Chapter 2
Chữ Tàu mà theo văn ngôn thì đợi danh từ cũng lôi thôi lắm. Không phải ai ai cũng tự xưng là ngã được hết, mà phải theo từng địa vị của mình ; xưng người cũng vậy, phải tùy từng bậc, nếu theo đời thượng cổ mà kêu ai cũng nhữ cả là vô phép. Nhưng ngày nay người Tàu thông hành lối văn bạch thoại, thì đợi danh từ đã được nhứt trí và phổ thông, cũng tiện như tiếng Pháp : ba ngôi bên số một là ngã, nể, tha ; còn bên số nhiều là ngã môn, nể môn, tha môn. Chỉ một sự nầy, ta đủ nhìn thấy sự tấn hóa của ngôn ngữ văn tự Trung Hoa.
Tiếng Việt Nam ta thì còn đương vào thời đợi lôi thôi như văn ngôn của Tàu. Nhứt là ngôi thứ hai, thứ ba, cả bên số một và số nhiều cũng vậy, tùy người mà kêu, đáng ông thì ông, đáng bà thì bà, đáng anh thì anh..., lại còn những ông ấy hoặc ổng, bà ấy hoặc bả, anh ấy hoặc ảnh, thật là rắc rối đủ thứ. Theo cách ấy, trong khi nói, chẳng đến nỗi trở ngại gì ; nhưng trong khi viết, thật là bất tiện trăm đường.
Tiếng ta như vậy, ta quen, không lấy gì làm lạ, song người ngoại quốc họ phải lấy làm lạ lắm. Có người đã nói với tôi rằng tiếng An Nam không có đợi danh từ. Nói thế cũng không phải là quá đáng. Chẳng phải ta không có trơn, nhưng có mà những đợi danh từ ấy không thông dụng được thì cũng như không.
Lược kể đợi danh từ của tiếng ta, ba ngôi bên số một là ta, mầy, nó ; bên số nhiều là chúng ta, chúng mầy, chúng nó. Chỉ có những chữ như vậy mới kể được là đợi danh từ ; còn những chữ ông, bà, anh, chị… đều là danh từ mà mượn làm đợi danh từ đó thôi. Thế nhưng ngoài chữ ta còn có chữ tao, chữ tôi, phải tùy lúc mà dùng ; ngoài chữ chúng mầy còn có chữ bay, ngoài chữ chúng nó còn có chữ họ, song không thông dụng được, vì chẳng có thể đem mà xưng hết thảy các hạng người.
Có lẽ đời xưa người nước ta kêu nhau bằng mầy tao hết ; cũng như đời xưa bên Tàu kêu nhau bằng nhỉ, nhữ ; nhưng từ khi trong xã hội sanh ra giai cấp, bày ra lễ giáo, mới mượn những danh từ mà xưng hô nhau cho phân biệt như ngày nay. Nếu quả vậy, té ra xã hội càng văn minh thì tiếng nói lại càng lộn xộn hay sao !
Đây nhẫn lên, tôi nói để cho thấy một chỗ khuyết điểm trong tiếng ta, cái chỗ không được tiện lợi bằng tiếng Pháp tiếng Tàu, có ý mong về sau chúng ta sẽ lập ra một mối đợi danh từ cho nhứt trí và phổ thông, thì trong khi làm văn mới được tiện lợi. Nhưng hiện nay ta ở dưới cái nền nếp cũ, ta hẵng nói chuyện trong nền nếp cũ.
Tôi có thấy một vài điều trong sự đặt đợi danh từ mà tôi tưởng là nên nói, tôi kể ra sau đây.
1. Tự xưng là ta và mình. – Có người đã viết sách mà tự xưng là ta, không xưng tôi, lấy cớ rằng tôi là tiếng tự xưng của nô lệ. Như vậy thật là một sự cải cách mạnh bạo, ai có ý kiến rộng rãi một chút thì không đến nỗi phản đối. Song phần nhiều chắc không biểu đồng tình, vì theo thói quen xưa nay, duy có người nào tự coi mình là vai lớn mới tự xưng bằng ta.
Người thường cũng có khi tự xưng ta được, là khi mình xưng với mình ; khi như vậy thì lại phải xưng bằng ta, mới đúng. Những câu trong Truyện Kiều như :
Tới đây đường sá xa xuôi, Mà ta bất động, nữa người sanh nghi.
Thân ta ta phải lo âu, Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn nầy.
