Theo tục ngữ phong dao, xét về sự sanh hoạt của phụ nữ nước ta
Part 1
Theo tục ngữ phong dao, xét về sự sanh hoạt của phụ nữ nước ta  (1929)  của Phan Khôi
- thông tin về bản này . 
Bài đăng trên Phụ nữ tân văn , Sài Gòn, các số 5 (30.5.1929); số 7 (13.6.1929); số 8 (20.6.1929); số 9 (27.6.1929); số 10 (4.7.1929); số 12 (18.7.1929); số 13 (25.7.1929); số 14 (1.8.1929); số 15 (8.8.1929); số 17 (22.8.1929); số 18 (29.8.1929)
9275 Theo tục ngữ phong dao, xét về sự sanh hoạt của phụ nữ nước ta 1929 Phan Khôi
Mới vài ba năm nay, trong xã hội ta, nhứt là trong làng ngôn luận, có nứt ra một danh từ mà nhiều người lấy làm chú ý, ấy là “vấn đề phụ nữ”.
Đại phàm các cái chế độ trong một xã hội, bất kỳ thuộc về mặt nào, hễ nó còn là thích hiệp với xã hội ấy thì nó không thành ra vấn đề. Mà khi nó đã thành ra vấn đề, ấy là khi nó không thích hiệp nữa, xã hội phải yêu cầu sửa sang nó lại hoặc thay đổi hẳn đi, để cho khỏi chống báng với sự sanh hoạt hiện thời.
Nước Nam ta trải mấy thế kỷ nay, đàn bà cứ thủ phận đàn bà : Nhỏ thì lo trao dồi nữ công nữ hạnh, có chồng thì lo “thờ” chồng nuôi con, việc đã thường mà lại cũ, có ai nói tới làm chi, cho nên nó không thành vấn đề. Đến ngày nay, nếu muốn trong nước cho tấn hóa ra, thì hầu như trăm sự đều phải đổi mới cả mới được. Đã muốn đổi mới cả trăm sự, mà một sự sanh hoạt của đàn bà còn cứ giữ y theo lối cũ, thì thiệt thòi cho họ đã đành, lại còn vì cớ dính dấp có thể làm trở ngại cho trăm sự kia nữa. Nói trắng ra mà nghe : Muốn ai nấy có quyền tự chủ về cá nhân thì phải bỏ cái kiểu gia đình lớn (grande famille) mà lập ra gia đình nhỏ (petite famille); nhưng đàn bà ta lâu nay đã quen cái thói chìu lòn [ 1 ] ở dưới quyền bà gia, em chồng,ông chú, mụ o rồi, nay bỗng chốc làm chủ trong một gia đình, chưa chắc là xong. Muốn cho mọi người trong nước đều được độc lập về đường kinh tế, thì phải mỗi người đều có công ăn việc làm, nhưng đàn bà ta thuở nay lẩn quẩn với ba ông táo quen rồi, bây giờ biểu họ ra mà xông pha sao được ? Còn chưa kể đến những chuyện viển vông như là nam nữ bình quyền, nữ tử tham chánh, chỉ nói sơ vài điều trên đó, đã thấy cái lề lối phụ nữ cũ không thích hiệp với thời nay lắm rồi, cho nên nó mới thành ra vấn đề.
Hễ đã thành ra vấn đề thì thế nào cũng phải giải quyết. Nghĩa là đã biết cái cách sanh hoạt cũ không thích hiệp rồi, bây giờ phải định theo cách nào cho thích hiệp. Ấy là sự rất khó, phải hiệp nhiều ý kiến và thăm tìm dò xét cho đến nơi, rồi mới quyết định được, không phải chuyện chơi.
Có một vài kẻ thấy nước người ta có nữ quyền rồi mình cũng lăm le xướng nữ quyền, thấy nước người ta kết hôn tự do rồi mình cũng đòi kết hôn tự do, như vậy là xốc nổi quá. Ý tôi thì khác. Tôi muốn rằng trước khi mình xướng những điều đó, mình phải xét lại coi nước mình đã cần dùng đến những của ấy chưa. Nhứt là mình phải xét lại coi những của ấy mình đã có chưa ; ngộ như nước mình đã có nữ quyền rồi, đã có tự do về hôn nhân rồi, chỉ vì nó ngấm ngầm không thấy được, làm cho mình tưởng là không có mà mua về, như vậy, không những xốc nổi thôi đâu, mà lại điên rồ nữa.
