Theo tục ngữ phong dao, xét về sự sanh hoạt của phụ nữ nước ta
Part 3
Từ ngày tôi viết bài khảo cứu nầy lần lượt đăng lên P.N.T.V. đến nay, thấy có một vài vị độc giả nói với tôi rằng : “Anh binh vực đàn bà quá, ròng những kể công và nói tốt cho họ, hèn chi bữa trước ông Thế Phụng nói trong báo Công luận rằng anh có chứng “nịnh đầm”, là phải”.
Rõ oan cho tôi !
Không phải vì mấy lời trách móc đó mà hôm nay tôi phải tiếp thêm chương nầy. Song, theo lối khảo cứu, hễ có làm sao, mình phải nói làm vậy. Cái tốt của đàn bà, mình phải kể ra ; mà cái xấu của họ mình cũng không nên lấp đi. Hôm nay sẽ nói đến các cái biến thái của phụ nữ ta ra thế nào.
Sao gọi là “biến thái” ?
“Thái” là cái thái độ, cái nết ; mà “biến” là đối với thường. Cứ theo như tục ngữ phong dao mà xét, thì cái tốt của đàn bà là phần nhiều, có thể cho là thường, còn cái xấu của họ là phần ít, có thể cho là biến, nên gọi là biến thái.
Trước hết kể những cái hư của người con gái, người ta liệt ra bảy điều :
Chê la chê lẩy
Con gái bẩy nghề :
Ngồi lê là một
Dựa cột là hai
Dỡn trai là ba
Ăn quà là bốn
Trốn việc là năm
Hay nằm là sáu
Cắn cháu là bảy
Trong bảy điều ấy, phạm một vài điều còn khá ; chớ phạm hết thảy, tất chí phải ế chồng. Nhứt là phạm điều thứ ba dỡn trai, người ta cho là con gái mất nết.
Nhưng những người đã mất nết, còn có sợ chi ế chồng. Họ dám nói rằng :
Chơi cho thủng trống long bồng
Rồi ra ta sẽ lấy chồng lập nghiêm
Chơi cho thủng trống long chiêng
Rồi ra ta sẽ lập nghiêm lấy chồng
Đã chơi cho mắc tang án vào mình rồi lại kiếm lời để chữa thẹn :
Không chồng mà chửa mới ngoan
Có chồng mà chửa thế gian sự thường
Họ đã quen tánh chơi bời rồi thì đến có chồng họ cũng vẫn không chừa. Chính họ đã thú nhận với chồng mình rằng :
- Anh đánh thì tôi chịu đòn
Tánh tôi hoa nguyệt mười con chẳng chừa
- Đánh tôi thì tôi chịu đau
Tánh tôi hoa nguyệt chẳng chừa được đâu
Tánh quen chừa chẳng được đâu
Lệ làng, làng bắt bấy mấy trâu mặc làng
Họ lại cho có chồng là lợi cho sự chơi :
Có chồng càng dễ chơi ngang
Đẻ ra con thiếp, con chàng, con ai ?
Cái tâm lý của những người ấy hiện ra trong mấy lời nầy :
Hai tay cầm hai quả hồng
Quả chát phần chồng, quả ngọt phần trai
Nằm đêm vuốt bụng thở dài
Thương chồng thì ít, thương trai thì nhiều
Những người ấy họ không còn kể chữ “Trinh” là chi nữa. Họ khai thiệt rằng :
Chữ “Trinh” đáng giá ngàn vàng
Từ anh chồng cũ đến chàng là năm
Còn như yêu vụng dấu thầm
Họp chợ trên bụng đến trăm con người
Họ không lấy sự chính chuyên làm quý :
- Lẳng lơ chết cũng ra ma
Chính chuyên chết cũng chôn ra đầy đồng
- Chính chuyên lấy được chín chồng
Vo viên bỏ lọ, gánh gồng đi chơi
Không ngờ, quang đứt, lọ rơi
Bò ra lổm ngổm chín nơi chín chồng
- Chính chuyên lấy được chín chồng
Ba chồng thành Lạng, ba chồng thành Cao
Ba chồng để ngọn sông Đào
Trở về đóng cửa làm cao chưa chồng
Hoặc giả cũng có người vì sanh kế khốn nạn quá mà phải đi chơi bậy, tức như người ta thường nói : bán trôn nuôi miệng. Sự nầy có quan hệ với nền kinh tế trong xã hội, sẽ bàn ở nơi khác ; đây chỉ dẫn lấy một câu :
Có chồng thì mặc có chồng
Còn đi chơi trộm kiếm đồng mua rau
Lại một câu nữa :
Có ăn thiếp ở cùng chàng
Không ăn thiếp tếch, cơ hàn thiếp lui
Coi đó thì vì sự sanh kế cùng khuẫn, không những làm cho người đàn bà phải đưa mình vào đường sanh nhai không chánh đáng, mà lại có khi phải bỏ chồng nữa.