Giá chữ ta trong hai câu ấy mà đổi làm chữ tôi thì lại không được, vì khi có đối với ai mà nói thì mới xưng tôi.
Chữ mình cũng có khi dùng làm chủ ngữ (sujet) như chữ ta hay tôi, song phải có điều kiện mới được, không phải tùy ý muốn dùng lúc nào thì dùng.
Một là khi trong câu văn có ý bông đùa, hoặc để tỏ ra ý khinh đời mà chơi, tức là cái lối văn ngoạn thế bất cung của phái hoạt kê (diễu) đời xưa, khi ấy dùng chữ mình được. Mà dùng chữ mình vào đó lại càng nẩy ra cái ý bất cung, làm cho lời văn hoạt động thêm hơn.
Hai là khi xưng mình đó chẳng những chỉ vào tác giả mà thôi, dầu người nào khác cũng có thể bao hàm vào đó được, thì nên dùng chữ mình. Vậy như nói : “Hôm qua ông Giáp nhơn có ông Ất, mời tôi ăn cơm. Nghĩ vì mình không quen với ông Giáp, ổng mời mình chỉ vì nhơn có ông Ất, chớ chưa chắc có thành tâm cho nên tôi từ chối”. Hai chữ mình đó, nói được ; là vì chẳng những tác giả nghĩ như vậy mà thôi, dầu người nào khác lâm cảnh ấy cũng phải nghĩ như vậy.
Đến như kể lại chuyện mình đã trải qua, như một quyển du ký nọ, khi ngoài hai cái điều kiện ấy mà tôi thấy tác giả cũng cứ xưng mình luôn, thì nghe ra không được trang trọng mà lại như tuồng lố lăng nữa. Đã hay rằng mình thuật chuyện mình, có quyền xưng mình, chẳng ai cấm. Song phải nhớ rằng trong chữ mình có cái ý bất cung, vậy thì khi đối với độc giả, mình không tỏ ý bất cung, sao lại dùng cái chữ bất cung ? Do lẽ đó cái câu ví dụ vừa rồi nếu đổi hai chữ tôi làm chữ mình hết, nói rằng : “Hôm qua, ông Giáp nhơn có ông Ất, mời mình ăn cơm. Nghĩ vì mình không quen với ông Giáp nên mình từ chối”, - thì thật là lố lăng không nghe được.
2. Chữ nó dùng xưng sự vật - Chữ nó, trước kia ta chỉ dùng xưng hạng người mà ta lấy làm khinh hèn, chớ không mấy khi dùng mà xưng sự vật. Vậy nên khi trong câu trên có danh từ chỉ về sự vật mà câu dưới muốn nhắc lại, thật là khó lòng quá. Như trên nói con bò, thì dưới phải nhắc lại là con bò ấy ; trên nói cái tư tưởng gì đó, thì dưới phải nhắc lại là cái tư tưởng ấy. Chữ mà lôi thôi như vậy thì văn không tài nào cho gọn cho hay được.
Gần nay có nhiều người dùng chữ nó mà chỉ về sự vật. Như mấy bài của ông Trần Trọng Kim đăng trong tập báo nầy cũng có dùng một vài lần ; còn tôi thì tôi dùng luôn. Dùng như vậy, ban đầu thấy hơi lạ một chút, nhưng về sau quen đi, tiện lợn lắm. Tôi muốn, về ngôi thứ ba số một nên dùng chữ y chữ va chỉ về người, còn để riêng chữ nó chuyên chỉ về sự vật. Như vậy, về sự vật sẽ có một đợi danh từ nhất định ; và về người, dầu hạng người nào cũng khỏi bị kêu bằng tiếng nó, là tiếng nghe cộc cằn và có ý khinh bỉ quá. Trong sự tiện lợi lại có ngụ cái ý bình đẳng đôi chút.
3. Chúng ta và chúng tôi. - Giả như hết thảy người Pháp ở đây đối với hết thảy người An Nam mình mà tự xưng, thì theo tiếng Pháp, họ phải nói là nous ; nhưng đến khi họ muốn gồm chung người An Nam vào với họ nữa thì cũng lại nói là nous. Như vậy có hơi không được phân biệt một chút. Có lẽ tiếng ta hơn tiếng Pháp được chỗ ấy. Theo tiếng ta, gặp cái “ca” trước thì người Pháp phải xưng là chúng tôi, gặp cái “ca” sau mới xưng là chúng ta. Vậy mà thấy nhiều người dịch bài chữ Pháp ra, hễ cứ gặp chữ nous thì dịch là chúng ta hết. Thế là trái với nguyên tắc tiếng An Nam. Vì tiếng An Nam, khi một bọn người tự xưng, không đối với ai hết, thì xưng chúng ta ; còn khi có đối với một hoặc nhiều người khác mà tự xưng thì phải xưng chúng tôi.
