Thoa Thuan Trips Ve Nhung Khia Canh Lien Quan Toi Thuong Mai Cu

Chapter 1

Chapter 15,080 wordsPublic domain

Thoả thuận về những khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ

Các thành viên,

Với mong muốn giảm bớt những lệch lạc và những trở ngại trong hoạt động thương mại quốc tế, chú ý tới sự cần thiết phải thúc đẩy việc bảo hộ một cách có hiệu quả và toàn diện quyền sở hữu trí tuệ và bảo đảm rằng những biện pháp và thủ tục thực thi quyền sở hữu trí tuệ không trở thành các chướng ngại cho hoạt động thương mại hợp pháp;

Thừa nhận rằng để đạt được các mong muốn nói trên cần phải có những quy tắc và kỷ cương mới liên quan đến: a) Khả năng áp dụng các nguyên tắc cơ bản của GATT 1994 và của những Thoả thuận hoặc Công ước quốc tế liên quan về sở hữu trí tuệ; b) Việc quy định những tiêu chuẩn và nguyên tắc thích hợp liên quan đến việc có bảo hộ, phạm vi và việc sử dụng của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại; c) Việc quy định những biện pháp có hiệu quả và phù hợp nhằm thực thi quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại, có tính đến sự khác biệt giữa những hệ thống pháp luật quốc gia; d) Việc quy định những thủ tục hữu hiệu và nhanh chóng nhằm ngăn ngừa và giải quyết đa phương tranh chấp giữa các Chính phủ; và e) Những thoả thuận chuyển tiếp đảm bảo tham gia đầy đủ nhất trong các kết quả của các cuộc đàm phán;

Thừa nhận sự cần thiết đối với một khuôn khổ đa phương những nguyên tắc; quy tắc và kỷ cương liên quan đến thương mại quốc tế hàng giả;

Thừa nhận rằng các quyền sở hữu trí tuệ là quyền tư hữu;

Thừa nhận các mục tiêu chính sách công cộng quan trọng của những hệ thống quốc gia về bảo hộ sở hữu trí tuệ, trong đó có mục tiêu phát triển và công nghệ;

Thừa nhận cả nhu cầu đặc biệt của các thành viên là nước kém phát triển đối với sự linh hoạt tối đa trong việc áp dụng luật và quy định trong nước để các nước đó có thể tạo ra một cơ sở công nghệ hợp lý và phát triển được;

Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giảm bớt sự căng thẳng bằng cách đưa ra những cam kết chắc chắn hơn để giải quyết những tranh chấp về những vấn đề sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại thông qua những thủ tục đa phương;

Với mong muốn thiết lập mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau giữa WTO và Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (trong Thoả thuận này được gọi là "WIPO") cũng như những tổ chức quốc tế liên quan khác;

Thoả thuận như sau:

=

=

1. Các Thành viên phải thi hành các Điều khoản của Thoả thuận này. Các Thành viên có thể, nhưng không bị bắt buộc, áp dụng trong luật của mình sự bảo hộ rộng hơn so với sự bảo hộ mà Thoả thuận này đòi hỏi, với điều kiện là sự bảo hộ đó không trái với các quy định của Thoả thuận này. Các Thành viên sẽ tự do quyết định biện pháp thích hợp nhằm thi hành các điều khoản của Thoả thuận này trong hệ thống pháp luật và thực tiễn của mình.

2. Nhằm các mục tiêu của Thoả thuận này, thuật ngữ "sở hữu trí tuệ" dẫn chiếu đến tất cả các phạm trù của sở hữu trí tuệ thuộc đối tượng của các mục từ 1 đến 7 Phần II.

3. Các Thành viên phải dành cho các công dân của các Thành viên khác sự đối xử được quy định trong Thoả thuận này[1] . Đối với từng loại quyền sở hữu trí tuệ liên quan, các công dân của các Thành viên khác được hiểu là các cá nhân hoặc pháp nhân có thể đáp ứng các tiêu chuẩn để nhận được sự bảo hộ quy định trong Công ước Paris (1967), Công ước Berne (1971), Công ước Rome, Hiệp ước về sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực mạch tích hợp nếu như tất cả các Thành viên của WTO đều là Thành viên của các Công ước đó [2] . Bất kỳ thành viên nào sử dụng khả năng quy định trong Khoản 3 Điều 5 hoặc Khoản 2 Điều 6 Công ước Rome đều phải thông báo như đã nêu trong các Điều khoản này cho Hội đồng về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ ("Hội đồng TRIPS").