Vì nghèo, không có ăn mà lộn chồng, cái đó tuy đáng trách mà còn có chỗ dung thứ được ; đến như kẻ vì ham nhan sắc mà lộn chồng thì mới thật đáng trách. Có người đã vì bấy nhiêu đó mà không kể chi thân danh :
Sáng ngày ra đứng cửa đông,
Xem một quẻ bói lộn chồng được chăng ?
Ông thầy gieo quẻ, nói rằng :
Lộn thì lộn được, nhưng năng phải đòn.
Mồ cha đứa có sợ đòn,
Miễn rằng lấy được chồng giòn thì thôi !
Cũng vì sự sanh kế áp bách nói trên kia mà trong đám phụ nữ ta lại có một cái biến thái khác nữa, ấy là sự lấy Khách. Lấy Tây cũng vậy mà lấy Khách cũng vậy, tôi không phải cho sự hôn nhân đó là bất chánh. Song hôn nhân mà bất bình đẳng thì thật là không nên. Đàn bà An Nam mình lấy Khách chẳng thiếu chi, thế mà thấy có một vài người mình lấy đàn bà Tàu thì người Khách ở đây họ coi là một việc sỉ nhục lắm. Đã đành rằng vì mình yếu hèn hơn nên họ khinh. Song đã vậy thì dân tộc mình cũng nên giữ cái vẻ tự trọng một chút mà đừng thông hôn với họ mới phải. Nhưng giữ không được là trước hết bởi những con gái nhà nghèo. Đến nỗi có người đã trằn trọc nói với mẹ rằng :
Mẹ ơi ! Con chẳng lấy dân,
Dầu xa dầu gần, lấy khách mà thôi.
Lấy Khách được mặc áo đôi,
Được đi giày đỏ, được ngồi chiếu cao.
Những người lấy Khách cũng có người làm ăn nên nổi mà sung sướng thiệt, nhưng chẳng thiếu chi người vì cớ “chú nó” về Tàu rồi mà hóa ra điêu đứng bơ vơ. Có câu nầy tả người vợ Khách trông chồng thật là hay :
Chúa Tàu mở hội bên Ngô,
Cớ sao báo phướn sang chùa An Nam ?
Thà rằng chẳng biết cho cam,
Biết ra, kẻ Bắc người Nam thêm sầu.
Cột buồm mà nghĩ cây cau,
Thấy thuyền thúng nát, nghĩ tàu thằng Ngô.
Còn tàu, tàu bán vải xô,
Tàu về mới biết xi xô bạc tình !
Lại câu nầy nữa, tả cái cảnh người vợ Khách đốt vàng cho chồng :
Ba mươi tết, tết lại ba mươi,
Vợ thằng Ngô đốt vàng cho chú Khách
Một tay cầm cái dù rách, một tay xách cái chăn bông
Em đứng bờ sông em trông sang bên nước người :
Hỡi chú Chệt ơi là chú Chệt ơi !
Một tay em cầm quan tiền,
Một tay em xách thằng bồ nhìn em ném xuống sông.
Quan tiền nặng thì quan tiền chìm,
Bồ nhìn nhẹ thì bồ nhìn nổi.
Ai ơi của nặng hơn người !
Ta thử ngẫm bốn chữ “của nặng hơn người” thì đủ biết cái tâm lý của những người lấy Khách chỉ là vì ham của đó thôi. Cho nên lại có câu rằng :
Tham vàng lấy phải thằng Ngô,
Đêm nằm hú hí như vồ đập bông.
Vì vậy trong xã hội ta cũng phản đối sự lấy Khách. Nhiều lời ca dao công kích và nhạo báng :
- Thà rằng ăn cá diếc, trôi,
Chẳng thà lấy Khách, mọc đuôi trên đầu.
