Theo tục ngữ phong dao, xét về sự sanh hoạt của phụ nữ nước ta
Part 2
Khác gì hoa nở trên non một mình.
- Có võng mà không có đòn
Có chồng mà chẳng có con mà bồng !
Do cái lòng mong mỏi đó, thành ra đến lúc có con, thôi thì vui lòng mà chịu khổ, chẳng còn quản đến cái thân mình là vất vả nữa.
Thật vậy, người đàn bà chịu trăm bề lao khổ, đầu tắt mặt tối, chỉ vì thương chồng thương con mà thôi. Song theo phong dao thì cái sự vì chồng hơn là cái sự vì con :
- Vì chàng thiếp phải bắt cua
Những như thân thiếp, thiếp mua ba đồng.
- Vì chàng nên phải mua mâm
Những như thân thiếp, bốc ngầm cũng xong.
- Vì chàng thiếp phải long đong
Những như thân thiếp cũng xong một bề.
Lúc có chồng rồi, mới thấy cái khổ là đáo để, bấy giờ nghĩ lại khi còn ở với cha mẹ, tuy là khổ mà còn sướng hơn :
Từ ngày tôi ở với cha
Cái nón chín rưỡi, thao ba mươi đồng
Đến khi tôi về cùng chồng
Cái nón sáu đồng mà buộc quai mo !
Cái đẹp của người đàn bà là cái họ hằng ngày chăm chút, cố mà giữ lấy, song vì xông pha lặn lội quá thì cũng không thể nào giữ được, hóa phải than rằng :
- Một ngày ba bận trèo non
Lấy gì mà đẹp mà giòn hỡi anh !
- Một ngày ba bận trèo đèo
Vì ai vú xếch lưng eo hỡi chàng !
Trên kia đã nói sự chịu khổ đó là vì yêu chồng. Quả thật như vậy. Chính người đàn bà cũng đã khai thật ra một câu, mà tôi lấy để làm câu kết cho một đoạn nầy từ đây trở lên :
Thương chồng nên phải gắng công
Nào ai xương sắt da đồng chi đây.
Lời tục ngữ có nói : “ Đem đánh khen hay chịu đòn ”. Người ta có phải đá sỏi đâu mà dùi mài mấy cũng chịu được ? Có điều chỉ vì một chút thương chồng, thành ra đòn đau mấy cũng ôm bụng chịu. Người đàn ông mở miệng khen một cái, cũng đã là cay độc lắm rồi, huống chi không khen mà lại còn hất hủi nữa thì rõ là vô nhân đạo quá.
Khúc trên đó là nói chung về cái cảnh cam go của người đàn bà, hễ ai đã có chồng có con thì phải đương lấy cái nghĩa vụ nặng nề trong gia đình như vậy. Lại còn có những người gặp phải cái cảnh ngộ riêng, mà họ đảm đương việc nhà lấy một tay, tiếng Bắc gọi là “đàn bà đảm”, những hạng đàn bà ấy ở xã hội ta không phải ít. Lẫy tiếng hơn hết, là hạng đàn bà nuôi chồng học và giữ nhà cho chồng đi lính.
Bây giờ cái thứ vợ nuôi chồng đi học tựa hồ như không có nữa, song thủa xưa thường có, mà nhiều nhứt là ở vùng Bắc kỳ. Vậy nên người ta đã truyền tụng những câu phong dao này :
- Em thời canh cửi trong nhà,
Nuôi anh đi học, đăng khoa bảng vàng,
Trước là vinh hiển tông đường,
Bõ công đèn sách, lưu phương đời đời.
- Trái cau nho nhỏ,
Cái vỏ vân vân,
Nay anh học gần,
Mai anh học xa,
Tiền gạo thì của mẹ cha,
Cái nghiên cái bút thật là của em.
- Đôi bên bác mẹ cùng già,
Lấy anh hay chữ để mà cậy trông.
Mùa hè cho chí mùa đông,
Mùa nào thức ấy cho chồng ra đi
Hết gạo thiếp lại gánh đi,
Hỏi thăm chàng học ở thì nơi nao ?
Hỏi thăm đến ngõ thì vào,
Tay đặt gánh xuống miệng chào : Thưa anh.