Lại khi ngôi thứ nhất số một kẹp luôn ngôi thứ nhì mà tự xưng thì xưng là chúng ta. Như nói : Tôi (ngôi thứ nhứt) với ông (ngôi thứ nhì) chúng ta sẽ đi chơi. Còn khi ngôi thứ nhất kẹp luôn ngôi thứ ba mà xưng với ngôi khác thì phải xưng chúng tôi. Như nói : tôi (ngôi thứ nhứt) với ông X (ngôi thứ ba) chúng tôi sẽ đi chơi.
Sự phân biệt ấy là nhờ ở chữ tôi và chữ ta. Cho nên đối với cái ý kiến muốn bỏ chữ tôi đã nói trên kia, tôi thật không biểu đồng tình.
4. Chữ họ dùng ngôi thứ ba số nhiều. – Bên số nhiều, chữ bay dùng thay cho chúng mầy thì không được, nhưng chữ họ thay cho chúng nó thì có lẽ được. Bởi vì chữ họ có nghĩa bình thường, không ra ý khinh tiện. Khi tôi dịch Kinh thánh cho Hội Tin Lành, tôi dùng chữ họ để dịch chữ ils trong tiếng Pháp luôn luôn. Làm như vậy, tôi có ý bỏ chữ chúng nó là chữ nghe thô tục quá. Mà bất kỳ sang hay hèn, hễ một số nhiều người thì xưng là họ hết, có ý làm cho cái nghĩa bình đẳng ngụ trong ngôn ngữ văn tự nữa.
5. Với nhau và lẫn nhau. - Chữ nhau cũng là một đợi danh từ. Nhưng khi nói với nhau, khi nói lẫn nhau, là có nghĩa khác, vậy mà nhiều người không chú ý. Với nhau, chỉ nghĩa quan hệ giữa hai người hoặc nhiều người ; còn lẫn nhau cũng chỉ nghĩa quan hệ giữa hai người hoặc nhiều người, mà lại chỉ rõ rằng tên Giáp quan hệ với tên Ất, rồi tên Ất lại quan hệ với tên Giáp (Chữ lẫn nhau giống như chữ réciproquement tiếng Pháp).
Vậy như nói : Hai người nói chuyện với nhau, thế là chỉ nghĩa một người nói, còn người kia nghe cũng được. Còn như nói : Hai người giúp đỡ lẫn nhau, thế là chỉ rõ ra rằng người nầy giúp đỡ người kia, người kia lại giúp đỡ người nầy.
=
Động từ (verbe) của tiếng ta, theo tự nhiên, không có chia ra cách (mode) và thì (temps), ấy là một sự giản tiện dễ chịu lắm. Tuy vậy, ngôn ngữ là biểu hiệu của tư tưởng, trong tư tưởng đã có phân biệt sự hành động ra nhiều cách và không phải đồng một lúc, thì nói ra nơi miệng, cái ngữ khí cũng phải nhơn đó mà thay đổi. Sự phân biệt và thay đổi ấy, tiếng Pháp thì ở tại cách và thì của động từ ; còn tiếng ta, động từ không có hai cái đó, cho nên phải nhờ trợ động từ (adverbe) mà phân biệt. Điều nầy quan hệ lắm, sẽ nói riêng ở bài về trợ động từ. Đây chỉ nói một vài điều nên biết về cách đặt động từ mà thôi.
1. Động từ kép. - Động từ có đơn và kép : Đơn là một tiếng ; kép là hai tiếng. Thường thường động từ kép là bởi đơn mà sanh ra. Như ăn sanh ra ăn tham, ăn gian, ăn lời, ăn cắp v.v…; đi sanh ra đi qua, đi lại, đi theo, đi đày, v.v...
Ấy là do sự nẩy nở của văn tự bằng một cách cực chẳng đã. Bởi vì những sự hành động nào có ý giống nhau, không hơi đâu đặt thêm tiếng mới, thì người ta lấy một tiếng cũ làm cốt, rồi thêm một tiếng khác nữa thành ra động từ kép, để chỉ nghĩa cho sự hành động ấy. Vậy những động từ ấy có nghĩa khác nhau là tại cái tiếng thêm vào, mà có ý giống nhau là tại cái tiếng làm cốt.
