc Luật Bản quyền.

=

1. Chủ sở hữu của một kiểu dáng công nghiệp đang được bảo hộ phải có quyền cấm những người khác không được sự đồng ý của chủ sở hữu mà sản xuất, bán hoặc nhập khẩu những sản phẩm mang hoặc thể hiện một kiểu dáng là bản sao chép hoặc cơ bản là một bản sao chép của kiểu dáng đang được bảo hộ đó, khi các hành vi nói trên được thực hiện nhằm mục đích thương mại.

2. Các Thành viên có thể quy định một số ngoại lệ hạn chế đối với bảo hộ kiểu dáng công nghiệp, với điều kiện là các ngoại lệ đó không mâu thuẫn với việc khai thác bình thường những kiểu dáng công nghiệp đang được bảo hộ và không ảnh hưởng một cách bất hợp lý đến các lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu kiểu dáng đang được bảo hộ, có lưu ý đến lợi ích hợp pháp của bên thứ ba.

3. Thời hạn bảo hộ có thể cấp được phải kéo dài ít nhất là 10 năm.

=

=

1. Tuỳ thuộc vào các Khoản 2 và 3, bằng sáng chế phải là có thể cấp được cho bất kỳ một sáng chế nào, bất kể là sản phẩm hay quy trình, trong tất cả các lĩnh vực công nghệ, với điều kiện sáng chế đó là mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp . Tuỳ thuộc vào Khoản 4 Điều 65, Khoản 8 Điều 70 và Khoản 3 Điều này, bằng sáng chế phải có thể cấp được và các quyền có được từ bằng sáng chế phải được hưởng không có sự phân biệt nơi tạo ra sáng chế, lĩnh vực công nghệ và bất kể các sản phẩm được nhập khẩu hay được sản xuất tại chỗ.

2. Các Thành viên có thể loại trừ khả năng cấp bằng sáng chế cho những sáng chế cần phải bị cấm khai thác thương mại trong lãnh thổ của mình để bảo vệ trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội, bao gồm để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người, động vật hoặc thực vật để tránh gây nguy hại nghiêm trọng cho môi trường, với điều kiện ngoại lệ đó không được quy định chỉ vì lý do việc khai thác bị pháp luật của các Thành viên đó cấm.

3. Các Thành viên cũng có thể loại trừ khả năng cấp bằng sáng chế cho: a) Các phương pháp chẩn đoán bệnh, các phương pháp chữa bệnh, phẫu thuật cho người và động vật; b) Thực vật và động vật không phải là các chủng vi sinh và các quy trình sản xuất thực vật và động vật chủ yếu mang tính chất sinh học và không phải là các quy trình phi sinh học và vi sinh. Tuy nhiên, các Thành viên phải quy định việc bảo hộ giống cây hoặc bằng bằng sáng chế hoặc bằng một hệ thống riêng hữu hiệu, hoặc bằng sự kết hợp bất kỳ của chúng. Các quy định của điểm này phải được xem xét lại sau 4 năm kể từ khi Thoả thuận WTO bắt đầu có hiệu lực.

=

1. Bằng sáng chế phải xác nhận các độc quyền sau đây của chủ sở hữu: a) Nếu đối tượng của bằng sáng chế là một sản phẩm,cấm các bên thứ ba thực hiện các hành vi sau đây nếu không được phép của chủ sở hữu: chế tạo, sử dụng, chào bán, bán sản phẩm đó hoặc nhập khẩu sản phẩm đó để thực hiện những mục đích nói trên; b) Nếu đối tượng của bằng sáng chế là một quy trình, cấm các bên thứ ba thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu hành vi sử dụng quy trình đó và các hành vi sau đây: sử dụng, chào bán, bán hoặc nhập khẩu nhằm các mục đích đó ít nhất đối với các sản phẩm thu được trực tiếp từ quy trình đó.

2. Các chủ sở hữu bằng sáng chế cũng phải có quyền chuyển nhượng, hoặc để thừa kế quyền sở hữu bằng sáng chế và ký kết các hợp đồng li-xăng.

=

1. Các Thành viên phải yêu cầu người nộp đơn xin cấp bằng sáng chế bộc lộ sáng chế một cách rõ ràng và đầy đủ đến mức căn cứ vào đó một chuyên gia trong lĩnh vực kỹ thuật có thể thực hiện sáng chế và có thể yêu cầu người nộp đơn chỉ ra cách thức thực hiện tốt nhất sáng chế đó mà tác giả sáng chế biết cho đến ngày nộp đơn hoặc cho đến ngày ưu tiên của đơn nếu có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên.