=

1. Đối với Phần II, III và IV của Thoả thuận này, các Thành viên phải tuân theo các Điều từ 1 đến 12 và Điều 19 của Công ước Paris (1967).

2. Không một quy định nào trong các Phần từ I đến IV của Thoả thuận này làm giảm đi các nghĩa vụ mà các Thành viên hiện đang có thể có đối với nhau theo Công ước Paris, Công ước Berne, Công ước Rome và Hiệp ước về sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực mạch tích hợp.

=

1. Mỗi Thành viên phải dành cho các công dân của các Thành viên khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn so với sự đối xử của Thành viên đó đối với công dân của mình trong bảo hộ sở hữu trí tuệ tùy thuộc vào các ngoại lệ đã được quy định trong, theo thứ tự đã nêu, Công ước Paris (1967), Công ước Berne (1971), Công ước Rome hoặc Hiệp ước về sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực mạch tích hợp. Đối với những người biểu diễn, người sản xuất bản ghi âm và các tổ chức phát thanh truyền hình, nghĩa vụ này chỉ áp dụng cho các quyền được quy định theo Thoả thuận này. Bất kỳ Thành viên nào sử dụng các khả năng được quy định tại Điều 6 Công ước Berne (1971) hoặc Khoản 1 (b) Điều 16 Công ước Rome phải thông báo như đã dự kiến trong các quy định nói trên cho Hội đồng TRIPS.

2. Các Thành viên có thể sử dụng các ngoại lệ nêu tại Khoản 1 liên quan đến các thủ tục xét xử và hành chính, kể cả việc chỉ định địa chỉ liên lạc hoặc cử đại diện tại lãnh thổ thuộc thẩm quyền của một Thành viên, chỉ khi những ngoại lệ đó là cần thiết để đảm bảo thi hành đúng những luật và quy định không mâu thuẫn với các quy định của Thoả thuận này và khi việc đó không được thực hiện theo cách có thể các hoạt động đó không tạo ra một sự hạn chế trá hình trong thương mại.

=

Đối với việc bảo hộ sở hữu trí tuệ, bất kỳ một sự thuận lợi, ưu đãi, đặc quyền hoặc miễn trừ nào được một Thành viên dành cho công dân của bất kỳ nước nào khác thì lập tức và vô điều kiện phải được dành cho công dân của tất cả các Thành viên khác. Được miễn nghĩa vụ này là bất kỳ thuận lợi, ưu đãi, đặc quyền hoặc miễn trừ nào do một Thành viên dành cho:

a) Phát sinh từ các thoả thuận quốc tế về trợ giúp tư pháp hoặc thực thi luật có tính chất chung và không giới hạn cụ thể cho bảo hộ sở hữu trí tuệ;

b) Được cấp theo các quy định của Công ước Berne (1971) hoặc Công ước Rome, cho phép dành sự đối xử không theo sự đối xử công dân mà theo sự đối xử do một nước khác dành cho;

c) Liên quan đến các quyền không được quy định theo Thoả thuận này của những người biểu diễn, người sản xuất bản ghi âm và các tổ chức phát thanh truyền hình;

d) Phát sinh từ những thoả thuận quốc tế liên quan đến bảo hộ sở hữu trí tuệ đã có hiệu lực trước khi Thoả thuận WTO có hiệu lực, với điều kiện là các thoả thuận đó được thông báo cho Hội đồng TRIPS và không tạo nên sự phân biệt đối xử tuỳ tiện hoặc không chính đáng đối với công dân của các Thành viên khác.

=

Các nghĩa vụ quy định tại các Điều 3 và 4 không áp dụng cho các thủ tục quy định trong các Thoả thuận đa phương được ký kết dưới sự bảo trợ của WIPO liên quan đến việc nhận được hoặc duy trì quyền sở hữu trí tuệ.

=

Nhằm mục đích giải quyết tranh chấp theo Thoả thuận này, tuỳ thuộc vào quy định của các Điều 3 và 4 không được sử dụng điều gì trong Thoả thuận này để đề cập đến vấn đề khai thác hết quyền sở hữu trí tuệ.