- Trèo lên trái núi mà coi,
Kìa kìa Ngô Khách mọc đuôi đằng đầu.
Em ơi, anh dạy tiếng Tàu :
Tiếu nạ má nị, đâm đầu lấy Ngô !
Lại có hạng đàn bà chỉ biết đồng tiền mà thôi, không kể tình nghĩa ra chi, lấy ai cũng được :
Trăm năm trăm tuổi trăm chồng,
Hễ ai có bạc thì bồng lên trên.
Bởi vậy cho nên mới có kẻ :
Chồng chết chưa héo ngọn cỏ, đã bỏ đi lấy chồng.
Đời xưa bên Tàu có người đã bảy con rồi mà chồng chết còn đi lấy chồng, thiên hạ lấy làm phi nghị lắm. Ở ta đây hạng người ấy cũng chẳng phải ít. Họ nói với bầy con họ rằng :
Hỡi thằng cu bé ! Hỡi thằng cu lớn ! Cu ti, cu tị, cu tì ơi !
Con dậy con ăn, con ở với ông,
Để mẹ đi lấy chồng kiếm lấy em con.
Hỡi thằng cu lớn ! Hỡi thằng cu bé ! Cu ti, cu tị, cu tí, cu tì ơi !
Con dậy con ăn, con ở với bà,
Để mẹ đi kiếm một và con thêm,
Cha con chết đi trong bụng mẹ nó hãy còn thèm,
Mẹ xem quẻ bói, vẫn còn đàn em trong bụng nầy.
Con ra gọi chú vào đây,
Để mẹ giao trả cái cơ nghiệp nầy mẹ bước đi.
Ấy là kể những điều đại khái, còn những cái nết xấu nho nhỏ, như là :
Đi chợ ăn quà, về nhà đánh con.
lại với :
Những người béo trục béo tròn,
Ăn vụng như chớp, đánh con cả ngày.
thì ta không hơi đâu mà kể cho hết.
Còn cái tánh ghen :
Ớt nào là ớt chẳng cay,
Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.
Vôi nào là vôi chẳng nồng,
Gái nào là gái có chồng chẳng ghen.
Thì lại là cái tánh thông thường của phụ nữ, ta nghĩ không nên trách họ làm chi.
VI. Sự đẹp và cách trang sức của phụ nữ
Trong đời đàn bà, cái đẹp không phải là không quan trọng. Cái đẹp tuy bởi tự nhiên, nhưng mà cũng có nhờ trang sức.Vậy chương nầy xét về sự đẹp và cách trang sức của phụ nữ ra thế nào.
Ngày nay cái quan niệm của người ta đối với sự đẹp của đàn bà tuy hoặc có thay đổi ít nhiều, nhưng về khuôn mặt, nước da là phần chính, thì vẫn chuộng theo cái quan niệm ngày xưa. Còn như về cách trang sức thì ngày nay có lẽ phiền phức hơn ngày xưa nhiều lắm. Các thứ phấn cùng các thứ nước hoa mà các bà các cô dùng ngày nay, ngày xưa làm gì đã có. Đây nói trang sức là cách trang sức của phụ nữ ba mươi năm về trước.
Đọc chương nầy sẽ thấy có hai điều nên chú ý : một là cái quan niệm về sự đẹp của người mình rất đơn giản ; hai là cách trang sức của phụ nữ ngày xưa còn chất phác, không có phiền hoa như bây giờ.
Người đàn bà thế nào thì gọi là đẹp ? Cái đó tuy tùy theo sự vừa mắt của mỗi người, song cũng không thoát ra khỏi những điều kiện của một cái quan niệm chung đã buộc. Vậy cứ theo phong dao thì những điều kiện ấy có như sau nầy :
1. Da trắng tóc dài :
Tiếc thay con người da trắng tóc dài,
Bác mẹ gả bán cho người đần ngu !
Bởi chuộng da trắng nên chê người da đen :
Cô kia đen thũi đen thùi,
Phấn đánh vô hồi, đen cũng hoàn đen.
Bởi chuộng tóc dài nên chê tóc quăn :
Tóc quăn chải lược đồi mồi,
Chải đứng chải ngồi, quăn vẫn hoàn quăn.
Tóc quăn không những là không đẹp mà lại là người xấu tánh nữa :
Tôi đà biết vợ anh rồi,
Quăn quăn tóc trán là người hay ghen.