Lấy một chữ bắt làm thí dụ : Chữ bắt có nhiều nghĩa, nhưng đại ý của nó là cưỡng bách kẻ khác theo ý mình. Do đó mà sanh ra bắt bớ, bắt buộc. Bắt bớ (arrêter), bắt buộc (obliger) có nghĩa khác nhau, nhưng cũng đều có ý cưỡng bách kẻ khác theo ý mình cả.
Tôi nói đến chỗ gốc của động từ như vậy, cốt muốn người ta nhìn thấy chỗ đó, thì trong khi dùng động từ, sẽ phân minh cái nghĩa và cái ý của nó, mà không đến nỗi lầm lộn. Vì thấy nhiều người dùng chữ bắt buộc cũng như chữ bắt bớ, tôi biết rằng tại họ chưa hiểu đến gốc.
Khi nào mình dùng một động từ mà nhân quả nó là động từ kép thì thế nào cũng phải cho một cái ngang nối (trait d’union) giữa hai tiếng. Nếu không có ngang nối thì nhiều khi có thể lầm được là hai động từ . Vả lại những động từ kép ấy tuy hai tiếng mà kỳ thiệt có một mà thôi. Thử dịch những động từ ấy ra tiếng Pháp thì biết. Như đi lại tức là fréquenter và repasser ; ăn cắp tức là voler.
2. Động từ kép có khi không liền nhau - Những động từ kép như là lấy làm, cho là, làm ra, có khi không liền nhau, là khi lọt một danh từ vào giữa động từ ấy. Như nói : Tôi lấy nghề vẽ làm thích lắm ; nó cho việc ấy là khó ; người nầy làm mình ra thông thái.
Gặp khi ấy, không được kể nội chữ lấy, chữ cho, chữ làm là động từ, mà phải kể luôn cả chữ lấy làm, chữ cho là, chữ làm ra là động từ kép. Bởi vì cũng có khi dùng được động từ ấy liền nhau như vầy : Tôi lấy làm thích lắm nên không biết chán ; nó cho là quan hệ nên phải nói với anh ; người nầy làm ra thông thái mà kỳ thiệt là dốt nát. Những khi nói như vậy, phải hiểu ngầm rằng trong mỗi một động từ đó có ẩn một danh từ hoặc đại danh từ. Như nói tôi lấy làm thích lắm, tức có ý là : tôi lấy sự gì đó làm thích lắm.
Tôi cắt nghĩa điều trên đây vì thấy nhiều người dùng những chữ ấy vào nhiều chỗ không đáng dùng, nhứt là chữ lấy làm. Nhiều khi đáng nói tôi vui mừng lắm, mà họ lại nói tôi lấy làm vui mừng lắm. Như vậy, tỏ ra rằng họ không nhận thấy chữ lấy làm là một động từ. Nói tôi lấy làm vui mừng, chỉ nghĩa là mình nghĩ trong ý mà thấy là đáng vui mừng ; còn nói tôi vui mừng, nghĩa là vui mừng tỏ ra sắc mặt.
3. Sự bớt chủ ngữ trên động từ. – Theo văn pháp thì một câu (phrase) có khi chỉ một mạng đề (proposition), mà cũng có khi gồm nhiều mạng đề. Mỗi một mạng đề có ba phần, là : chủ ngữ (sujet), động từ (verbe), và tân ngữ (attribut). Nhưng trong khi đặt câu mà cứ mỗi một mạng đề phải có một chủ ngữ, thì thành ra lặp đi lặp lại, nhiều quá, nên có nhiều mạng đề người ta bớt chủ ngữ đi.
Cái sự bớt chủ ngữ ấy quan hệ lắm ; nếu bớt không trúng phép thì hóa ra hỏng cả câu. Đại phàm câu nào có nhiều mạng đề thì trong đó phải có mạng đề chánh (proposition principale) và mạng đề phụ (proposition subordonnée). Muốn bớt chủ ngữ thì nên bớt trong mạng đề phụ, chớ trong mạng đề chánh thì không được bớt. Vả lại, có nhiều mạng đề phụ cần phải bớt chủ ngữ đi, bằng không thì cái ý trong câu tràn lan ra, không quy trọng lại cái chỗ đáng quy trọng. Cho nên, bớt chủ ngữ trong những mạng đề phụ, chẳng những vì tránh sự lặp đi lặp lại thôi đâu, mà cũng làm cho cái ý cốt của mình đọng lại và nẩy ra trong mạng đề chánh.