=

Việc bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ cần góp phần vào thúc đẩy đổi mới công nghệ và chuyển giao và phổ biến công nghệ, vào thuận lợi chung của người tạo ra và người sử dụng kiến thức công nghệ và theo cách thức hướng tới phúc lợi xã hội và kinh tế và vào sự cân bằng về quyền và nghĩa vụ.

=

1. Trong việc ban hành hoặc sửa đổi các luật và quy định của mình, các Thành viên có thể thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ sức khoẻ và dinh dưỡng nhân dân và thúc đẩy lợi ích công cộng trong những lĩnh vực quan trọng sống còn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và công nghệ của mình, với điều kiện là các biện pháp đó phù hợp với các quy định của Thoả thuận này.

2. Những biện pháp thích hợp, với điều kiện không trái với các quy định của Thoả thuận này, có thể cần để ngăn ngừa việc lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể quyền hoặc ngăn chặn việc dựa vào những hành vi gây cản trở cho hoạt động thương mại một cách bất hợp lý hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chuyển giao công nghệ quốc tế.

=

=

=

1. Các Thành viên phải tuân thủ các Điều từ 1 đến 21 và Phụ lục kèm theo Công ước Berne (1971). Tuy nhiên, các Thành viên không được quyền và không phải có nghĩa vụ theo Thoả thuận này đối với các quyền được cấp theo Điều 6 bis của Công ước đó hoặc đối với các quyền phát sinh từ đó.

2. Bảo hộ bản quyền phải mở rộng tới sự thể hiện và không tới ý đồ, thủ tục, phương pháp hoạt động hoặc khái niệm toán học với tư cách như vậy.

=

1. Chương trình máy tính, dù trong dạng mã nguồn hay mã máy, phải được bảo hộ như tác phẩm văn học theo Công ước Berne (1971).

2. Sưu tập dữ liệu hoặc tư liệu khác, dù ở dạng đọc được bằng máy hoặc dạng khác, mà việc lựa chọn hoặc sắp xếp nội dung của chúng tạo nên những sáng tạo trí tuệ phải được bảo hộ với tư cách như vậy. Việc bảo hộ nói trên, mà chính nó không được mở rộng đến bản thân các dữ liệu hoặc tư liệu, không được làm tổn hại tới bất kỳ bản quyền nào đang tồn tại trong chính dữ liệu hoặc tư liệu đó.

=

Ít nhất là đối với chương trình máy tính và tác phẩm điện ảnh, một Thành viên phải dành cho tác giả và người thừa kế hợp pháp của họ quyền cho phép hoặc cấm việc cho công chúng thuê với mục đích thương mại bản gốc hoặc bản sao các tác phẩm thuộc bản quyền của họ. Một Thành viên phải được miễn nghĩa vụ này đối với các tác phẩm điện ảnh, trừ khi hoạt động cho thuê như vậy đã dẫn đến tình trạng sao chép rộng rãi các tác phẩm đó, làm suy giảm độc quyền sao chép dành cho các tác giả và những người thừa kế hợp pháp của họ ở nước Thành viên đó. Đối với chương trình máy tính, nghĩa vụ này không áp dụng đối với hoạt động cho thuê nếu bản thân chương trình không phải là đối tượng chủ yếu để cho thuê.

=

Nếu thời hạn bảo hộ tác phẩm không phải là tác phẩm nhiếp ảnh và tác phẩm nghệ thuật ứng dụng không được tính theo đời người thì thời hạn đó không được dưới 50 năm kể từ khi kết thúc năm lịch mà tác phẩm được công bố hợp pháp hoặc, trường hợp tác phẩm không được công bố hợp pháp trong vòng 50 năm kể từ ngày tạo ra tác phẩm, 50 năm từ khi kết thúc năm lịch mà tác phẩm được tạo ra.

=

Các Thành viên phải giới hạn những hạn chế hoặc ngoại lệ đối với độc quyền trong những trường hợp đặc biệt nhất định mà những trường hợp đó không mâu thuẫn với việc khai thác bình thường của tác phẩm và không ảnh hưởng một cách bất hợp lý tới các lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền.