Những người lo nghề canh cửi, sắm tiền sắm gạo gánh đi cho chồng, cái công tuy đáng khen mà cái cảnh không thảm mấy. Đến hạng bán rau để giúp chồng lo đèn sách thì thật đáng kính phục và đáng xót thương là dường nào !
Em là con gái Phụng Thiên,
Bán rau mua bút mua nghiên cho chồng.
Nữa mai chồng chiếm bảng rồng,
Bõ công tắm tưới vun trồng cho rau !
Xưa kia đi lính không phải như đi lính tập bây giờ. Lính đời xưa là lính đánh giặc, đi lính là đi chết, nên người nào gặp phải chồng đi lính, là gặp phải cái cảnh sanh ly, mà tử biệt cũng chưa biết chừng. Bởi vậy, ít nữa phải có những lời than thở để tỏ nỗi sợ hãi và nhớ thương :
- Con chuột mắc bẫy
Bởi gốc tre già,
Đẽo ra đòn xóc [ 9 ]
Chồng đi lính
Vợ ở nhà khóc hi hi :
Trời ôi sanh giặc làm chi,
Cho chồng tôi phải ra đi chiến trường !
- Chàng ơi đi trẩy kẻo trưa,
Cửa nhà cậy mẹ, nắng mưa nhờ trời.
Em đi cầu khấn Phật trời,
Biết than cùng trời, biết thở cùng ai !
Sự than thở đó là cái tình thương của đàn bà, mà dầu cho đàn ông cũng vậy, không nên trách. Song le còn có hạng vợ lính khuyên giục cho chồng đi, ngửa tay hứng lấy cả trách nhiệm trong gia đình, từ việc thờ tổ tiên, nuôi con cái, cho đến việc sào đất tấc nương, quan tiền thúng gạo, thì mới là đáng quý. Không những thế, còn có hạng khuyên chồng làm cho tròn bổn phận lính, hay là đòi đi lính thế cho chồng, thì lại càng đáng quý là chừng nào ! Đọc những câu nầy rồi tưởng đến cái tinh thần thượng võ của giống Việt Nam ta ngày xưa đã ngấm ngầm vào đến óc đàn bà :
- Khen ai khéo tiện ngù cờ,
Khéo xây bàn án, khéo thờ tổ tiên.
Tổ tiên để lại em thờ,
Anh ra ngoài ải, cầm cờ theo vua.
- Chàng ơi trẩy sớm hay trưa ?
Để em gánh gạo tiễn đưa hành trình.
Thương nàng đã đến tháng sanh,
Ăn ở một mình, nương cậy vào ai ?
Rồi ra sanh gái sanh trai,
Sớm khuya mưa nắng lấy ai bạn cùng ?
Sanh gái thì em gả chồng,
Sanh trai lấy vợ, mặc lòng thiếp lo.
- Anh ôi phải lính thì đi
Cửa nhà đơn chiếc, đã thì có tôi.
Tháng chạp là tiết trồng khoai,
Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà,
Tháng ba cày bở ruộng ra,
Tháng tư gieo mẹ thuận hòa mọi nơi,
Tháng năm gặt hái vừa rồi,
Trời đổ mưa xuống nước trôi đầy đồng.
Anh ơi giữ lấy việc công,
Để em cày cấy mặc lòng em đây.
- Khuyên anh đi lính cho ngoan,
Cho dân được cậy, cho quan được nhờ.
Bao giờ nên đội nên cơ,
Thì em sẽ quyết đợi chờ cùng anh.
- Lính vua lính chúa lính làng,
Nhà vua bắt lính cho chàng phải ra.
Giá vua bắt lính đàn bà,
Để em đi đỡ anh và bốn năm.
Bởi vua bắt lính đàn ông,
Tiền lưng gạo bị, sắm trong nhà nầy.
Ngoài hai hạng vợ học trò và vợ lính, lại còn những người đàn bà vắng chồng, ở nhà một mình lo làm ăn, thay thế mọi việc cho chồng, sự đó là thường. Tuy cái tình chăn gối, cách biệt nhau đâu khỏi nhớ thương :
Anh đi đường ấy xa xa,
Để em ôm bóng trăng tà năm canh.
Nước non một gánh chung tình,
Nhớ ai, ai có nhớ mình hay chăng ?