2. Các Thành viên có thể yêu cầu một người nộp đơn xin cấp bằng sáng chế cung cấp thông tin liên quan đến các đơn và văn bằng ứng với đơn đó của người nộp đơn ở nước ngoài.

=

Các Thành viên có thể quy định một số ngoại lệ có giới hạn đối với độc quyền được cấp bởi một bằng sáng chế với điều kiện là các ngoại lệ đó không mâu thuẫn với việc khai thác bình thường bằng sáng chế đó và không gây ảnh hưởng một cách bất hợp lý đến các lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu bằng sáng chế, và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba.

=

Trường hợp luật của một Thành viên cho phép sự sử dụng khác của đối tượng của một bằng sáng chế mà không có sự đồng ý của chủ thể quyền, bao gồm việc sử dụng bởi Chính phủ hoặc bởi các bên thứ ba được phép của Chính phủ, các quy định sau đây phải được tôn trọng: a) Cho phép sử dụng nói trên phải được xem xét trên cơ sở tính đúng đắn riêng của nó; b) Việc sử dụng đó chỉ được phép nếu trước khi sử dụng, người đề nghị được sử dụng đã thực hiện những cố gắng để đạt được sự cho phép của chủ thể quyền với những điều khoản thương mại và điều kiện hợp lý nhưng những cố gắng đó đã không đạt được kết qủa trong một thời hạn hợp lý. Yêu cầu này có thể được Thành viên bỏ qua trong tình huống khẩn cấp quốc gia hoặc các tình huống khẩn cấp khác hoặc trong những trưòng hợp sử dụng công cộng, không mang tính thương mại. Trong những trường hợp có tình huống khẩn cấp quốc gia hoặc các tình huống khẩn cấp khác, chủ thể quyền phải được thông báo theo cách hợp lý nhất có thể. Trong trường hợp sử dụng công cộng, không mang tính thương mại, mà Chính phủ hoặc người chủ thầu tuy không thực hiện việc tra cứu sáng chế nhưng biết hoặc có cơ sở rõ ràng để biết rằng có một bằng sáng chế đang có hiệu lực đang hoặc sẽ được sử dụng bởi hoặc cho Chính phủ thì chủ thể quyền phải được thông báo kịp thời; c) Phạm vi và thời hạn của việc sử dụng nói trên phải được giới hạn trong mục đích được phép sử dụng và trong trường hợp công nghệ bán dẫn thì phải vì mục đích công cộng, không mang tính thương mại, hoặc là chế tài đối với hoạt động mà theo thủ tục xét xử hoặc thủ tục hành chính được xác định là hoạt động chống cạnh tranh; d) Sử dụng đó phải là không độc quyền; e) Sử dụng đó phải là không chuyển nhượng được, trừ trường hợp chuyển nhượng cùng với chính phần của doanh nghiệp hoặc uy tín hưởng việc sử dụng đó; f) Bất kỳ việc sử dụng nào như vậy cũng chỉ được phép chủ yếu để cung cấp cho thị trường nội địa của Thành viên cho phép việc sử dụng như vậy; g) Việc cho phép sử dụng nói trên sẽ phải chấm dứt, tuỳ thuộc vào sự bảo hộ thích đáng các lợi ích hợp pháp những người được cho phép, nếu và khi các tình huống dẫn đến việc cho phép sử dụng đó chấm dứt và ít khả năng xảy ra lại. Cơ quan có thẩm quyền phải có quyền tiến hành xem xét lại, khi có yêu cầu chính đáng, sự tiếp tục tồn tại của các tình huống đó; h) Chủ thể quyền được trả tiền thù lao thích đáng tuỳ tình huống của mỗi trường hợp, có tính đến giá trị kinh tế của sự cho phép sử dụng; i) Hiệu lực pháp lý của bất kỳ quyết định nào liên quan đến việc cho phép sử dụng trên phải là tuỳ thuộc vào sự xem xét lại theo thủ tục xét xử hoặc thủ tục khác bởi một cơ quan có thẩm quyền cao hơn riêng biệt của Thành viên đó; j) Bất kỳ quyết định nào liên quan đến tiền thù lao trả cho việc sử dụng đó phải tuỳ thuộc vào sự xem xét lại theo thủ tục xét xử hoặc thủ tục khác bởi cơ quan có thẩm quyền cao hơn riêng biệt của Thành viên đó; k) Các Thành viên không có nghĩa vụ phải áp dụng các điều kiện quy định tại các khoản (b) và (f) trong trường hợp việc sử dụng được phép là chế tài đối với một hoạt động được xác định theo thủ tục xét xử hoặc thủ tục hành chính là hoạt động chống cạnh tranh. Nhu cầu chấn chỉnh hoạt động chống cạnh tranh có thể là căn cứ để xác định lượng tiền thù lao trong các trường hợp đó. Các cơ quan có thẩm quyền phải có quyền từ chối việc chấm dứt việc cho phép sử dụng nếu các điều kiện dẫn đến việc cho phép sử dụng đó có khả năng tái diễn; l) Trường hợp việc sử dụng đó được cho phép để khai thác một sáng chế ("sáng chế thứ hai") mà không thể khai thác được nếu không xâm phạm sáng chế khác ("sáng chế thứ nhất"), thì phải áp dụng các điều kiện bổ sung sau đây: (i) Sáng chế được yêu cầu bảo hộ theo bằng sáng chế thứ hai phải là một tiến bộ kỹ thuật quan trọng mang ý nghĩa kinh tế lớn đối với sáng chế được yêu cầu bảo hộ theo bằng sáng chế thứ nhất; (ii) Chủ sở hữu bằng sáng chế thứ nhất phải được cấp li-xăng chéo với những điều khoản hợp lý để sử dụng sáng chế được yêu cầu bảo hộ theo bằng sáng chế thứ hai; và (iii) Việc sử dụng được cho phép đối với bằng sáng chế thứ nhất phải là không chuyển nhượng được, trừ khi chuyển nhượng cùng với việc chuyển nhượng quyền sở hữu bằng sáng chế thứ hai.