=

1. Đối với việc ghi chương trình biểu diễn của mình trên bản ghi âm, những người biểu diễn phải có khả năng được ngăn cấm các hành vi sau đây nếu thực hiện mà không được họ cho phép: ghi buổi biểu diễn chưa được ghi của họ và sao chép bản ghi đó. Những người biểu diễn cũng phải có khả năng ngăn cấm những hành vi sau đây nếu thực hiện mà không được họ cho phép: phát sóng qua phương tiện vô tuyến và truyền đạt tới công chúng buổi biểu diễn trực tiếp của họ.

2. Những người sản xuất bản ghi âm phải được quyền cho phép hoặc cấm việc sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp các bản ghi âm của họ.

3. Các tổ chức phát thanh truyền hình phải được quyền cấm các hành vi sau đây nếu thực hiện mà không được họ cho phép: ghi, sao chép bản ghi và phát lại qua phương tiện vô tuyến các chương trình phát cũng như truyền đạt tới công chúng các chương trình truyền hình của chính các chương trình phát đó.Trường hợp những Thành viên không cấp những quyền như trên cho những tổ chức phát thanh truyền hình thì đều phải dành cho chủ bản quyền của các đối tượng trong chương trình phát thanh truyền hình khả năng ngăn cấm các hành vi trên, tuỳ thuộc vào các quy định của Công ước Berne (1971).

4. Quy định tại Điều 11 đối với chương trình máy tính phải được áp dụng, với những sửa đổi thích hợp, cho những người sản xuất bản ghi âm và bất kỳ chủ thể quyền nào khác đối với bản ghi âm theo quy định trong luật quốc gia của mỗi Thành viên. Nếu một Thành viên đang áp dụng, vào ngày 15.4.1994, một hệ thống quy định về tiền thù lao thích đáng cho những chủ thể quyền cho thuê bản ghi âm thì có thể duy trì hệ thống đó, với điều kiện là việc cho thuê bản ghi âm nhằm mục đích thương mại không gây ra sự suy giảm đáng kể đối với độc quyền sao chép của chủ thể quyền.

5. Thời hạn bảo hộ theo Thoả thuận này đối với những người biểu diễn và sản xuất bản ghi âm phải kéo dài ít nhất là đến hết thời hạn 50 năm tính từ khi kết thúc năm lịch mà việc ghi hoặc buổi biểu diễn được tiến hành. Thời hạn bảo hộ theo Khoản 3 phải kéo dài ít nhất là 20 năm tính từ khi kết thúc năm lịch mà chương trình phát được thực hiện.

6. Liên quan đến các quyền nêu tại các Khoản từ 1 đến 3, bất kỳ Thành viên nào đều có thể quy định điều kiện, hạn chế, ngoại lệ và bảo lưu trong phạm vi cho phép theo Công ước Rome. Tuy nhiên, quy định tại Điều 18 Công ước Berne (1971) cũng phải được áp dụng, với những sửa đổi thích hợp, đối với quyền của người biểu diễn và người sản xuất bản ghi âm về bản ghi âm.

=

=

1. Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc sự kết hợp nào của những dấu hiệu, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của những doanh nghiệp khác, đều phải là có khả năng cấu tạo nên nhãn hiệu hàng hoá. Những dấu hiệu đó, đặc biệt là những từ bao gồm tên người, chữ cái, chữ số, yếu tố hình và sự kết hợp mầu sắc cũng như sự kết hợp bất kỳ của những dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hoá. Trường hợp dấu hiệu không có khả năng vốn có để phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ liên quan, các Thành viên có thể quy định khả năng được đăng ký phụ thuộc vào tính phân biệt đạt được thông qua việc sử dụng. Các thành viên có thể yêu cầu, như một điều kiện để được đăng ký, là dấu hiệu phải nhìn thấy được.

2. Khoản 1 trên đây không được hiểu là để cấm một thành viên từ chối đăng ký nhãn hiệu hàng hoá dựa vào những căn cứ khác, với điều kiện những căn cứ khác đó không hạ thấp các quy định của Công ước Paris (1967).