Cho nên, theo ý tôi, muốn giải quyết vấn đề phụ nữ phải làm hai từng công việc. Việc thứ nhứt là phải suy tìm cho biết cái tình trạng phụ nữ nước ta từ xưa đến nay ra làm sao ; việc thứ hai là phải định phương châm cho cách sanh hoạt mới của phụ nữ nên thế nào.
Tôi viết bài nầy, có ý góp một phần vào trong công việc thứ nhứt.
Muốn làm việc nầy thì sự cần nhứt là phải căn cứ vào lịch sử. Tôi nói lịch sử, không phải chuyên chỉ về một bộ sử Việt Nam mà thôi đâu. Phàm những sách vở của ta từ xưa để lại, có một lời nào chép về đàn bà con gái, đều là làm tài liệu cho chúng ta khảo cứu được cả.
Song ngặt thay ! Cái hạng sách vở ấy ở nước ta thật là ít có. Có chăng thì cũng chỉ chép sơ lược về sự tích của một vài người, không đủ cứ lấy mà xét được cái tình trạng chung của cả và [ 2 ] phụ nữ. Cho đến cả bộ sử Việt cũng vậy, ngoài những hạng nữ kiệt như bà Trưng, bà Triệu, tiết phụ như Nguyễn Thị Kim, sử không có chép nhiều về đám nữ lưu. Như vậy, cái phần hệ trọng nhứt trong việc nầy là lịch sử, thế mà chúng ta đã không trông cậy được rồi.
Túng lắm tôi phải nhờ đến tục ngữ và phong dao.
Cái nguồn nầy không phải là khô khan, mà thật là đầy đủ và dồi dào. Về một phương diện nào trong sự sanh hoạt của phụ nữ, cũng có ít nữa là một vài câu phong dao để làm biểu hiệu. Trong khi cực chẳng đã phải vớ lấy, mà té ra lại được thỏa thuê như vậy, thật là sự không ngờ !
Song có một điều tôi còn rất lấy làm chưa mãn nguyện, mà chắc độc giả cũng sẽ lấy làm không mãn nguyện như tôi, ấy là những phong dao của ta không có chỉ rõ câu nào phát sanh ra ở đời nào, làm cho nhà khảo cứu chẳng biết dò đâu mà tìm ra cái dấu vết thay đổi về các thời đại. Trong bài nầy của tôi, có một điều ấy là đáng tiếc !
Phỏng sử có đủ tang chứng về thời đại, chúng ta có thể nhơn đó tìm ra cái dấu chưn tấn hóa của cuộc sanh hoạt phụ nữ từ xưa đến giờ nó đi ra làm sao, nó hướng về phương nào, thì thật là có ích cho sự kinh nghiệm của chúng ta lắm vậy. Song vì thiếu một chút đó, thành ra bài nầy kém mất giá trị mà cũng giảm mất hiệu lực nữa.
Mười phần tài liệu trong bài nầy thì chỉ một phần cậy ở sức nhớ của tôi, còn hết chín phần nhờ ở hai cuốn sách Tục ngữ phong dao của ông Nguyễn Văn Ngọc. Tôi phải có mấy lời thanh minh ấy ở đây để cho ai nấy biết bộ sách của ông là có ích.
Đây dẫn lên như là lời giáo đầu ; trở xuống mới vào chánh văn bài khảo cứu của tôi.
I. Cái quan niệm chung của xã hội đối với phụ nữ
Theo các nhà xã hội học đã khảo cứu về cái trạng thái xã hội đời thượng cổ thì lúc bấy giờ cái quyền trong gia đình là thuộc về đàn bà, về người làm mẹ, gọi là “mẫu quyền gia đình”; trải qua một thời đại khá lâu, rồi cái quyền ấy mới thuộc về đàn ông, về người làm cha, gọi là “phụ quyền gia đình” [ 3 ] , tức như lối gia đình hiện có ở nước ta.