=

Phải quy định một cơ hội để bất kỳ quyết định thu hồi hoặc hủy bỏ bằng sáng chế nào đều có thể được xem xét lại theo thủ tục xét xử.

=

Thời hạn bảo hộ được quy định không được kết thúc trước khi hết thời hạn 20 năm tính từ ngày nộp đơn .

=

1. Trong thủ tục tố tụng dân sự đối với việc xâm phạm các quyền của chủ sở hữu quy định tại Khoản 1(b) Điều 28, nếu đối tượng của bằng sáng chế là một quy trình sản xuất một sản phẩm thì các cơ quan xét xử phải có quyền ra lệnh cho bị đơn chứng minh rằng quy trình để thu được sản phẩm tương tự không phải là quy trình đã được cấp bằng sáng chế. Vì vậy, trong ít nhất là một trong các trường hợp sau các Thành viên phải quy định rằng mọi sản phẩm tương tự được sản xuất mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu bằng sáng chế, nếu không có chứng cứ ngược lại, đều phải bị coi là sản phẩm thu được bằng quy trình đã được cấp bằng sáng chế; (a) Nếu sản phẩm thu được bằng quy trình đã được cấp bằng sáng chế là mới; (b) Nếu có khả năng là sản phẩm giống hoàn toàn được chế tạo bằng quy trình đó và chủ sở hữu bằng sáng chế dù đã có những cố gắng hợp lý vẫn không thể xác định được quy trình thực sự đã được sử dụng.

2. Bất kỳ Thành viên nào đều được tự do quy định rằng nghĩa vụ chứng minh nêu tại Khoản 1 được áp dụng đối với người bị quy kết là xâm phạm chỉ trong trường hợp điều kiện nêu tại Điểm (a) đạt được hoặc chỉ trong trường hợp điều kiện nêu tại Điểm (b) đạt được.

3. Khi trình bày chứng cứ ngược lại, phải chú ý đến lợi ích hợp pháp của bị đơn trong việc bảo vệ các bí mật sản xuất và kinh doanh của họ.

=

=

Các Thành viên thoả thuận bảo hộ thiết kế bố trí (topograph) mạch tích hợp (trong Thoả thuận này gọi là "thiết kế bố trí") phù hợp với các Điều từ 2 đến 7 (không kể Khoản 3 của Điều 6), Điều 12 và Khoản 3 Điều 16 Hiệp ước về sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực mạch tích hợp và đồng thời đáp ứng các quy định sau đây.