Nhưng mà cái tình riêng ấy rồi cũng gác bỏ, lấy việc gia đình làm trọng :
Anh đi em ở lại nhà,
Hai vai gánh vác mẹ già con thơ.
Lầm than bao quản muối dưa,
Anh đi anh liệu chen đua với đời.
Người đàn bà ở nhà chịu cực trăm bề, song tự trách mình coi là bổn phận phải làm, không điều phiền trách, chỉ lo một nỗi cái anh đàn ông đi xa đó rồi có nhớ đến vợ đến nhà chăng, hay lại đã tí tởn cùng ai rồi ! Đến cái tâm sự này mới thiệt là đau đớn mà đáng thương xót cho họ :
Trời mưa lác đác ruộng dâu
Cái nón đội đầu, cái thúng cắp tay ;
Bước chân xuống hái dâu nầy,
Nuôi tằm cho lớn, mong ngày ươm tơ.
Thương em chút phận ngây thơ,
Lầm than đã trải, nắng mưa đã từng.
Xa xuôi ai có tỏ chừng ?
Gian nan tân khổ, ta đừng quên nhau !
Nhẫn lên là kể qua những công khó lớn lao của người đàn bà đối với gia đình. Còn những cách chiều chồng của họ, ta cũng chớ nên bỏ qua mà không nhắc đến :
Chồng giận thì vợ làm lành,
Miệng cười hớn hở hỏi : anh giận gì ?
Thưa anh : anh giận em chi ?
Muốn lấy vợ bé em thì lấy cho.
Lấy vợ bé, là cái sở thích của anh đàn ông, người đàn bà khôn lanh, hay đem cái đó mà vuốt giận đức ông chồng. Nhưng đức ông chồng oai nghiêm mà lại hung bạo nữa, không làm lành cũng không được :
Chồng giận thì vợ bớt lời,
Chồng giận vợ giận thì dùi nó quăng.
Còn nói chi đến sự sắm ăn sắm uống cho chồng, cái đó là thường lắm :
Đốt than nướng cá cho vàng,
Đem tiền mua rượu cho chàng uống chơi,
Phòng khi có khách đến chơi,
Cơm ăn rượu uống cho vui lòng chàng.
Đàn ông rượu chè điếm đĩ cho mấy, đàn bà họ cũng không lấy làm lo sợ cho bằng ghiền á phiện. Thế mà đến lúc chìu chồng quá thì cũng không sợ nữa, miễn được lòng chồng mà thôi. Đã có người ước rằng :
Bao giờ cho được thảnh thơi
Tay tiêm thuốc cống, miệng mời lang quân !
Chìu mà đến như vậy thật là chìu hết nước.
Đó, cái công lao của đàn bà ta trong gia đình và cái ơn huệ họ ban cho chúng ta là vậy đó. Để rồi coi xã hội đối đãi họ cách nào, họ được những quyền lợi gì, và chồng con ở với họ ra làm sao ?
IV. Những sự thiệt thòi của người đàn bà đã chịu
Đã đành rằng đàn bà con gái là yếu đuối, theo phú bẩm tự nhiên, họ chỉ làm được công việc xứng đáng với thể cách họ, chớ không đương nổi các công việc lớn lao của đàn ông, thì phần quyền lợi của họ phải kém đàn ông. Song xét lại, công việc của họ tuy có dễ có nhẹ mặc lòng, mà không phải là không hệ trọng cho xã hội, thế mà xã hội đối đãi với họ bạc bẽo quá, nghĩa là những quyền lợi của người đàn bà không bù lại với công lao.
Mấy chương trước tôi đã nhiều lần nói đến cái chế độ gia đình và lễ giáo của thánh hiền đặt ra, hai điều ấy thật là cái điều ước bất bình đẳng của đàn ông đối với đàn bà. Do đó mà phụ nữ phải chịu thiệt thòi mười phần cả mười, như những sự ép duyên, sự chia gia tài, tôi đã kể qua mà chưa hết, phải kể riêng ra trong một chương nầy nữa.