2. Mặt chữ điền :
Má miếng bầu coi lâu muốn chưởi,
Mặt chữ điền tiền rưỡi muốn mua.
Mặt mo thì ai cũng phải ghét :
Những người phinh phính mặt mo,
Chân đi chữ bát, thì cho chẳng màng.
3. Mắt sắc và lông mày cũng sắc :
Cổ tay em trắng như ngà,
Con mắt em liếc như là dao cau ;
Miệng cười như thể hoa ngâu,
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.
Con mắt sắc như dao cau đã đành ; người ta cũng hình trạng cái lông mày đẹp nó sắc như dao có thể giết được cả :
Nhà anh chín đụn, mười trâu,
Lại thêm ao cá bắc cầu rửa chân.
Cầu nầy là cầu ái ân,
Một trăm con gái rửa chân cầu nầy.
Có rửa thì rửa chân tay,
Chớ rửa lông mày chết cá ao anh !
4. Má núng đồng tiền :
Vào vườn trảy trái cau non,
Anh thấy em giòn, anh kết nhân duyên.
Hai má có hai đồng tiền,
Càng nom càng đẹp càng nhìn càng ưa.
5. Vú nhỏ :
Trên đầu em đội khăn vuông,
Trông xuống dưới ngực, cau buồng còn non.
Cổ tay em vừa trắng vừa tròn,
Mặt mũi vuông vắn, chồng con thế nào ?
Cau buồng còn non, là nói cái vú nhỏ. Người mình lấy vú nhỏ làm đẹp. Ở Trung, Bắc kỳ vẫn có tục nịt vú cho nhỏ lại. Tục nầy chừng như Nam kỳ không có. Bên Tàu cũng có, người ta cho rằng hại vệ sanh lắm, nên mới rồi có cuộc cổ động cho đàn bà không nịt vú nữa, kêu rằng : “nữ tử hung bộ chi giải phóng”, nghĩa là sự giải phóng cho cái ngực của đàn bà. Họ vận động cuộc giải phóng nầy cũng có công lắm, như là sự vận động cấm bó chân ngày trước.
6. Cổ tay trắng mà tròn.
(Đã thấy trong câu trên)
7. Răng đen hoặc răng vàng.
Đàn bà Nam kỳ từ lâu không nhuộm răng ; còn Trung, Bắc kỳ từ nay mới bắt đầu có người không nhuộm răng, song ngày xưa thì hết thảy đều nhuộm cả, hễ răng trắng thì cho là xấu cho nên có câu phong dao tỏ sự bất bình của người đàn bà mà rằng :
Những người má đỏ hồng hồng,
Răng đen rưng rức thì chồng chẳng yêu !
Những người mặt lọ như niêu,
Hàm răng trắng ởn, chồng yêu cởn cờ !
Ở Bắc kỳ ngày xưa đàn bà nhuộm răng có hai cách, nhuộm vàng rồi nhuộm đen. Nhuộm vàng thì nhuộm bằng cánh kiến rồi nhuộm đen sau. Có người không nhuộm đen nữa chỉ để màu vàng, nên gọi là răng vàng. Trong phong dao có nhiều câu tỏ ra răng vàng là đẹp :
- Thấy em đẹp nói đẹp cười,
Đẹp quần đẹp áo, lại tươi răng vàng.
Chân em đi giép quai ngang,
Mặt vuông chữ điền, liền vành cá chôi (?)
Ta thương mình lắm mình ôi,
Cá chết vì mồi, khốn nạn đôi ta.
- Tuổi cô mình còn chừng độ đôi ba,
Em bận cái quần trứng sáo, cái áo the hoa phất phơ nhuộm màu
Em đã xinh, em lại có nhiễu đội đầu,
Em đội cái nón xứ Nghệ ra màu điểm trang.
Em đã xinh em lại nhuộm cái bộ răng vàng,
Mảnh gương tư mã, thiếp với chàng soi chung.
- Anh là con trai út ở nhà,
Anh đi kén vợ đường xa quê người.
Thấy em đẹp nói đẹp cười,
Đẹp người đẹp nết lại tươi răng vàng.
Vậy nên anh gởi thơ sang,
Tình cờ anh quyết lấy nàng mà thôi.