=

Tuỳ thuộc vào quy định tại Khoản 1 Điều 37, các Thành viên phải coi những hành vi sau đây là bất hợp pháp, nếu thực hiện mà không được phép của chủ thể quyền : nhập khẩu, bán, hoặc phân phối dưới hình thức khác nhằm mục đích thương mại thiết kế bố trí đang được bảo hộ, một mạch tích hợp chứa đựng một thiết kế bố trí đang được bảo hộ , hoặc một vật phẩm chứa một mạch tích hợp như trên nhưng chỉ trong chừng mực mạch đó còn chứa đựng một thiết kế bố trí bị sao chép một cách bất hợp pháp.

=

1. Trái với Điều 36, không một Thành viên nào coi là bất hợp pháp việc thực hiện bất kỳ hành vi nào nêu tại Điều đó đối với mạch tích hợp chứa thiết kế bố trí bị sao chép một cách bất hợp pháp hoặc bất kỳ sản phẩm nào chứa mạch tích hợp đó, nếu người thực hiện hoạt động đó hoặc đặt hàng thực hiện hoạt động đó đã không biết hoặc không có căn cứ hợp lý để biết khi nhận đựơc mạch tích hợp hoặc vật phẩm chứa đựng mạch tích hợp rằng mạch tích hợp chứa đựng một thiết kế bố trí đã bị sao chép một cách bất hợp pháp. Các Thành viên phải quy định rằng sau khi đã nhận được thông báo đầy đủ rằng thiết kế bố trí đã bị sao chép bất hợp pháp, người đó có thể thực hiện bất kỳ hành vi nào đối với kho hàng hoá đã có hoặc đã đặt hàng trước khi nhận được thông báo đó, nhưng đổi lại để làm được việc đó phải trả cho chủ thể quyền một khoản tiền tương đương với tiền bản quyền hợp lý như trong trường hợp một hợp đồng li-xăng tự do thoả thuận về thiết kế bố trí đó.

2. Các điều kiện quy định tại các Điểm từ (a) đến (k) của Điều 31 phải được áp dụng với những sửa đổi thích hợp đối với bất kỳ li-xăng không tự nguyện nào về thiết kế bố trí đó hoặc việc sử dụng thiết kế bố trí đó bởi hoặc cho Chính phủ mà không có sự cho phép của chủ thể quyền.

=

1. Tại những Thành viên quy định rằng đăng ký là điều kiện cho việc bảo hộ, thời hạn bảo hộ thiết kế bố trí không ít hơn 10 năm kể từ ngày nộp đơn xin đăng ký hoặc từ ngày việc khai thác thương mại xảy ra lần đầu tiên ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, tuỳ theo thời điểm nào xảy ra sớm hơn.

2. Tại những Thành viên không quy định đăng ký là điều kiện cho việc bảo hộ, thiết kế bố trí phải được bảo hộ trong thời hạn không ít hơn 10 năm kể từ ngày đầu tiên đưa ra khai thác thương mại ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

=

=

1. Để bảo đảm cho việc bảo hộ có hiệu quả chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định tại Điều 10 bis Công ước Paris (1967), các Thành viên phải bảo hộ thông tin kín theo quy định tại Khoản 2 và bảo hộ các dữ liệu nộp cho Chính phủ hoặc các cơ quan Chính phủ theo quy định tại Khoản 3.

2. Cá nhân và pháp nhân phải có được khả năng ngăn chặn để thông tin thuộc quyền kiểm soát hợp pháp của họ không bị tiết lộ cho, nhận được bởi hoặc sử dụng bởi người khác mà không được sự đồng ý của họ theo cách thức trái với hoạt động thương mại trung thực , nếu thông tin đó:

- Có tính chất bí mật với nghĩa là không được biết đến rộng rãi trong giới hoặc dễ dàng tiếp cận được đối với những người thường quan hệ với thông tin đó, như một tổng thể hoặc dưới dạng cấu trúc chính xác và kết hợp của các thành phần của nó.

- Có giá trị thương mại vì nó là bí mật; và

- Đã được người có quyền kiểm soát hợp pháp thực hiện những biện pháp hợp lý theo hoàn cảnh thực tế để giữ bí mật thông tin đó.