3. Các thành viên có thể buộc khả năng được đăng ký phụ thuộc vào việc sử dụng. Tuy nhiên, không được coi việc sử dụng thực sự nhãn hiệu hàng hoá là điều kiện để nộp đơn. Không được từ chối đơn đăng ký với lý do duy nhất là dự định sử dụng không được thực hiện trước khi kết thúc thời hạn 3 năm kể từ ngày nộp đơn.

4. Tính chất của hàng hoá hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu hàng hoá không được gây cản trở cho việc đăng ký của nhãn hiệu hàng hoá đó trong bất kỳ trường hợp nào.

5. Các Thành viên phải công bố từng nhãn hiệu hàng hoá trước khi hoặc ngay sau khi nhãn hiệu được đăng ký và phải dành cơ hội hợp lý cho việc nộp đơn yêu cầu huỷ bỏ việc đăng ký đó. Ngoài ra, các Thành viên có thể dành một cơ hội để phản đối việc đăng ký nhãn hiệu hàng hoá.

=

1. Chủ sở hữu một nhãn hiệu hàng hoá đã đăng ký phải có độc quyền ngăn cản tất cả mọi bên thứ ba sử dụng mà không được chủ sở hữu cho phép trong quá trình thương mại các dấu hiệu trùng hoặc tương tự cho các hàng hoá hoặc dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hoá hoặc dịch vụ mà nhãn hiệu đó được đăng ký để sử dụng, nếu việc sử dụng đó có thể dẫn đến khả năng nhầm lẫn. Trong trường hợp sử dụng cùng một dấu hiệu cho cùng một loại sản phẩm hoặc dịch vụ thì khả năng nhầm lẫn phải được giả định. Các quyền nêu trên không được ảnh hưởng đến các quyền đã có trước đang tồn tại, cũng không được ảnh hưởng đến khả năng các Thành viên quy định khả năng cấp quyền trên cơ sở sự sử dụng.

2. Điều 6 bis Công ước Paris (1967) phải được áp dụng, với những sửa đổi thích hợp, đối với những hàng hoá hoặc dịch vụ. Để xác định liệu một nhãn hiệu hàng hoá có nổi tiếng hay không, các Thành viên phải chú ý đến sự nhận biết nhãn hiệu hàng hoá đó trong bộ phận công chúng liên quan, bao gồm sự nhận biết đạt được tại nước Thành viên liên quan đó nhờ quảng cáo nhãn hiệu hàng hoá đó.

3. Điều 6 bis Công ước Paris (1967) phải được áp dụng, với những sửa đổi thích hợp, đối với những hàng hoá hoặc dịch vụ không tương tự với những hàng hoá hoặc dịch vụ được đăng ký kèm theo một nhãn hiệu hàng hoá, với điều kiện là việc sử dụng nhãn hiệu hàng hoá đó cho những hàng hoá dịch vụ nói trên có thể chỉ dẫn đến một mối liên hệ giữa những hàng hoá dịch vụ đó với chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá đã đăng ký có nguy cơ bị việc sử dụng nói trên gây tổn hại.

=

Các Thành viên có thể quy định những ngoại lệ hạn chế đối với các quyền được cấp liên quan đến một nhãn hiệu hàng hoá, chẳng hạn như việc sử dụng với mục đích lành mạnh những thuật ngữ mô tả, với điều kiện là những ngoại lệ đó có chú ý đến lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá và của những bên thứ ba.

=

Đăng ký lần đầu và mỗi lần gia hạn đăng ký một nhãn hiệu hàng hoá phải có thời hạn hiệu lực không dưới 7 năm. Đăng ký của một nhãn hiệu hàng hoá phải gia hạn được một cách không hạn chế.

=

1. Nếu sử dụng là điều kiện để duy trì đăng ký thì đăng ký có thể bị huỷ bỏ chỉ sau một thời gian liên tục ít nhất là 3 năm không sử dụng, trừ trường hợp chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá chứng tỏ là có lý do chính đáng dựa trên sự tồn tại của các cản trở đối với việc sử dụng. Những tình huống ngoài ý muốn của chủ nhãn hiệu hàng hoá gây nên sự trở ngại cho việc sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, chẳng hạn như các hạn chế nhập khẩu hoặc các yêu cầu khác của Chính phủ đối với hàng hoá hoặc dịch vụ được bảo hộ thông qua nhãn hiệu hàng hoá đó, phải được coi là lý do chính đáng đối với việc không sử dụng.