Rồi đến răng đen :
- Tấm áo nâu sồng xếp nếp em để trong nhà,
Ba vuông khăn tím phất phơ đội đầu.
Tấm yếm đào sao em khéo giữ màu,
Răng đen rưng rức, mái tóc dầu em hãy còn xanh.
- Mình về có nhớ ta chăng ?
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.
Năm quan mua lấy miệng cười,
Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen.
Cái răng đen ai khéo nhuộm cho mình,
Để duyên mình đẹp, để tình anh yêu ?
8. Lưng ong :
Những người lưng ong, chẳng những là đẹp, mà theo tướng, lại là người đàn bà có hiền đức nữa, người ta nói rằng :
Những người thắt đáy lưng ong,
Vừa khéo chìu chồng, vừa khéo nuôi con.
Ấy là kể những điều kiện mà người mình buộc đàn bà đẹp phải có là như thế. Coi đó thì thấy quan trường chấm cuộc thi đẹp của ta không nghiêm nhặt mấy mà lại sơ sót là khác nữa. Cái lỗ mũi ở giữa mặt người đàn bà, quan trọng là dường nào, thế nhưng ta không chú ý đến ; cặp tai cũng vậy ; cho nên không có câu nào nói đến mũi và tai.
Về cách trang sức thì chừng như đàn bà An Nam ta ngày xưa chú ý thứ nhứt là cái yếm. Ở Nam kỳ ngày nay, đi khắp cả xứ, có lẽ kiếm không ra lấy một cái yếm ; nhưng cái yếm ngày xưa là vật trau dồi nhứt trong mọi đồ y phục của đàn bà. Có nhiều câu phong dao nói về cái yếm hơn hết :
- Yếm thắm mà nhuộm hoa nương,
Cái răng hột đậu làm tương anh đồ ;
Yếm thắm mà vã nước hồ,
Vã đi vã lại anh đồ yêu đương.
- Hỡi cô yếm trắng lòa lòa,
Yếm nhiễu yếm vóc hay là trúc bâu ?
Hay là lụa bạch bên Tàu ?
Người cắt cũng khéo người khâu cũng tài.
Một đàng anh thêu nên nhạn,
Hai đàng anh mạng nên hoa,
Yếm em nay để trong nhà,
Khen thay thầy mẹ mở khóa đưa ra cho nàng.
Con gái có chồng, mẹ cũng sắm cái yếm :
Lạy cha ba lạy một quỳ,
Lạy mẹ bốn lạy, con đi lấy chồng.
Mẹ sắm cho con cái yếm nhứt phẩm hồng.
Trước là đắc nghĩa cùng chồng,
Sau là họ mạc cũng không chê cười.
Cái yếm đến nỗi làm cho thầy tu phải mê :
Ba cô gánh gạo lên chùa,
Một cô yếm đỏ bỏ bùa cho sư ;
Sư về sư ốm tương tư,
ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu.
Ngoài cái yếm ra rồi đến cái áo, cái quần, cái khăn, cái nón, cái gương, cái lược, ấy là kể hết đồ trang sức của phụ nữ. Những hoa tai, vòng vàng, kiềng, xuyến, người ta ít nói đến ; đến như ngọc bích, hột xoàn [ 15 ] thì thôi không có. Sự ăn mặc của phụ nữ ngày xưa có thể gồm trong mấy câu nầy :
Con gái đương thời đã nên con gái.
Cái áo em mặc chải chải hoa hồng.
Trong yếm đại hồng, chuỗi xe con toán.
Cái quai dâu chạm em đội trên đầu.
Cái nhôi dâu gấp quấn vào đỏ chói.
Lỗ miệng em nói có hai đồng tiền,
Như cánh hoa sen giữa ngày mới nở
Khi em đi chợ có kẻ gánh gồng
Anh đứng anh trông má hồng đỏ thắm,
Anh đứng anh ngắm đẹp đẽ làm sao !...
Hãy nghe lời một người đàn ông sắm đồ phục sức cho đàn bà mình :
Lấy anh, anh sắm sửa cho,
Sắm ăn, sắm mặc, sắm cho chơi bời.
Khuyên em có bấy nhiêu lời,
Thủy chung như nhứt, là người, phải nghe.