Thứ nhứt là cái lối đại gia đình đã đầy đọa cái thân người đàn bà như một người nô lệ và cất mất cả nhân cách của họ đi. Theo lối tiểu gia đình của người Tây, cứ hễ con trai con gái có vợ có chồng thì ở riêng ra, được tự chủ lấy làm lấy mà ăn, khỏi lụy đến cha mẹ và cũng không ở dưới quyền cha mẹ nữa. Cái nhân quyền và dân quyền được phát đạt cũng nhờ đó. Còn ta, theo lối đại gia đình, đã có vợ có chồng đẻ năm ba mặt con rồi, cũng còn ở chung với cha mẹ, mọi sự đều không được tự chủ. Theo cái chế độ ấy người con trai cũng phải bị áp chế chớ chẳng không, song về phần phụ nữ lại còn bị áp chế nhiều hơn. Phải chia từng khoản ra mà kể như sau nầy.
1. Sự cách biệt nhau trong khi mới lấy chồng
Tôi tưởng ngay điều nầy vào thứ nhứt, chắc có nhiều ông nhà nho cho tôi là phàm tục, chỉ lấy điều nhục dục làm trọng mà dám đem mình để ra ngoài vòng đạo đức. Song tôi nghĩ, thà chịu cho các ông cười mà được nói thiệt theo như cái bổn tánh loài người, còn hơn là cũng lên mặt đạo đức như các ông mà phải nói dối, trái với lương tâm.
Theo kiểu đại gia đình, khi có vợ có chồng mà còn ở chung với cha mẹ, thật là rất ngặt cho con cái. Có cặp nào dạn dĩ cho mấy đi nữa, cũng không dám tự do mà đi lại cùng nhau, vì phải e nể kẻ lớn trong nhà. Đương cái tuổi vừa xoan, ôm cái tình nồng nàn, lại là trong cuộc giao tiếp chánh thức mà phải bị hạn chế như vậy, bảo cam lòng sao đang ? Ai chẳng biết nói ra thì xấu hổ, nhưng tức quá, phải kêu lên cho nó hả mà rằng :
Đêm qua anh nằm nhà ngoài,
Để em thở vắn than dài nhà trong.
Ước gì anh được vô phòng,
Loan ôm lấy phụng, phụng bồng lấy loan !
Không giận hờn gì nhau, cớ sao lại nằm nhà ngoài ? Phòng của mình, muốn vô khi nào thì vô, sao lai phải ước rằng “anh được ?”. Cho biết, vô phòng là sự thiên nan vạn nan, mà nằm nhà ngoài là sự cực chẳng đã !
Lấy chồng chẳng biết mặt chồng,
Đêm nằm mơ tưởng nghĩ ông láng giềng !
Câu nầy mới nghe, chắc không hiểu ý muốn nói gì. Số là, cặp vợ chồng mới nào ở với cha mẹ, phần thì mắc tịt [ 10 ] , phần thì sợ la rầy, nên anh chồng khi muốn đến với vợ, phải đợi cho kẻ lớn ngủ rồi, đèn tắt hết cả, mới dám mò vào. Khi ấy thôi thì còn thấy gì nữa, cho nên chị vợ không biết mặt chồng là phải. Còn ban ngày, chồng ở nhà trên, vợ ở nhà dưới, có gặp nhau cũng tránh, thì thật có dịp nào biết mặt nhau.
Sao lại mơ tưởng mà nghĩ ông láng giềng ? Vì chồng thì không thấy mà ông láng giềng thì thấy thường, nên khi muốn tưởng tượng cho ra cái vẻ mặt chồng thì không tưởng tượng được, mà nó nhè trật qua ông láng giềng, là người thấy thường hơn.
Mô phật ! Tôi nói toang mấy câu trên nầy ra, là có ý nói sơ những cái xiềng xích trong vòng tình ái của người đời một chút, nhưng đành phải đắc tội cùng danh giáo, cùng các ông đạo đức !
2. Sự cách biệt nhau trong khi chồng đi xa
Phàm người dân trong nước nào đã tấn hóa, đã theo cái chế độ tiểu gia đình rồi, thì chồng đâu vợ đó, đi đến đâu, lập ngay gia đình ở đó. Song nước ta không như vậy được, người đàn ông đi ra làm ăn, vợ phải ở nhà, hầu hạ cha mẹ, hoặc lo ngày đơm ngày quải [ 11 ] , hoặc lo đóng góp việc họ việc làng. Điều này trong chương thứ ba đã nói đến. Đây kể thêm vài câu phong dao cho biết sự ly biệt ấy là khổ cho đàn bà lắm, người nào gặp phải cái cảnh ấy thì họ cũng muốn bỏ nhà mà theo chồng cả, chỉ vì cái chế độ nó cấm ngăn đó thôi. Ấy là những câu :
- Đi đâu có anh có tôi,
Người ta mới biết là đôi vợ chồng.