Ngày nay các học giả nước Tàu đã lấy nhiều chứng cớ trong lịch sử nước mình làm chứng cho lời ấy là thật. Trong những chứng cớ ấy cớ điều nầy là mạnh hơn hết. Người đời thượng cổ đẻ ra chỉ biết có mẹ mà thôi, nên theo họ mẹ. Nghiệm như chữ Tánh ( ) là họ, thì ghép chữ Nữ ( ) với chữ Sanh ( ) nghĩa là Nữ sanh vi tánh ( ), thì đủ biết. Mà thật vậy, bao nhiêu những họ có tiếng đời thượng cổ thì cái chữ nó đều có chữ Nữ ( ) đứng một bên, như họ Dao ( ), họ Tỉ ( ), họ Cơ ( ), họ Khương ( ), họ Nuy ( ), họ Vân ( ), họ Cật ( ), vân vân.
Cái xã hội đời thượng cổ là xã hội thuộc về mẫu quyền, sự đó đã hiển nhiên rồi, không thể cãi chối được. Song tại làm sao mà về sau phụ quyền lại thay cho mẫu quyền, và sự trải qua trong cuộc thay đổi ấy thế nào, lịch sử không đủ tài liệu mà khảo cứu, nên các nhà xã hội học cũng đè chừng mà nói mỗi người một khác, phân vân không nhứt định.
Trên đó là cái công lệ cho sự phát triển [ 4 ] của một xã hội, đã do các nhà xã hội học tìm ra ; bất kỳ xã hội nào, dân tộc nào, không thể thoát khỏi cái công lệ ấy.
Nước ta, về đời thượng cổ, không có sách vở gì đủ làm chứng cứ ; song, theo cái công lệ trên đó thì chắc cũng đã trải qua một thời kỳ mẫu quyền dài bao nhiêu năm rồi mới đến cái chế độ phụ quyền.
Tôi suy nguyên ra như vậy để cho biết rằng những cái thuyết “nam tôn nữ ty”, cái thói “trọng nam khinh nữ” là do về sau đàn ông ỷ mạnh ăn hiếp đàn bà mà bày đặt ra, chớ vốn không phải là luật tự nhiên, và loài người lúc ban đầu cũng không hề như vậy đâu.
Sự khinh miệt đàn bà, bắt đầu có từ hồi phụ quyền thời đại, do những người đời xưa, mà ta kêu bằng thánh hiền đó bày ra. Thánh hiền càng đặt ra lễ giáo chừng nào thì đàn bà càng bị áp chế chừng nấy.
Những cái lễ giáo bất bình đẳng ấy không thể kể hết ra đây được ; ta chỉ xem cái thái độ của thánh hiền đối với đàn bà thì đủ biết. Khổng Tử nói rằng : “Chỉ có đàn bà con gái và kẻ tiểu nhân là khó nuôi : hễ gần chúng nó thì chúng nó vô lễ ; hễ xa chúng nó thì chúng nó oán”. Mạnh Tử cũng cho sự chìu lòn luồn cuối là “cái đạo của thiếp phụ”. Như vậy, đem đàn bà mà kể làm một loạt với tiểu nhân, cho cái phận đàn bà là phải chìu lòn luồn cúi thì thật là khinh miệt họ quá thể.
Tôi phải lấy làm lạ, sao thánh hiền đã dạy người ta ở có hiếu với mẹ, ở có nghĩa với vợ, mà lại đi khinh đàn bà ? Nhè những người mình vẫn khinh mà ở cho có nghĩa có hiếu thì ở làm sao được ?
Xã hội ta về đời cố hỉ, thôi thì đành không biết được ; chớ còn hơn ngàn năm nay, từ ngày học theo đạo Khổng, Mạnh, ở dưới lễ giáo thánh hiền, thì cái quan niệm chung của mọi người đối với đàn bà là vậy đó, rau nào sâu ấy, không cần phải nói.
Đẻ ra mà thấy là con gái một cái, thì đã khinh đứt đi rồi, cho nên :
Con gái trở vỏ lửa ra
Nữ sanh ngoại hướng
dầu là con thì cũng yêu cũng thương, song kể thì không kể, coi hẳn nó là ngoài vòng cốt nhục của mình, vậy nên lại có lời rằng :
Con gái là ngoại cần câu.
