Theo tục ngữ phong dao, xét về sự sanh hoạt của phụ nữ nước ta
Part 4
Đã gọi là việc nhà thì thôi, không trừ cho bà nào hết :
Ra đường bà nọ bà kia,
Về nhà không khỏi cái nia cái sàng.
Ấy rồi mới đến hạng đàn bà nghèo nàn, nhà cửa đơn sơ, chẳng có công việc chi, chỉ đi bắt ốc, hái rau, đốn củi, đốt than mà độ nhựt, thì lại càng vất vả hơn nữa :
- Rủ nhau lên núi đốt than,
Anh đi Tam Điệp, em mang nón trình.
Củi than lem luốc với tình,
Ghi lời vàng đá, xin mình chớ quên !
- Rủ nhau xuống biển mò cua,
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng.
Em ơi ! chua ngọt đã từng,
Non xanh nước bạc, ta đừng quên nhau !
Ở trong cái cảnh ấy, tuy lem luốc chua cay mặc lòng, mà “ghi lời vàng đá”, “non xanh nước bạc chẳng quên nhau”, thì lại vui lòng gấp mấy những người giàu sang sung sướng mà bạc tình phụ nghĩa. Cho nên nói rằng : Phước thay cho kẻ nghèo !
Kết luận
Bài khảo cứu đến đây cũng đã dài rồi, những tục ngữ phong dao nói về đàn bà cũng đã hết, xin có mấy lời kết luận :
Nhớ lại trong lời giáo đầu bài này, tôi có nói : Muốn giải quyết vấn đề phụ nữ phải làm hai từng công việc. Việc thứ nhứt là phải suy tìm cho biết cái tình trạng phụ nữ nước ta từ xưa đến nay ra làm sao, việc thứ hai là phải định phương châm cho cách sanh hoạt mới của phụ nữ nên thế nào. Mà tôi viết bài nầy là có ý góp một phần vào trong công việc thứ nhứt.
Vậy đọc từ đầu bài đến đây, độc giả cũng đã thấy cái tình trạng phụ nữ nước ta từ xưa đến nay ra làm sao rồi. Lời kết luận nầy chẳng qua tóm tắt lại cho dễ nhớ mà thôi.
Trước hết, nước ta do theo lễ giáo phong tục, mà coi đàn bà con gái không ra chi. Đối với đàn ông, đàn bà phải chịu nhiều cái điều ước bất bình đẳng. Đàn bà đối với xã hội, có nghĩa vụ không kém gì đàn ông, nhưng quyền lợi không bằng đàn ông.
Từ đôi ba mươi năm nay, nhơn cái phong trào của thế giới mà cái hoàn cảnh của xã hội ta cũng thay đổi. Do cái hoàn cảnh ấy và do cái chế độ cũ của ta đã sa sút đi, mà không có cái chế độ khác chánh đáng hơn thay vào, thành ra trong phụ nữ giới có nhiều cái biến thái.
Song chúng ta phải xét cho kỹ, cái biến thái ấy chỉ phần nhiều sanh ra ở chốn thành thị mà thôi, chớ các nơi nhà quê, phụ nữ ta vẫn chưa mất cái nền nếp xưa.
Đó, đại lược cái tình trạng của phụ nữ ta tóm lại trong mấy lời ấy.
Tôi có đọc mấy bài ý kiến của các ông trả lời cho Phụ nữ tân văn [ 19 ] , như bài ông Nguyễn Văn Vĩnh, bài ông Nguyễn Phan Long, ông thì nói đàn bà ta ngày nay muốn làm ra đầm, ông thì nói đàn bà ta không được việc chi hết. Tôi cho nói như vậy là vì cái thiên kiến. Các ổng chỉ ngó vào các bà các cô ở Hà Nội, Sài Gòn mà nói, chớ không kể đến đàn bà ở nhà quê. Thưa các ông, hạng thắt lưng buộc bụng ở nhà quê cũng là đàn bà vậy chớ, mà hạng nầy lại nhiều hơn nữa.
Cái công việc thứ hai, tôi không đủ sức làm. Tôi không có đủ tài vẽ ra một con đường mới cho phụ nữ ta rày về sau noi đó mà đi. Nhưng sau khi viết bài khảo cứu nầy, tôi cũng có được một cái ý kiến tầm thường, thử nói sơ ra đây.
Ước gì xã hội ta nhắc cái địa vị của phụ nữ cho cao lên một chút. Cái nghĩa vụ của họ xưa nay thế nào vẫn buộc phải như thế, mà thêm cái quyền lợi của họ lên. Cùng trong một lúc ấy, lại kiếm cách đem phụ nữ ở thành thị cho vào khuôn vào phép, mà cởi bớt trói buộc cho phụ nữ ở thôn quê ra.
Hiện ngày nay ở nước ta, mọi việc đã mất cả thăng bằng, mà trong đám phụ nữ cũng vậy, người sướng, sướng quá, kẻ khổ, khổ quá. Nếu cứ để yên cái hiện trạng ngày nay thì không mấy lâu nữa mà đàn bà con gái nhà quê kẻ trốn cha mẹ, bỏ chồng con, tìm đến thành thị mà ở hết, vì ở đó sướng hơn.