- Đi đâu cho thiếp đi cùng,
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam !
3. Sự mẹ chồng hành hạ
Tôi không hiểu làm sao trong luân lý gia đình ta lại có cái sự bạo ngược vô đạo thứ nhứt, là sự bà gia ngược đãi nàng dâu ! Mà sự ấy có phải là họa mới có đâu, nhiều lắm ; có phải là biến đâu, thường lắm. Có thể nói được rằng bao nhiêu mẹ chồng, tức là bấy nhiêu người đại thù với nàng dâu. Nếu chẳng vậy thì sao họ đeo lấy mà trả thù nhau đời nọ qua đời kia ? Có bao nhiêu câu phong dao nói về mẹ chồng nàng dâu, đều tỏ ra cái ý xấu hết ; chẳng hề có một câu nào có ý trung bình, chớ đừng nói tốt nữa. Như là :
- Muốn nói không, làm mẹ chồng mà nói.
- Mẹ chồng nàng dâu,
Chủ nhà người ở, khen nhau bao giờ ?
- Bố chồng như lồng chim phượng,
Mẹ chồng như tượng mới tô,
Nàng dâu là bồ chịu chửi
- Chê mẹ chồng trước đánh đau,
Gặp mẹ chồng sau mau đánh.
Hành hạ chưởi bới đã là quá rồi, bà gia mà đến đánh nàng dâu thì thật là vô lý quá. Bởi vậy, nàng dâu đối với bà gia ngoài mặt tuy làm bộ mẹ mẹ con con, chớ trong lòng căm hờn không còn chỗ nói, đến nỗi thốt ra rằng :
- Đói thì ăn khế ăn sung,
Trông thấy mẹ chồng thì nuốt chẳng trôi.
- Thương chồng phải khóc mụ gia
Gẫm tôi với mụ có bà con chi !
Mẹ chồng đối với nàng dâu, xưa nay đã mang tiếng là ác nghiệt như vậy rồi, cho nên dầu có mẹ chồng nào ở lành với nàng dâu cũng mang tiếng lây, người ta chẳng kể mà cứ đánh xô bồ rằng :
Thật thà cũng thể lái trâu
Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng.
Mà nghĩ không biết bà gia ở ác nghiệt với nàng dâu để làm gì ? Mình nhè vợ của con trai mình mà hành hạ, thì hại cho chúng nó đã đành, mà cho mình cũng chẳng lợi chi. Mình không lợi mà con dâu bị hành hạ đó nó cũng chẳng thèm sợ nữa. Thiên hạ nói rằng :
- Chồng ghét thì ra, bà gia ghét thì vào.
- Mẹ chồng dữ mẹ chồng chết
Nàng dâu có nết nàng dâu chừa.
Chính nàng dâu cũng ra ý không cần, nói rằng :
- Chồng dữ thì em mới lo
Mẹ chồng mà dữ mổ bò ăn khao !
- Chồng dữ thì em mới sầu,
Mẹ chồng mà dữ giết trâu ăn mừng.
Tuy vậy, những lời đó chẳng vì ở trong cái cảnh khốn nạn quá rồi nói phách cho nó dạn người ra một chút đó thôi chứ thật sự ra thì những nàng dâu bị mẹ chồng hành hạ mà khốn khổ rất nhiều. Đừng nói ông già bà cả làm chi, ai sống chừng chỗ [ 12 ] bốn năm mươi tuổi, thì ít nữa trong con mắt cũng đã từng thấy một vài người dâu bị mẹ chồng đầy đọa mà phải chia vợ rẽ chồng, hoặc đến nỗi phải bỏ mạng !
4. Sự bà con bên chồng dằn thúc
Người đàn bà lấy chồng bị chồng cai trị lại ở dưới quyền ông gia bà gia, cái đó chẳng nói làm chi. Đến như bà con họ mạc bên chồng cũng theo người dâu mà bắt tròn bắt méo, thì còn ai mà chịu nổi ?