Đã là con gái thôi thì không được học, không được chịu một thứ giáo dục với con trai. Tuy đã biết rằng “ Dưỡng nam bất giáo như dưỡng lư, dưỡng nữ bất giáo như dưỡng trư ”, nhưng cách giáo nữ của người mình dễ dàng lắm, sơ sài lắm, dạy đến mực nầy là cùng :
Con ơi nghe mẹ lời nầy :
Học buôn học bán cho tày người ta
Con đừng học thói chua ngoa,
Họ hàng ghét bỏ, người ta chê cười
Dầu no dầu đói cho tươi
Khoan ăn bớt ngủ, liệu bài lo toan
Phòng khi đóng góp việc làng,
Đồng tiền bát gạo, lo toan cho chồng
Trước là đắc nghĩa cùng chồng,
Sau là họ mạc cũng không chê cười
Con ơi nghe mẹ lời nầy !
Đó, dạy con gái là dạy làm vậy đó. Dạy phải chìu họ mạc, phải làm đầy tớ cho chồng. Còn ngoài ra, tri thức của một con người nên mở mang đến đâu, nhân cách của một con người ở đời phải thế nào, thì không hề dạy đến. Vì cớ không dạy ấy làm cho đàn bà trở nên ngu dốt, rồi xã hội lại theo mà cười chê, theo mà biếm nhẽ :
- Đàn bà đái không khỏi ngọn cỏ
- Phụ nhân nan hóa
- Ai trông thấy ma, biết đàn bà ăn bớt
- Đàn bà rúc không khỏi ba ông táo
- Đàn bà yếu chân mềm tay,
Làm ăn chẳng đặng, lại hay nỏ mồm
Tuy vậy, có phải hết thảy đàn bà đều là ngu dốt đâu. Tựu trung có lắm người dầu không được học mặc lòng, cũng có tài có đức, chẳng kém gì đàn ông. Nhưng mà thảm thay ! Người ta không thèm đếm xỉa đến, dầu giỏi trổ trời [ 5 ] cũng trối kệ, bởi vì :
Khôn ngoan cũng thể đàn bà,
Dẫu rằng vụng dại cũng là đàn ông
kia mà !
Đàn ông như nước, rửa ai nấy sạch
Đã là đàn ông thì như là có cái quyền vô thượng và có cả cái tài thần thông biến hóa nữa ! Rửa ai nấy sạch, chữ “ai” đó là chỉ đàn bà. Cho nên đàn bà không cần cho học cũng phải, vì nghĩ rằng nếu có bởi sự ngu dốt mà sanh ra điều dơ nhớp gì đi nữa, thì đã có đàn ông rửa cho.
Bởi vậy người ta đã định cho số phận của phụ nữ là phải chịu sút và không được tự chủ :
- Con gái thì ăn xó bếp, chết gầm chạn
- Con gái mười hai bến nước,
Bến trong thì nhờ bến dơ thì chịu
- Đàn bà như hột mưa sa
Hột vào gác tía, hột ra ngoài đồng.
Chính người đàn bà cũng tự nhận lấy cái số phận mình là thế, mà chỉ than van thôi, không dám trách móc ai :
Thân em như hột mưa rào,
Hột sa đáy giếng, hột vào vườn hoa.
Cho đến chia gia tài, theo thói thường, con gái cũng phải chịu phần ít, mà sự làm ăn lại là vất vả hơn con trai :
Sao ba đã đứng ngang đầu,
Em còn ở mãi làm giàu cho cha.
Giàu thì chia bảy chia ba,
Phận em là gái, được là bao nhiêu !
Đàn bà dầu có tài trí khôn ngoan mà muốn lo đến việc nước nữa cũng chẳng ai cho lo, muốn dự đến quốc sự nữa cũng chẳng ai cho dự :
Thành đổ đã có chúa xây ;
Can gì gái góa lo ngày lo đêm ?
Con mắt của mọi người xem đàn bà là như vậy, cho nên đàn bà đối với xã hội dường như không quan hệ gì lắm, có cũng được mà không cũng được, thậm chí chết đi bao nhiêu đàn bà cũng không tổn hại gì cho gia đình cho xã hội cả, người ta điềm nhiên như không mà nói rằng :
Bà chết thì khách đầy nhà ;
Ông chết thì cỏ gà đầy sân !