2. Việc một người khác sử dụng nhãn hiệu hàng hoá tuân theo sự kiểm soát của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa phải được công nhận là việc sử dụng nhãn hiệu hàng hoá đó theo mục đích duy trì đăng ký.

=

Không được đưa ra các yêu cầu đặc biệt gây cản trở một cách không chính đáng đến việc sử dụng nhãn hiệu hàng hoá trong quá trình thương mại, chẳng hạn như sử dụng kết hợp với một nhãn hiệu hàng hoá khác, sử dụng dưới hình thức đặc biệt hoặc sử dụng theo một cách nào đó làm hại đến khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của những doanh nghiệp khác. Điều này sẽ không loại trừ việc quy định nhãn hiệu hàng hoá xác định doanh nghiệp tạo ra hàng hoá hoặc dịch vụ phải được sử dụng cùng với, nhưng không gắn với, nhãn hiệu hàng hoá phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ cụ thể nói trên của doanh nghiệp đó.

=

Các Thành viên có thể xác định điều kiện chuyển giao quyền sử dụng và chuyển nhượng nhãn hiệu hàng hoá, điều này được hiểu là không được cho phép li-xăng không tự nguyện đối với nhãn hiệu hàng hoá và chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá đã đăng ký phải được quyền chuyển nhượng nhãn hiệu hàng hoá cùng với hoặc không cùng với việc chuyển nhượng doanh nghiệp có nhãn hiệu hàng hoá đó.

=

=

1. Trong Thoả thuận này chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn xác định một sản phẩm là có nguồn gốc từ lãnh thổ của một Thành viên hoặc từ khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, khi chất lượng, uy tín hoặc đặc tính khác của sản phẩm đó chủ yếu gắn với xuất xứ địa lý của nó.

2. Đối với chỉ dẫn địa lý, các Thành viên phải đưa ra những biện pháp pháp lý để các bên liên quan ngăn ngừa: a) Việc sử dụng bất kỳ phương tiện nào để gọi tên hoặc giới thiệu sản phẩm nhằm chỉ dẫn hoặc gợi ý rằng sản phẩm đó có xuất xứ từ một khu vực địa lý khác với xuất xứ thực theo cách thức hướng dẫn sai lạc công chúng về xuất xứ địa lý của sản phẩm; b) Bất kỳ hành vi sử dụng nào cấu thành một hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo ý nghĩa của Điều 10 bis Công ước Paris (1967).

3. Mỗi Thành viên phải, mặc nhiên nếu luật pháp quốc gia đó cho phép như vậy hoặc theo yêu cầu của một bên liên quan, từ chối hoặc huỷ bỏ hiệu lực đăng ký một nhãn hiệu hàng hoá chứa đựng hoặc cấu thành từ một chỉ dẫn địa lý đối với sản phẩm không có xuất xứ từ lãnh thổ đã được chỉ dẫn, nếu việc sử dụng chỉ dẫn đó trên nhãn hiệu hàng hoá cho những hàng hoá như vậy tại nước Thành viên đó có tính chất nhằm hướng dẫn sai công chúng về nơi xuất xứ thực.

4. Quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 phải được áp dụng để ngăn chặn các chỉ dẫn địa lý mà mặc dù theo nghĩa đen là đúng về lãnh thổ, khu vực hoặc địa phương xuất xứ của sản phẩm, nhưng lại thể hiện sai cho công chúng là hàng hoá đó có xuất xứ từ một lãnh thổ khác.

=

1. Mỗi Thành viên phải quy định những biện pháp pháp lý để các bên liên quan ngăn ngừa việc sử dụng một chỉ dẫn địa lý phân biệt rượu vang cho những loại rượu vang không có xuất xứ từ nơi được chỉ dẫn theo chỉ dẫn địa lý đó hoặc sử dụng chỉ dẫn địa lý xác định rượu mạnh cho những loại rượu mạnh không có xuất xứ từ nơi được chỉ dẫn theo chỉ dẫn địa lý đó, thậm chí cả khi xuất xứ thật của sản phẩm được chỉ dẫn hoặc chỉ dẫn địa lý được sử dụng dưới dạng dịch hoặc sử dụng kèm theo các từ ngữ như "loại", "kiểu", "dạng", "phỏng theo" hoặc những từ ngữ tương tự như vậy .