Trong bọn ấy, có tiếng nhứt là ông chú mụ o [ 13 ] . Mà ông chú còn dễ chịu một chút, đến cái mụ o mới thật là khả ố. Quái cho cái tụi ! không biết, cơm ai nấy ăn, nhà ai nấy ở, can chi mà họ lại xét nét đến việc gia đình người ta ? Vậy có câu rằng :
- Làm dâu vụng nấu vụng kho,
Chồng không bắt bẻ mụ o nhún trề.
- Một trăm ông chú không lo,
Lo về một nỗi mụ o nỏ mồm.
Lại còn cái nạn em chồng nữa ! Bên dưới cha mẹ chồng người làm dâu còn phải kiêng dè một hạng người rất quan hệ nữa là em chồng. Vì em chồng đối với cha mẹ là thân hơn nàng dâu, có việc gì thì chúng nó đem mà mách thót với cha mẹ, lại mủi nhọt vào, ít xít ra nhiều, làm cho chị dâu bị rầy chưởi để cười chơi cho khoái. Cho nên em chồng tức là cái vây cánh nanh vút của mẹ chồng mà là người cừu địch với nàng dâu. Sự đó người ta không giấu giếm chi cả, nói toang ra rằng :
Em chồng ở với chị dâu
Coi chừng kẻo nó giết nhau có ngày !
À ! Té ra cái luân lý gia đình của ta là vậy đó ! Cái quốc túy của ta là vậy đó ! Bề ngoài trông ra dáng lắm, những cái tên “từ, ái, hiếu, mục” nghe sang trọng như trời, mà ở trong toàn là xiềng xích gươm đao để trói buộc đâm chém nhau ! Gia đình luân lý ! Lần này phải có tôi là kẻ nhẫn tâm nầy để xỉ tướng ngài ra !
Vậy nên cái đời người đàn bà là cái đời nhẫn nhục. Cứ nhịn ! Ai giỏi nhịn ấy là người vợ hiền, dâu thảo, mà có khi được làm cả mẹ lành nữa. Đố ai nghe câu phong dao một chữ một giọt nước mắt dưới nầy mà chẳng cảm động cho đành :
Từ khi em về làm dâu,
Anh thì dặn trước bảo sau mọi lời :
Mẹ già dữ lắm em ơi !
Nhịn ăn, nhịn mặc, nhịn lời mẹ cha.
Nhịn cho nên cửa nên nhà,
Nên kèo nên cột, nên xà tầm vông.
Nhịn cho nên vợ nên chồng,
Thì em coi sóc lấy trong cửa nhà.
Đi chợ thì chớ ăn quà,
Đi chợ thì chớ dần dà ở trưa.
Dầu ai bảo đợi bảo chờ,
Thi em nói dối con thơ, em về.
Trong câu nầy thấy thêm một cái quái tượng trong gia đình nữa. Thế gian chỉ có hùm beo ma quỷ mới là dữ, chớ mẹ già đối với con dâu sao lại gọi là dữ ? Chẳng qua sự mẹ già dữ là sự thường, cho nên người ta nói ra mà chẳng sợ ác lỗ miệng !
5. Sự chồng phụ
Người đàn bà phải nhẫn nhục mà chịu những điều cay đắng trên kia, là còn trông cậy có chút chồng ! Đến chồng cũng phụ nữa, ấy là hết chuyện ! Ai có đời :
Còn duyên anh cưới ba heo,
Hết duyên anh đánh ba hèo đuổi đi !
thì thật coi người đàn bà chẳng khác chi con đòi đứa ở !
Người đàn ông rẫy vợ, thường là bởi sự ham mê nhan sắc, có mới nới cũ :
Nói thương mà ở có thương,
Đi đâu mà bỏ buồng hương lạnh lùng.
Đêm qua khi lạnh khi nồng,
Khi đắp áo ngắn, khi chung áo dài,
Bây giờ chàng đã nghe ai
áo ngắn chẳng đắp, áo dài không chung !
Chẳng những “sang đổi vợ” mà thôi, hết đau đến mạnh, người ta cũng đổi vợ nữa. Người đàn bà nào gặp phải cảnh nầy tức bằng chết :
Nào khi ảnh bủng anh beo
Tay bưng chén thuốc, tay đèo núi chanh
Bây giờ anh mạnh anh lành
Anh mê nhan sắc anh đành phụ tôi
Thà tôi xuống giếng cho rồi !