Nói tóm lại, cái quan niệm chung của xã hội ta đối với phụ nữ là như thế, là khinh dể đàn bà, coi đàn bà chẳng ra chi. Mà cái quan niệm ấy là do chế độ của xã hội, lễ giáo của thánh hiền mà ra vậy.
Ấy thế nhưng, theo sự thiệt, đàn bà có phải là đáng khinh đâu, có phải là đáng coi như không có đâu. Đọc mấy chương sau nầy, thì sẽ thấy cái nghĩa vụ của họ là nặng nề lắm, cái công lao của họ đối với xã hội là đáng khen ngợi lắm. Song, chế độ đã bày ra như vậy, lễ giáo đã buộc phải như vậy, thôi thì xã hội cứ hễ thấy đàn bà là khinh, không kể đến phần sự thiệt nữa.
Do cái quan niệm ấy, thành ra đàn bà dầu có công lao mấy đi nữa, có nghĩa vụ nặng nề mấy đi nữa, cũng không có quyền lợi bằng đàn ông ; mà có chăng, cũng không xứng đáng với nghĩa vụ.
II. Sự hôn nhơn của đàn bà con gái
Trai có vợ, gái có chồng, việc hôn nhân là việc chung cả hai bên. Nhưng so với bên đàn ông thì bên đàn bà con gái chỉ có việc hôn nhân là việc lớn nhứt trong cả đời người. Đàn ông còn có những việc công danh, những việc tang bồng hồ thỉ là việc lớn, cho nên họ đã khuyên nhau : “ Lập chí cho bền, chớ lo muộn vợ, chớ phiền muộn con ”. Còn đàn bà, còn có gì nữa ? Chỉ trông làm sao : “ Lấy chồng cho đáng tấm chồng, bõ công trang điểm má hồng răng đen ”, ấy là là thỏa nguyện một đời.
Vì xã hội đã kể đàn bà như là vật phụ thuộc của đàn ông nên thế nào cũng phải có chồng mới được. Dầu đã biết rằng :
Chồng con là cái nợ nần
Thà rằng ở vậy, nuôi thân béo mầm
song người ta lại đã dạy cho rằng :
- Ghe bầu trở lái về đông,
Làm thân con gái thờ chồng nuôi con.
- Gái có chồng như rồng có mây
Gái không chồng như cối xay chết ngõng
- Ngồi trong cửa sổ chạm rồng
Chiếu hoa nệm gấm, không chồng cũng hư.
như vậy thì còn ai dám lộn vòng phu phụ cho cam ? Còn ai dám cởi bông đào cho khỏi giam vào giây thắm ?
Đã là việc lớn của cả đời người mà không có thể chạy chối đi đâu được, cho nên phải lo :
Buồn chẳng muốn nói
Gọi chẳng muốn trông
Tưởng sự có chồng
Tỉnh như con sáo !
Tỉnh như con sáo, nghĩa là lo mà đờ cả người ra, ngơ ngẩn ngẩn ngơ. Lo, vì không biết cái việc lớn của mình rồi sau này nó ra làm sao. Lo, vì không biết cái tấm chồng của mình sau này nó có đáng hay là không đáng, cái công trang điểm nó có bõ hay không bõ. Vì sự lo ấy cho nên có sự kén chồng.
Nhưng mà đàn bà con gái đã không có quyền tự chủ, vả lại cái duyên chỉ có một thời mà thôi, thì có lẽ ngồi đó mà kén hoài hay sao ? Rốt cuộc lại rồi sự hôn nhân phải đổ cho duyên nợ, có kén cũng chẳng được chi. Hãy nghe những lời người ta đứng một bên mà giục :
- Ai ơi trẻ mãi ru mà
Càng so sắn lắm, càng già mất duyên
- Còn duyên như tượng tô vàng
Hết duyên như tổ ong tàn ngày mưa
- Còn duyên đóng cửa kén chồng
Hết duyên, ngồi gốc cây hồng lượm hoa
- Còn duyên kén cá chọn canh
Hết duyên, củ ráy dưa hành cũng trôi
- Còn duyên kén những trai tơ
Hết duyên, ông lão cũng vơ làm chồng.