Mùa đông lụa lụa the the,
Mùa hè bán bạc hoa xòe sắm khăn ;
Sắm gối thì phải sắm chăn,
Sắm gương sắm lược, sắm khăn đựng trầu ;
Sắm cho em đôi lược chải đầu,
Cái ống đựng sáp vuốt đầu cho xinh.
Người ta vẫn chịu rằng đàn bà đep là nhờ cái tư sắc tự nhiên rồi ăn mặc vào nó mới đội lên, còn người vốn xấu mà trang sức vào thì cũng chẳng vớt lại được chút nào hết. Vậy có câu rằng :
Cô kia má phấn môi son
Nắng dầu mưa dãi càng giòn càng ưa
Cô kia mặt trẽn mày trơ,
Vàng đeo bạc quấn cũng dơ dáng đời.
Tuy vậy, theo cái lòng chuộng đức hạnh của xã hội ta thì đàn bà đẹp không bằng đàn bà có nết, người ta nói rằng :
Cái nết đánh chết cái đẹp
Lại rằng :
Tốt gỗ hơn tốt nước sơn,
Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người.
Lại có hạng đàn bà không đẹp mà cũng không có nết song được chồng yêu thì cũng ở đời với chồng, và những cái xấu lại trở nên cái tốt. Cái đó chừng như người ngoài không có thể hiểu được, duy có người làm chồng hiểu lấy mà thôi. Vậy như :
Lỗ mũi em thì tám gánh lông,
Chồng yêu chồng bảo tơ hồng trời cho.
Đêm nằm thì ngáy kho kho,
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà.
Đi chợ thì hay ăn quà,
Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm.
Trên đầu những rác cùng rơm,
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm giắt đầu.
VII. Nghề nghiệp của phụ nữ
Chương thứ III trên kia nói về công khó của người đàn bà đối với gia đình. Ở trỏng cũng đã có phô bày ra những công việc làm ăn của họ nhưng mà chưa hết, phải có một chương nầy kể về nghề nghiệp của phụ nữ.
Từ mấy năm nay cho đến hiện bây giờ, có nhiều người chú ý đến vấn đề chức nghiệp của phụ nữ, nghĩa là bàn tính cách dạy dỗ làm sao cho đàn bà có chức nghiệp, có công việc làm để mà tự lập lấy thân. Nếu vậy thì từ xưa đến nay, đàn bà ta không có chức nghiệp hay sao ? Chẳng vậy thì sao ngày nay mới bắt đầu bày ra dạy dỗ ?
Không, đàn bà ta từ xưa, mà cho đến nay cũng vậy, vẫn có chức nghiệp lắm chớ. Song ngày nay lại còn bày ra dạy dỗ là vì có hai cớ.
Một là bởi cái hiện tượng ở thành phố. Đàn bà ở thành phố, nhứt là Sài Gòn đây, phần nhiều là ăn không ngồi rồi, không có công việc. Những nhà sang trọng, ngồi đó mà ăn chơi, chẳng nói làm chi, chí như nhà bực trung, chồng đi làm một tháng năm bảy chục, một vài trăm, vợ ở nhà chẳng làm gì hết, đến hột cơm cũng không muốn nấu, mà thường ngày dắt nhau đi ăn cơm tiệm. Điều đó [ 16 ] do cái biến thái của phụ nữ mà ra, lại cũng bởi cái hoàn cảnh của xã hội nữa. Người ta thấy vậy, cho đàn bà là vô nghiệp, nên mới muốn dạy dỗ cho có chức nghiệp.
Hai là bởi sự áp bức của tư bổn và cơ khí. Những nghề nghiệp đàn bà ở nhà quê quen làm thuở nay thì lâu nay đã bị tư bổn và cơ khí cướp đi hết. Nghề kéo sợi dệt vải, thì bị những nhà máy sợi máy dệt cướp đi mất ; nghề may vá thì bị những máy may choán đi ; nghề đặt rượu nuôi heo thì bị mấy công ty rượu chặn rồi. Cho nên đàn bà nhà quê, là hạng chăm làm ăn hơn hết, mà ngày nay cũng hóa ra thất nghiệp. Vì đó người ta muốn dạy dỗ cho họ về các chức nghiệp khác.
Ở đây không cốt bàn về sự dạy dỗ ấy, chỉ muốn nói cho rõ ra rằng đàn bà ta không phải là không có nghề làm ăn đâu, mà xưa nay trong trường sanh hoạt của xã hội ta, họ vẫn gánh một phần việc lớn lao chẳng kém gì đàn ông vậy.