Nhẫn lên là những điều thiệt thòi mà người đàn bà đã chịu trong gia đình. Lại còn vì cái chế độ xã hội mà làm họ điêu đứng nhiều cách khác nữa.
6. Cái khổ làm vợ bé
Tại xã hội cho phép đàn ông lấy nhiều vợ, nên đàn bà phải có người làm lẽ. Ta nghe người làm lẽ họ kể thân phận của họ mà thương hại thay :
- Lấy chồng lấy lẽ khó thay,
Đi cấy đi cày, chị chẳng kể công ;
Đến tối chị giữ lấy chồng,
Chị cho manh chiếu nằm không nhà ngoài
Đêm đêm gọi những : “Bớ hai,
Trở dậy nấu cám, thái khoai, đâm bèo !”
- Thân em làm lẽ chưa hề
Có như chánh thất mà lê giữa giường !
Tối lại chị giữ mất buồng
Cho em manh chiếu nằm suông chuồng bò
Mong chồng chồng chẳng xuống cho
Đến cơn chồng xuống, gà o gáy dồn
Cha mẹ con gà kia sao mầy vội gáy dồn ?
Mầy làm cho ta mất vía kinh hồn về nỗi chồng con !
Tuy làm lẽ không phải là khổ hết thảy :
Cũng thì làm lẽ, người ăn bát mẻ, nằm chiếu manh
Người ăn bát Đại Thanh, nằm chiếu miến.
và cũng có người vì cớ riêng mà ưng làm lẽ :
- Tốt số lấy được chồng chung
Lương vua khỏi đóng, áo chồng khỏi may
- Thà rằng làm lẽ thứ mười,
Còn hơn chánh thất những người đần ngu
Song cái phần đông là ưng lấy một vợ một chồng. Những người ấy họ bảo nhau rằng :
- Đói no một vợ một chồng
Một niêu cơm tấm, dầu lòng ăn chơi
- Đói thì ăn mắm lá sung
Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng
Huống chi, sự lấy chồng chung là sự làm cho cái nhân cách của đàn bà trở nên đê tiện. Vì :
Chồng chung chồng chạ,
Ai hay hầu hạ thì đặng chồng riêng.
cho nên một bầy vợ tranh nhau mà thù phụng một anh chồng cũng như một bầy tôi tranh nhau mà nịnh hót một ông vua. Thần với thiếp cũng một loài. Kẻ nhân thần mất nhân cách đi thể nào, thì bọn thê thiếp cũng mất nhân cách đi thể ấy.
7. Cái khổ bị vua quan bắt hiếp
Tại xã hội bày ra cái chế độ quân chủ và cái chế độ đa thê mà đàn bà con gái vô phước thường phải lâm vào tay những kẻ cường bạo. Người ta đã công nhận rằng :
Cực chẳng đã mới gả cho vua
Gả cho vua thì thua nhiều nỗi
Lại rằng :
Đưa con vô nội
Liều như bán con cho mọi
Vậy thì đủ biết cái oán khí trong chốn dịch đình [ 14 ] nó đã kết lại và trào lên đến tận mấy từng trời ! Ấy mới là kể cái tình u uất của một đám phụ nữ bị nhốt trong cung nhà vua đó thôi, còn chưa nói đến sự tàn hủy thân thể họ mà ông vua bạo ngược như ông vua kia đã làm nữa là khác.
Vua đã có quyền muốn bắt con gái nhà ai thì bắt, rồi đến quan cũng vậy. Ta hãy kể lấy hai ông, là quan Chánh và quan Nghè :
Mẹ ơi quan Chánh đòi hầu,
Mua chanh mà gội cái đầu cho trơn
Đòi hầu sao lại nhè gái đã có con ? Nhưng mà các quan có kể chi ! Quan Chánh làm ngang, quan Nghè cũng có phép làm ngang. Hãy nghe lời một cô hàng rượu cung khai :
Tôi là con gái đồng trinh
Tôi đi bán rượu qua dinh ông Nghè
Ông Nghè sai lính ra ve
- Bẩm lạy ông Nghè : Tôi đã có con
- Có con thì mặc có con
Thắt lưng cho giòn, theo võng cho mau !