Nghe đến câu “vơ ông lão” thì còn ai mà dám kiên gan ? Thôi thì :
- Cành đào lá liễu phất phơ
Lấy ai thì lấy, đợi chờ làm chi ?
- Liệu cơm mà gắp mắm ra,
Liệu cửa liệu nhà mà lấy chồng đi
Nữa mai quá lứa lỡ thì
Cao thì chẳng tới, thấp thì chẳng thông !
Ấy đó, cái chỗ “cao chẳng tới, thấp chẳng thông” là cái chỗ lo thứ nhứt của người đàn bà đó. Bởi đó mà cha mẹ mượn cớ để ép duyên con. Nhiều người làm cha làm mẹ lo sợ đến nỗi nói : “ Cầm con gái lớn lại, là cái họa ở trong nhà ”, rồi chỉ trông cho có chỗ mà đừa đi [ 6 ] . Đã cố đừa đi cho khỏi họa thì rồi đâu nghĩ đến sự đẹp đôi xứng lứa ? Bởi vậy mới có những lời than van nầy :
Nước đục mà đựng chậu thau,
Cái mâm chữ triện đựng rau thài lài.
Tiếc thay con người da trắng tóc dài
Bác mẹ gả bán cho người đần ngu !
Rồng vàng tắm nước ao tù
Người khôn ở với người ngu bực mình !
Hễ cha mẹ đã có quyền ép được thì cứ việc ép, đặt đâu ngồi đó, nào có nghĩ gì đến cái ái tình của con cái. Thương nhau mấy mặc kệ, hễ cha mẹ không ưng thì thôi :
- Đôi ta như đũa nòng nòng,
Đẹp duyên mà chẳng đẹp lòng mẹ cha
- Đôi ta làm bạn thong dong,
Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng
Bởi chưng thầy mẹ nói ngang,
Để cho đũa ngọc mâm vàng cách xa
Xét lại, cha mẹ mà sở dĩ hay ép con, là vì ham giàu. Cái bụng ham giàu đó cũng là bởi lòng thương con, không ngờ đâu lại thường thường trái với ý con, làm cho chúng nó ta thán :
- Đường đi những lách những lau,
Cha mẹ tham giàu, ép uổng duyên con
- Mẹ em tham thúng xôi dền,
Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng
Tôi đã bảo mẹ rằng đừng ;
Mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào
Bây giờ kẻ thấp người cao,
Như đôi đũa lệch so sao cho bằng ?
Có nhiều câu phong dao làm chứng rằng cái tâm lý của những người con gái hay trái với cái tâm lý của cha mẹ, nghĩa là không ham giàu, mà lấy cái duyên với nhau làm trọng :
- Chẳng tham nhà ngói bức bàn
Trái duyên coi bẵng một gian chuồng gà
Ba gian nhà rạ bà xòa,
Phải duyên coi tựa chín tòa nhà lim.
- Nghĩ xa thôi lại nghĩ gần
Làm thân con nhện mấy lần vương tơ
Chắc về đâu trong đục mà chờ ?
Hoa thơm mất tuyết biết nương nhờ vào đâu !
Số em giàu, lấy khó cũng giàu ;
Số em nghèo, chín đụn mười trâu cũng nghèo
Phải duyên phải kiếp thì theo,
Thân em có quản khó nghèo làm chi !
Chữ nhân duyên thiên tải nhứt thì,
Giàu ăn khó chịu, lo gì mà lo ?
Mới vừa bén duyên đã không thèm coi giàu ra chi như vậy, huống chi bén đến ái tình. Vào đến ái tình rồi, thôi không còn biết cái nghèo là cái chi chi :
Chồng ta áo rách ta thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người
Cái tâm lý ấy là trong sạch lắm chớ, là cao thượng lắm chớ. Tiếc thay vì cái chế độ gia đình ép buộc, làm cho nó không nẩy nở ra được mà lại tiêu mòn lần đi. Người con gái bi ép ấy về sau trở nên làm mẹ, thì cũng lại hùa theo chế độ ấy của đàn ông bày ra mà ép con mình nữa. Cái cuộc “trả thù xuống” ấy cứ nối nhau mãi đời nọ sang đời kia, không ngày nào dứt. Cũng vì đó mà xã hội càng ngày càng thấp hèn, càng ngày càng dơ đục, chỉ biết tiền bạc là quý, mà không kể chi duyên, chi ái tình !