3. Khi các Thành viên yêu cầu nộp thử nghiệm hoặc dữ liệu khác chưa được tiết lộ mà phải đầu tư đáng kể mới có được như một điều kiện cho việc đưa ra thị trường các sản phẩm dược hoặc hoá chất nông nghiệp có sử dụng những thực thể hoá học mới thì phải bảo vệ dữ liệu đó chống lại hành vi sử dụng không lành mạnh có tính chất thương mại. Thêm vào đó, các Thành viên phải bảo vệ dữ liệu đó khỏi bị bộc lộ, trừ trường hợp cần thiết phải bảo vệ công chúng hoặc trừ khi có thực hiện các biện pháp nhằm bảo đảm để dữ liệu đó không bị sử dụng trong thương mại một cách không lành mạnh.

=

=

1. Các Thành viên nhất trí rằng một số hoạt động hoặc điều kiện cấp li-xăng gắn liền với các quyền sở hữu trí tuệ có tính chất hạn chế cạnh tranh có thể ảnh hưởng xấu đến thương mại và có thể cản trở việc chuyển giao và phổ biến công nghệ.

2. Không một quy định nào trong Thoả thuận này ngăn cản các Thành viên trong luật pháp quốc gia của mình các hành vi hoặc các điều kiện li-xăng mà trong những trường hợp nhất định bị coi là lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ có gây ảnh hưởng xấu cho hoạt động cạnh tranh trên thị trường liên quan. Như quy định ở trên, Thành viên có thể thông qua các biện pháp thích hợp phù hợp với các quy định của Thoả thuận này để ngăn ngừa hoặc kiểm soát các hành vi trên, trong đó ví dụ có thể bao gồm những điều kiện cấp ngược độc quyền, những điều kiện ngăn ngừa việc phản đối hiệu lực và việc cấp li-xăng trọn gói bắt buộc, phù hợp với luật và quy định liên quan của Thành viên đó.

3. Mỗi Thành viên, khi được yêu cầu, phải bắt đầu tiến hành tham khảo ý kiến với bất kỳ một Thành viên nào khác mà có lý do để cho rằng một chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ là công dân hoặc người thường trú của Thành viên được yêu cầu tham khảo ý kiến đang được thực hiện những hành vi vi phạm luật và quy định của Thành viên yêu cầu về đối tượng được đề cập trong Mục này và Thành viên đó mong muốn đảm bảo việc tuân thủ pháp luật nói trên, không có ảnh hưởng tới bất kỳ vụ kiện nào và tới sự tự do hoàn toàn trong việc ra quyết định cuối cùng của mỗi Thành viên.

4. Một Thành viên có công dân hoặc người thường trú bị xét xử tại một Thành viên khác về việc bị cáo giác vi phạm các quy định pháp luật liên quan đến đối tượng của Mục này của Thành viên khác đó khi yêu cầu thì phải được Thành viên khác nói trên tạo cơ hội để tham khảo ý kiến với những điều kiện như nêu tại Khoản 3.

=

=

=

1. Các Thành viên phải bảo đảm rằng thủ tục thực thi quyền xác định cụ thể tại Phần này được quy định trong luật của mình để cho phép việc khiếu kiện hữu hiệu chống lại bất kỳ hành vi xâm phạm nào đối với quyền sở hữu trí tuệ được đề cập đến trong Thoả thuận này, bao gồm những chế tài kịp thời để ngăn chặn vi phạm và những chế tài có tác dụng răn đe đối với những vi phạm tiếp theo. Các thủ tục đó phải được áp dụng theo cách tránh tạo ra hàng rào cản trở hoạt động thương mại hợp pháp và quy định các bảo hiểm chống lại sự lạm dụng các thủ tục đó.

2. Các thủ tục liên quan đến việc thực thi các quyền sở hữu trí tuệ phải bình đẳng và công bằng. Các thủ tục đó không được phức tạp hoặc tốn kém, hoặc kéo theo những thời hạn bất hợp lý hoặc những chậm trễ không có lý do chính đáng.

3. Các quyết định giải quyết vụ việc phải được thể hiện tốt nhất là bằng văn bản và nêu rõ lý do. Các quyết định đó được trao không chậm trễ ít nhất cho các bên tham gia vụ kiện. Quyết định giải quyết vụ việc phải dựa trên chỉ chứng cứ mà các bên đều đã có cơ hội được trình bày.