Song le, cái ý kiến của tôi đó cũng lại là một cái ý kiến bông lông. Tôi nói “Ước gì xã hội ta”, – thế là trông mong vào ai ? Tôi nói “kiếm cách”, – là cách nào ?
Tôi quyết rằng mình không có quyền chánh trị và quyền giáo dục trong tay thì có ý kiến chi cũng là vô dụng cả. Nói ra mà nghe chơi thì được, chớ chẳng có thể nào thiệt hành nổi.
Trong bài trả lời của ông Diệp Văn Kỳ, cũng không khỏi cái bịnh bông lông, nhưng có một câu đáng chú ý nhứt, là ông nói : Cái vấn đề phụ nữ thì phải chính phụ nữ tự giải quyết lấy.
Phải lắm. Ngày nay ở nước ta kẻ có phương thế giải quyết cái vấn đề ấy thì lại không cần giải quyết mà làm chi ; còn kẻ muốn giải quyết thì lại không có phương thế. Như vậy, nếu phụ nữ chẳng tự mình giải quyết lấy thì ai ? Mà phụ nữ muốn giải quyết cái vấn đề ấy, chẳng chi bằng cậy ở tấm lòng giác ngộ của mình.
Giác ngộ đối với hôn mê . Khi còn ở trong giấc ngủ, thì hôn mê không biết chi ; khi đã thức dậy, đã tỉnh biết, thì làm theo sự tỉnh biết của mình. Lúc nào phụ nữ ta đã có một phần đông thức dậy và tỉnh biết, lúc ấy họ sẽ lấy tấm lòng giác ngộ của mình mà giải quyết vấn đề ấy.
Vì nghĩ như vậy, tôi bỏ không làm tiếp công việc thứ hai, mà định rằng trong một số tới, chưa biết số nào, sẽ có một bài bàn về sự giác ngộ của phụ nữ ta từ rày về sau nên làm sao.
PHAN KHÔI
   
Chú thích
- ▲ Chìu lòn: hạ mình, theo ý người khác (theo H.T. Paulus Của)
- ▲ Cả và  : tất cả
- ▲ Chú ý : đây là cách xử lý chung của giới viết văn viết báo nửa đầu thế kỷ XX : giữ nguyên trật tự các từ tổ hợp gốc Hán (định ngữ đứng trước danh từ), vì vậy “mẫu quyền gia đình” ở đây vẫn có nghĩa là : Kiểu gia đình theo mẫu quyền
- ▲ Bản gốc là phát triết , có thể do in sai, ở đây sửa lại
- ▲ Trổ trời  : thấu trời ; nghĩa bóng : rất, quá (theo H.T. Paulus Của)
- ▲ Đừa đi  : xô đẩy nhẹ, đưa đi (theo H. T. Paulus Của)
- ▲ Để vợ  : bỏ vợ
- ▲ Gia nương  : mẹ (theo H. T. Paulus Của)
- ▲ Câu phong dao nầy thấy trong sách Thanh Hóa quan phong của Vương Duy Trinh. Mấy lời mở đầu không hiểu nghĩa ra sao (Nguyên chú của Phan Khôi)
- ▲ Mắc tịt  : thẹn, xấu hổ (theo H. T. Paulus Của)
- ▲ Đơm quải  : cúng cơm cho vong hồn cha mẹ (theo H. T. Paulus Của); bản gốc in là quảy , chắc in sai, ở đây sửa lại.
- ▲ Chừng chỗ  : không rõ nghĩa; phải chăng là chừng độ  ? Bản gốc in lầm ?
- ▲ Ông chú, mụ o  : ông chú, bà cô
- ▲ Dịch đình  : nhà ở cạnh cung vua ; dịch đình ở đây trỏ trong cung cấm (khác dịch đình (cùng âm, khác chữ) trỏ nhà trạm dịch trên đường tin tức, thư tín) (theo Đào Duy Anh)
- ▲ Bản gốc là: bích ngọc , hột xoàng ; ở đây sửa lại
- ▲ Bản gốc là: Điều có , có lẽ in sai; ở đây sửa lại
- ▲ Có lẽ chỗ này bản gốc in sót 1 từ, phải chăng là “chị hàng cau ”?
- ▲ Ở nể  : ở không (theo H. T. Paulus Của
- ▲ Phụ nữ tân văn ngay từ các số đầu đã mở cuộc trưng cầu ý kiến về vấn đề phụ nữ. Dưới đề mục Các danh nhân trong nước đối với vấn đề phụ nữ , từ số 1 (2.5.1929) đến số 14 (1.8.1929), báo lần lượt đăng ý kiến của: Trần Trọng Kim, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Bá, Nguyễn Văn Vĩnh, Đạm Phương nữ sĩ, Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu, Nguyễn Phan Long, Cao Văn Chánh, Diệp Văn Kỳ.