Kể ra thì như nước ta ngày xưa, trong sự hôn nhân, người con gái cũng có quyền tự do lắm, cho nên mới dám vọt miệng nói câu nầy :
Trăm năm trăm tuổi trăm chồng
Đẹp duyên thì lấy, ông tơ hồng nào xe ?
Lại như đàn bà cũng có quyền tự do về sự ly hôn nữa, nên mới có những câu :
- Chín con chưa gọi rằng chồng;
- Cơm chẳng lành, canh chẳng ngon,
Dầu cho chín đụn mười con cũng lìa.
Thế nhưng cái lẽ của kẻ yếu ấy có bao giờ chống lại với lễ giáo với chế độ được ! Làm thân con gái phải nghe lời cha mẹ sở sanh sở định đành rồi ; lại còn phải nể cô bác, xóm làng, và còn phải e miệng thế gian nữa. Quanh đi quẩn lại rồi cũng chỉ chịu ép một bề. Cái sự ép mà rồi sau nên cửa nên nhà thì có ít ; sự ép mà làm cho nhân duyên chỉnh mảng thì nhiều, lắm người đã phải thương thân :
Cổ tay em vừa trắng vừa tròn,
Răng đen rưng rức, chồng con kém người.
Khốn nạn thay nhạn ở với ruồi,
Tiên ở với cú, người cười với ma !
Con công ăn lẫn với gà,
Rồng kia rắn nọ, coi đà sao nên ?
Theo luật thì đàn ông để vợ [ 7 ] là dễ, chớ đàn bà bỏ chồng có dễ chi. Người ta nói :
Trai chê vợ mất của tay không ;
Gái chê chồng một đồng mất thành bốn.
Luật đã vậy mà cái tay đàn ông lại chẳng vừa, muốn lộn mà ra cho khỏi tay họ thì cũng phải trầy vi tróc vẩy. Hãy nghe lời họ ngâm :
Không thương nhau nữa thì thôi
Bậu gieo tiếng dữ cho rời bậu ra.
Bậu ra cho khỏi tay qua,
Cái xương bậu nát, cái da bậu mòn !
Bởi vậy cho nên đàn bà mà gặp anh chồng không ra chi, cũng phải mang lấy cả đời như mang lấy nợ :
Chồng gì anh, vợ gì tôi ?
Chẳng qua là cái nợ đời chi đây !
Mỗi người một nợ cầm tay,
Đời xưa nợ vợ, đời nay nợ chồng.
Mà toan bỏ đi cũng không được :
Chị em ơi, người ta trông thấy chồng thì mừng
Sao tôi trông thấy mặt chồng thì nó như gừng với vôi ?
Cũng tại lấy chồng trước chẳng kén đôi,
Từ ngày tôi lấy phải nó chẳng nguôi trong lòng
Ba bốn lần tôi trả của chẳng xong !
Ham giàu thì không ; nhưng lấy chồng ham gần, là cái thói thông thường của con gái nước ta. Có lẽ ngày nay đã bớt đi, chớ thủa xưa thì đâu đó đều như vậy cả, được gần là thích hơn hết :
- Muốn cho gần bến gần thuyền,
Gần cha gần mẹ, nhân duyên cũng gần
- Muốn cho gần mẹ gần cha,
Khi vào thúng thóc, khi ra quan tiền.
Cái sự lấy chồng xa là sự họ giãy đành đạch nhứt định không chịu, nên đã nói rằng :
- Ăn cam ngồi gốc cây cam,
Lấy anh thì lấy, về Nam không về.
- Ăn chanh ngồi gốc cây chanh,
Lấy anh thì lấy, về Thanh không về.
Đó mới là ở trong một đất Bắc Kỳ ngày xưa mà khác tỉnh với nhau còn như vậy, huống chi người Nam kẻ Bắc thì khó lòng biết chừng nào :
Nồi đồng thì úp vung đồng
Con gái xứ Bắc lấy chồng Đồng Nai
Dậm chân ba tiếng kêu trời :
Chồng tôi vô Quảng, biết đời nào ra !