Các quan đời xưa cũng vậy mà đời giờ cũng vậy, cũng đều là người ho ra khói, nạt ra lửa, tài chi họ chẳng nuốt sống khách thuyền quyên !
8. Cái khổ góa bụa
Lấy theo cái ái tình cao thượng mà nói, thì vợ chồng đã ở cùng nhau, coi nhau như một thể, vả lại có con có cái rồi, mà một người chết đi, người còn sống đi lấy người khác, thì thật khí nhẫn tâm. Song theo thế thường có nhiều cái cảnh ngộ không thể ở vậy được, thế nào cũng phải chắp nối.
Ngặt một điều là, đã cho phép chắp nối thì định cho đàn bà đàn ông chung một kỳ hạn mới phải, cớ sao đàn ông một năm mãn khó được tục huyền, mà đàn bà phải thủ tiết đến ba năm ? Ức như vậy bảo sao đừng than :
Linh đinh chiếc bách giữa dòng
Thương thân góa bụa, phòng không lỡ thì
Gió đưa cây trúc ngã quỳ
Ba năm trực tiết, còn gì là xuân !
9. Cái khổ lấy chồng nhỏ
Ở Trung, Nam kỳ không có, chớ ngoài Bắc còn có cái tục lấy vợ sớm cho con để nhờ công nàng dâu thay vì đầy tớ gái, cho nên thường thường là vợ lớn chồng nhỏ, có khi tuổi vợ gần gấp đôi tuổi chồng. Sự đó cũng là do một cái thói tục xấu mà làm hại người đàn bà. Câu phong dao dưới đây là tả cái nỗi thống khổ của người mắc vào vòng ấy, lời tuy có hơi suồng sã mà thật là chí tình :
Tham giàu em lấy thằng bé tỉ tì ti
Làng trên xã dưới thiếu gì trai tơ
Em đem thân cho thằng bé nó giày vò
Mùa đông tháng giá, nó nằm co trong lòng
Cũng đa mang là gái có chồng
Chín đêm trực tiết nằm không cả mười
Nói ra sợ chị em cười,
Má hồng bỏ quá, thiệt đời xuân xanh
Em cũng liều mình vì thằng bé trẻ ranh,
Đêm nằm sờ mó quẩn quanh cho đỡ buồn
Buồn mình em lại bế thằng bé nó lên
Có còn bé mọn, đã nên cơm cháo gì !
Nó ngủ nó ngáy khì khì
Một giấc đến sáng, còn gì là xuân ?
Chị em ơi hoa nở mấy lần !
Đôi khi thằng bé ấy nó cũng làm ra mặt già giặn mà nói cưỡng rằng :
Em chớ thấy anh bé mà sầu !
Con ong kia nó bao lớn mà nó chích trái bầu trái bầu eo ?
Nhưng mà có ăn thua chi. Dư luận đã công nhận cho cái lối hôn nhơn ấy là không chánh đáng :
Chồng lớn vợ bé thì xinh
Chồng bé vợ lớn ra hình chị em.
Cho nên cái tục nầy ở Bắc kỳ tuy chưa dứt hẳn đi, nhưng cũng đã mỗi ngày một ít.
10. Cái khổ lấy chồng già
Vì đàn ông có rộng quyền, nên những người già cả mà giàu sang có quyền thế mới tha hồ lấy hầu non. Họ nói rằng thế là lấy thiếu âm bổ lão dương. Những con gái nhà nghèo hay là yếu thế tất nhiên phải vớ gặp chồng già. Có đôi người cùng rồi nói làm mê, nói rằng :
Có duyên lấy được ông già
Ăn xôi bỏ cháy ăn gà bỏ xương
Nhưng đó là câu nói không thiệt tình. Hãy nghe câu nầy mới biết cái khổ của kẻ lấy chồng già :
Vô duyên vô phúc, múc phải anh chồng già
Ra đường người hỏi rằng : cha hay chồng ?
Nói ra đau đớn trong lòng
Ấy cái nợ truyền kiếp, có phải chồng em đâu !
Tôi viết chương nầy đã dài, và đến đây, kể những sự thiệt thòi của phụ nữ chừng cũng đã hết. Vậy xin tạm nghỉ. Kỳ sau sẽ nói đến cái biến thái của đàn bà con gái là thế nào.
V. Các cái biến thái của phụ nữ