4. Các bên tham gia vụ kiện phải có cơ hội được đề nghị xem xét lại các quyết định hành chính cuối cùng bởi cơ quan xét xử và, tuỳ thuộc vào quy định về thẩm quyền tài phán của luật quốc gia của Thành viên liên quan đến tầm quan trọng của vụ án, ít nhất là xem xét lại các khía cạnh pháp lý của các quyết định xét xử vụ việc ở cấp sơ thẩm. Tuy nhiên, các Thành viên không có nghĩa vụ phải quy định một cơ hội để xem xét lại những quyết định vô tội trong các vụ án hình sự.

5. Thoả thuận rằng Phần này không quy định bất kỳ nghĩa vụ nào về thiết lập một hệ thống tư pháp để thực thi quyền sở hữu trí tuệ tách biệt với hệ thống tư pháp để thực thi luật nói chung, cũng không làm ảnh hưởng đến năng lực của các Thành viên trong việc thực thi luật của mình nói chung. Không một điều gì trong Phần này làm nảy sinh bất kỳ nghĩa vụ nào đối với việc phân chia các nguồn lực giữa việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ và việc thực thi luật nói chung.

=

=

Các Thành viên phải thiết lập cho chủ sở hữu quyền những thủ tục tố tụng dân sự liên quan đến việc thực thi bất kỳ quyền sở hữu trí tuệ nào được đề cập trong Thoả thuận này. Bị đơn phải được quyền đuợc thông báo bằng văn bản kịp thời và đầy đủ các chi tiết bao gồm căn cứ của các yêu cầu.

Các bên phải được cho phép được đại diện bởi đại diện hợp pháp độc lập, và thủ tục không được áp đặt những yêu cầu quá nặng nề về việc bắt buộc đương sự có mặt. Tất cả các bên liên quan đến các thủ tục đó phải được hưởng đầy đủ quyền để hậu thuẫn cho các yêu cầu của mình và đưa ra chứng cứ liên quan. Thủ tục phải quy định phương tiện để nhận biết và bảo hộ thông tin kín, trừ khi điều này trái với các yêu cầu của Hiến pháp hiện hành.

=

1. Trường hợp một bên trong vụ kiện đã đưa ra chứng cứ có thể có được một cách hợp lý đủ để làm căn cứ cho yêu cầu của bên đó và đã xác định chứng cứ liên quan đến việc chứng tỏ các yêu cầu của mình mà chứng cứ đó đang nằm trong sự kiểm soát của phía bên kia thì cơ quan xét xử phải có quyền bắt buộc phía bên kia đưa ra những chứng cứ nêu trên, tuỳ thuộc vào các điều kiện bảo đảm việc bảo vệ thông tin kín trong các trường hợp thích hợp.

2. Trong những trường hợp một bên trong một vụ kiện tự ý và không có lý do chính đáng từ chối không cho tiếp cận chứng cứ hoặc bằng cách khác không cung cấp thông tin cần thiết trong một thời hạn hợp lý hoặc gây trở ngại đáng kể việc thực hiện thủ tục thực thi quyền thì một Thành viên có thể cho phép các cơ quan xét xử được quyền đưa ra kết luận sơ bộ và cuối cùng, khẳng định hoặc phủ định, căn cứ vào thông tin được đưa ra bao gồm khiếu nại hoặc quy kết mà bên bị ảnh hưởng bất lợi bởi việc từ chối cho tiếp cận với thông tin đưa ra, tuỳ thuộc vào việc dành cho các bên cơ hội được trình bày ý kiến về các sự quy kết hoặc chứng cứ.

=

1. Các cơ quan xét xử phải có quyền ra lệnh cho một bên trong vụ kiện chấm dứt sự xâm phạm, để cùng với các mục đích khác nhằm ngăn cản sự xâm nhập của hàng hoá nhập khẩu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ vào các kênh thương mại trong phạm vi quyền hạn của mình ngay sau khi hoàn thành thủ tục Hải quan. Các Thành viên không có nghĩa vụ quy định thẩm quyền đó đối với một đối tượng đang được bảo hộ do một người nhận được hoặc đặt hàng trước khi biết hoặc có căn cứ hợp lý để biết rằng kinh doanh đối tượng đó sẽ dẫn đến việc xâm phạm một quyền sở hữu trí tuệ.