Nếu phải lấy chồng xa thì trách đến cha mẹ :
Cha mẹ đòi ăn cá thu
Gả con xuống biển mù mù tăm tăm.
Bắt từ đầu chương nầy thuật đến đây, khiến tôi đối với sự hôn nhân của đàn bà sanh ra hai cái cảm tưởng : Một là thấy họ không có quyền tự chủ trong sự ấy ; hai là dầu gặp sự thất ý, họ cũng phải cắn răng mà chịu.
Nam nữ cũng đồng là người cả, cớ sao lại có một bên chịu thiệt thòi như thế ?
Cái nghề tức nước thì lở bờ. Đến ngày nay, có cái hạng “ Gái đâu có gái lạ đời, chỉ còn thiếu một ông trời không chim ! ” hoặc cũng là do sự áp chế quá lắm ấy mà ra vậy.
III. Công khó của người đàn bà đối với gia đình
Người ở trong xã hội ngày nay, nhứt là xã hội Nam kỳ này, và nhứt là ở chốn thành thị lớn như Sài Gòn đây, thấy nhiều người đàn bà mất nết, không biết công ăn việc làm, không hiếu thuận với gia nương [ 8 ] ; thậm chí sa mê chơi bời, không nghĩ đến chồng con nữa, rồi vơ đũa cả nắm, nói phụ nữ ngày nay đều đã đổ đốn như vậy cả, thì thật là nói không đúng.
Theo tôi thấy, ngày nay ở thành thị thật có hạng đàn bà như vậy, - cái đó cũng bởi hoàn cảnh mà ra, rồi tôi sẽ luận về sau. - Còn một số nhiều đàn bà ta ở miền thôn dã thì vẫn giữ được cái nề nếp cũ ; mà cái nề nếp ấy có đã lâu lắm, bền vững lắm, sau này xã hội ta được tấn bộ nhiều, cũng có một phần lớn nhờ ở đó.
Tôi chưa được đi ra ngoại quốc, chưa được quan sát về nữ giới nước người, song cứ trong sách mà so sánh, và theo như lời của người ngoại quốc cháu ngoại An Nam có học thức thì có thể nói được rằng đàn bà nước ta, cái công khó của họ đối với gia đình thật là hơn đàn bà nước nào hết.
Độc giả nếu không tin, hãy đi điều tra các nơi thành phố buôn bán lớn từ xưa, như Hội An, Hà Nội, Nam Định thì sẽ thấy có nhiều hiệu Khách nhờ một tay người đàn bà An Nam chủ trì cho mà trở nên phát đạt thạnh vượng đến bây giờ. Nên đã có mấy người Khách lai nói lọt vào tai tôi rằng : Cái “mẫu nghi” của đàn bà An Nam không đâu bằng, đàn bà Tàu cũng phải chịu thua nữa !
Làm sao tôi lại phải dẫn đến lời của những người Khách ấy vào đây ? Vì rằng, phàm ta có của gì quý mà lại có nhiều, thì coi thường đi mà không biết là quý nữa ; chỉ có người ngoài vì khao khát của ấy lắm thì mới biết. Cái công khó đàn bà ta ở chốn gia đình là của quý thật, chúng ta có thể đem mà khoe với thiên hạ thật, song lâu nay đã bị ông cha chúng ta cho đến chúng ta đây nữa cũng xem thường xem khinh !
Người con gái, hễ lấy chồng một cái thì đã thấy khổ rồi ; có con, lại càng khổ hơn. Hãy nghe những câu nầy :
- Có con phải khổ vì con
Có chồng phải gánh giang san cho chồng
- Có con phải khổ vì con
Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay
- Có chồng chẳng được đi đâu
Có con chẳng được đứng lâu nửa giờ
Cũng vì một chút con thơ
Cho nên giải chiếu dập dơ trăm đường.
Cái khổ ấy đều là vì lòng yêu chồng, kính chồng, thương con mà ra :
- Mẹ cha bú mớm nưng niu
Tội trời thì chịu, không yêu bằng chồng.
- Con ông Đô đốc, Quận công
Lấy chồng cũng phải kêu chồng bằng anh
Người đàn bà có chồng thì mong có con. Không có con thì lấy làm buồn rầu mà than van :
- Có chồng mà chẳng có con