Dân tộc ta là một dân tộc chuyên nghề nông. Trong nghề ấy, chẳng những đàn ông mạnh chưn khỏe tay mới làm được mà thôi, đàn bà cũng làm. Mà đàn bà chẳng làm được việc nặng, cũng làm được việc nhẹ.
Việc nhẹ hơn hết, là đem cơm ra đồng :
Trời mưa cho lúa chín vàng,
Cho anh đi gặt cho nàng đem cơm.
Đem thì bát sứ mâm son,
Chớ đem mâm gỗ anh hờn không ăn.
Rồi đến làm cỏ và cắt cỏ cho trâu :
- Bao giờ cho đến tháng hai,
Con gái làm cỏ, con trai be bờ.
- Cô kia cắt cỏ một mình,
Cho anh cắt với chung tình làm đôi.
Cô còn cắt nữa hay thôi ?
Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng.
Rồi đến đi cấy :
- Em thì đi cấy lấy công,
Để anh nhổ mạ, tiền chung một lời,
Đem về cho bác mẹ coi,
Làm con phải thế, em ơi !
- Em thì đi cấy ruộng bông,
Anh đi cắt lúa, để chung một nhà,
Đem về phụng dưỡng mẹ cha,
Muôn đời tiếng hiếu, người ta còn truyền.
Mà sự đi cấy là sự vất vả lắm, không phải vừa. Có khi người ta làm việc ấy trong ban đêm, mệt nhọc là dường nào. Hãy nghe những con cấy nói với nhau :
Nhác trông sao Đẩu về đông,
Chị em ra sức cho xong ruộng nầy.
Lấm lem tay cắm chưn dày,
Hay trồng cây ngọc, có ngày hữu thu !
Đàn bà con gái cũng đánh trâu đi cày được như người trai lực điền. Bởi vậy có cậu con trai đã hát ve cô nọ mà rằng :
Cô ấy mà lấy anh nầy,
Chẳng phải đi cấy đi cày nữa đâu.
Ngồi trong cửa sổ trên lầu,
Có hai con bé đứng hầu hai bên.
Đại để việc làm nông của ta là việc chung trong một gia đình, cả vợ lẫn chồng. Có người đã bỏ công danh mà theo nghề nông cũng vì cái thú vui ấy :
Công danh theo đuổi mà chi,
Sao bằng chăm chỉ giữ nghề canh nông ?
Sớm khuya có vợ có chồng,
Cày sâu bừa kỹ mà mong được mùa !
Ngoài nghề làm ruộng thì có nghề canh cửi, dệt vải, dệt lụa. Tội nghiệp có cô con gái đã van với mẹ mình rằng :
Mẹ ơi đừng đánh con đau,
Để con quay tơ đánh ống làm giàu mẹ coi !
Có chồng rồi, giúp chồng trong việc sanh nhai cũng lấy nghề canh cửi :
- Uốn tay cho mềm, dệt cửi cho ngoan ;
Lấy tiền ta đóng việc quan cho chồng.
- Canh một dọn cửa dọn nhà,
Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm,
Canh tư bước sang canh năm,
Trình anh dậy học chớ nằm làm chi !
Đàn bà ngày xưa họ hay tự mình lo lấy việc làm ăn ; hầu cho chồng có thì giờ mà lo việc học. Vậy nghề làm ruộng và nghề dệt là gốc của họ :
Xin chàng kinh sử học hành,
Để em cày cấy, cửi canh kịp người.
Mai sau xiêm áo thảnh thơi,
Ơn trời lộc nước đời đời hiển vinh.
Hái dâu nuôi tằm, cũng lại là một cái nghề của đàn bà nữa :
Trời mưa lác đác ruộng dâu,
Cái nón đội đầu, cái thúng cắp tay ;
Bước chưn xuống hái dâu nầy,
Nuôi tằm cho lớn, mong ngày ươm tơ.
Còn nói chi nghề may, là riêng về nữ công đã đành rồi, bởi vì :
Đường kim mối chỉ là phương đàn bà
và người ta cũng thường nói rằng :
Gái thì giữ việc trong nhà,
Khi vào canh cửi, khi ra thêu thùa.