2. Việc đăng ký một nhãn hiệu hàng hoá dùng cho rượu vang, có chứa hoặc được cấu thành bởi chỉ dẫn địa lý phân biệt rượu vang, hoặc nhãn hiệu hàng hoá dùng cho rượu mạnh, có chứa hoặc được cấu thành bởi chỉ dẫn địa lý phân biệt rượu mạnh phải bị từ chối hoặc bị huỷ bỏ, một cách mặc nhiên nếu pháp luật của quốc gia thành viên cho phép như vậy hoặc theo yêu cầu của một bên liên quan, đối với những loại rượu vang hoặc rượu mạnh như vậy không có xuất xứ nói trên.

3. Trong trường hợp chỉ dẫn địa lý đồng âm dùng cho rượu vang, sự bảo hộ phải dành cho mỗi chỉ dẫn tuỳ thuộc vào qui định tại Khoản 4 Điều 22. Mỗi thành viên phải xác định các điều kiện thực tế theo đó các chỉ dẫn đồng âm này sẽ được phân biệt với nhau, có lưu ý đến việc bảo đảm đối xử công bằng với các nhà sản xuất có liên quan và bảo đảm rằng người tiêu dùng không bị nhầm lẫn.

4. Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo hộ các chỉ dẫn địa lý dùng cho rượu vang, phải tiến hành các cuộc đàm phán trong Hội đồng TRIPS về việc thành lập một hệ thống đa phương để thông báo và đăng ký các chỉ dẫn địa lý dùng cho rượu vang có thể bảo hộ tại các nước thành viên tham gia hệ thống đó.

=

1. Các thành viên thoả thuận sẽ tham gia các cuộc đàm phán nhằm tăng cường việc bảo hộ từng chỉ dẫn địa lý cụ thể theo Điều 23. Không thành viên nào được sử dụng các qui định tại các Khoản từ 4 đến 8 sau đây để từ chối tham gia đàm phán hoặc ký kết các thoả thuận song phương hoặc đa phương. Trong các cuộc đàm phán đó, các Thành viên phải có thiện chí xem xét khả năng tiếp tục áp dụng các qui định này đối với từng chỉ dẫn địa lý cụ thể mà việc sử dụng các chỉ dẫn địa lý cụ thể mà việc sử dụng các chỉ dẫn đó là đối tượng đàm phán.

2. Hội đồng TRIPs phải thường xuyên xem xét lại việc áp dụng quy định của Mục này; lần xem xét thứ nhất được thực hiện trong vòng hai năm từ khi Thoả ước WTO có hiệu lực. Bất kỳ vấn đề nào ảnh hưởng đến việc thực hiện các nghĩa vụ theo các quy định này đều có thể được thông báo cho Hội đồng biết, Hội đồng này theo yêu cầu của một thành viên phải trao đổi ý kiến với một hay nhiều Thành viên bất kỳ nào khác về vấn đề chưa tìm ra được giải pháp thoả đáng thông qua các cuộc thương lượng song phương hoặc đa phương giữa các thành viên liên quan. Hội đồng phải thực hiện hoạt động như có thể được thoả thuận nhằm tạo thuận lợi cho việc thực hiện và đẩy mạnh các mục tiêu của Mục này.

3. Khi thi hành Mục này, không một thành viên nào được giảm bớt việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý đã tồn tại trong nước ngay trước thời điểm thoả thuận WTO bắt đầu có hiệu lực.

4. Không một quy định nào trong Mục này buộc một Thành viên ngăn cản sự sử dụng liên tục và tương tự của một chỉ dẫn địa lý cụ thể về rượu vang hoặc rượu mạnh của một Thành viên khác do cư dân hoặc công dân nước mình tiến hành cho hàng hoá hoặc dịch vụ mà những người đó đã liên tục sử dụng chỉ dẫn địa lý đó trong lãnh thổ của Thành viên đó cho hàng hoá hoặc dịch vụ cùng loại hoặc liên quan (a) trong thời gian ít nhất 10 năm trước ngày 15/4/1994 hoặc; (b) một cách có thiện ý trước thời điểm đó.