Việc buôn bán ở nước ta ngày xưa ở trong tay đàn bà hết, gần như đàn ông không biết tới. Từ việc buôn rong bán gánh, cho đến buôn trăm bán ngàn, đều là việc của đàn bà. Có anh đàn ông đã thừa cái cơ hội ấy mà cất thân ra làm kẻ thâu thuế để có thường gặp người yêu của mình :
Em rằng em muốn đi buôn,
Anh về kiếm chốn nha môn ngồi tuần.
Dầu em buôn bán xa gần,
Làm sao tránh khỏi cửa tuần anh đây ?
Nghe mấy câu dưới nầy đủ biết đàn bà ngày xưa giữ việc bán cà bán rau ngoài chợ đành rồi, mà có khi đi buôn bè buôn gỗ cũng được, gặp chi làm nấy :
- Anh về hái đậu hái cà,
Để em đi chợ, kẻ mà lỡ phiên.
Chợ lỡ phiên tốn công thiệt của,
Miệng tiếng người cười rủa sao nên ?
Lấy chồng phải gánh giang sơn,
Chợ phiên còn lỡ, giang sơn còn gì ?
- Kỳ nầy em sắp buôn bè,
Thấy anh rách áo trở về buôn bông.
Buôn bán phải tiện tặn, không thì lỗ vốn mà chết. Hãy nghe chị hàng [ 17 ] than rằng :
Bán hàng ăn những chũm cau,
Chồng ơi có thấu cơ mầu này chăng !
Tục ta quen rồi, hễ đàn bà có cửa nhà thì nuôi heo, hầu cho khỏi bỏ phí nước cơm hằng bữa và những rau chuối trong vườn. Đàn bà không nuôi heo, ấy là đàn bà hư, làm biếng.
- Đàn bà thì phải nuôi heo,
Thời vận đương nghèo nuôi chẳng đặng trâu.
- Ai về chợ Vạn thì về,
Chợ Vạn có nghề đặt rượu nuôi heo.
Lúc trước, công ty người Pháp chưa chiếm lấy độc quyền nấu rượu, dân ta được tự do nấu lấy mà nộp thuế cho vua, thì đàn bà vừa nấu rượu, vừa lấy hèm (bã rượu) nuôi heo, cũng là một nghề có lợi to, cho nên mới nói như vậy. Ngày nay dân không có phép nấu rượu, không còn ai nuôi heo bằng hèm nữa.
Nói tóm lại, đàn bà con gái ta thật không phải là ăn dưng ở nể [ 18 ] chi đâu, người nào cũng phải có công việc làm. Hãy nghe mấy lời dạy con gái :
Nào nghề bánh trái những là...
Đến khi kỵ lạp trong nhà càng hay.
Bán buôn canh cửi kia thay,
Sanh nhai phải giữ trong tay một nghề.
Bây giờ chẳng liệu thì quê,
Mai sau cùng túng khôn bề làm ăn.
Lại nghe lời người đàn bà kể công việc mình làm trong một năm dưới nầy, thì biết được công phu của họ chẳng những xứng đáng với sự của mình mà lại giúp đỡ cho sự sống của cả xã hội nữa :
Một năm chia mười hai kỳ,
Thiếp ngồi thiếp tính khó gì chẳng ra ?
Tháng giêng ăn tết ở nhà,
Tháng hai rỗi rãi quay ra nuôi tằm.
Tháng ba đi bán vải thâm,
Tháng tư đi gặt, tháng năm trở về.
Tháng sáu em đi buôn bè,
Tháng bảy tháng tám trở về đong ngô.
Chín, mười cắt rạ đồng mùa,
Một, chạp vớ được anh đồ dài lưng !
Anh ăn rồi anh lại nằm
Làm cho thiếp phải quanh năm lo phiền.
Nhẫn lên là kể những nghề nghiệp chính. Còn những người nào không chuyên làm một nghề gì, mà làm nội việc vặt trong nhà cũng đã đủ mệt rồi. Nào là xay lúa, giã gạo, nấu ăn, rửa chén, rau heo, cháo chó, cũng đủ làm cho người đàn bà phải quay như chong chóng. Vậy mà đi đánh tứ sắc sao được ? đi “câu cá, câu tôm” sao được ?
Giã ơn cái cối cái chày,
Nửa đêm gà gáy có mày có tao
Giã ơn cái cọc bờ ao
Nửa đêm gà gáy có tao có mày !