Ví dụ nói : Khi tôi đi ngang qua nhà ông ấy, tôi thấy ổng ở trong nhà đi ra ; hay là nói : tôi có vào nhà ông ấy mà tôi không thấy ổng ở nhà. Thế thì nên bớt đi một chữ tôi (chủ ngữ) trong mỗi câu mà nói rằng : Khi đi ngang qua nhà ông ấy, tôi thấy ổng ở trong nhà đi ra ; và nói : Tôi có vào nhà ông ấy mà không thấy ổng ở nhà.
Đó, trong câu thứ nhứt, cái mạng đề phụ ở trước mà cái chánh ở sau, cho nên phải bớt chữ tôi trong mạng đề trước ; còn trong câu thứ nhì, cái mạng đề chánh ở trước mà cái phụ ở sau, cho nên phải bớt chữ tôi trong mạng đề sau. Nếu trái lại, bớt chữ tôi sau trong câu thứ nhất và chữ tôi trước trong câu thứ nhì, thì cả hai đều hỏng.
Bởi vì, câu thứ nhứt, mạng đề sau là mạng đề chánh, ý mình muốn tỏ ra sự có gặp ông ấy, ý ấy là ý cốt ; còn cái mạng đề trước chẳng qua là đới thuyết, để tỏ thêm cho biết gặp lúc nào chỗ nào mà thôi. Nếu để cả hai cái chủ ngữ trong hai mạng đề thì thành ra hai cái công dụng (actions) bằng nhau, không có bên khinh bên trọng, không tài nào nẩy ra cái ý chánh được. Mà còn nhè bớt cái chủ ngữ trong mạng đề chánh, thì lại thành ra giảm mất cái công dụng của nó, trái với ý cốt của mình, hóa nên hỏng câu.
Hiểu câu thí dụ thứ nhất rồi, chắc hiểu câu thứ nhì. Trong câu nầy cốt phân chứng cho người ta biết mình có vào nhà ông ấy, ý ấy là ý cốt, mạng đề ấy là mạng đề chánh, nên không thể bớt chủ ngữ của nó được.
Cách bớt chủ ngữ nầy là hay lắm, đã làm cho gọn câu, lại làm cho rõ ý nữa. Trong khi viết, mình nên có ý nhắm chỗ nào đáng dùng cách ấy thì dùng. Chỗ nào đáng dùng cách ấy mà không dùng, thật là uổng.
Theo như tiếng Pháp, thì cách đặt nầy tức là về “mode participe” gồm cả “temps présent ou passé”. Tôi thấy hình như trong ngôn ngữ ta từ xưa không quen lối nói như vậy. Hễ kể chuyện thì kể từ đầu đến cuối suôn đuồn đuột, cho nên câu văn cứ phẳng lì mà ít có biến hóa, nhiều khi lại không nẩy được ý nữa. Ví như nói : Tôi đương đi giữa đường, tôi gặp lính hỏi giấy thuế ; hay là : Tôi ăn cơm rồi, tôi sẽ đi chơi. Ấy là kiểu nói của ta đó. Tôi tưởng cái lối nói ấy vụng về lắm, ta nên bỏ đi ; gặp khi như vậy, nên bắt chước lối nói của tiếng Pháp : câu trên dùng participe présent, nói : Đương đi giữa đường, tôi gặp lính hỏi giấy thuế ; câu dưới dùng participe passé, nói : Sau khi ăn cơm, tôi sẽ đi chơi.
4. Bị động từ có hai thế đặt. - Bị động từ (verbe passif) trong tiếng ta có hai thế đặt, tùy ở điều xảy tới có vừa lòng hay không vừa lòng cho kẻ nhận lấy. Vừa lòng thì dùng chữ được ; không vừa lòng thì dùng chữ bị. Như nói : Tôi được khen ; thằng nhỏ nầy bị đánh. Được khen là sự vừa lòng ; bị đánh là sự không vừa lòng.
Sự nầy hình như cũng là một cái dấu đặc biệt của tiếng Việt Nam. Lạ lắm ! nếu vậy chẳng là đem tâm lý học mà lập ra luật bắt văn pháp phải nhận ? Mà thật vậy. Người ta nói được quan Thống đốc mời tới dinh ngài, chớ không hề nói bị mời bao giờ ; nói bị tòa án đòi, chớ không hề nói được đòi bao giờ. Như vậy, tỏ ra rằng trong tiếng Việt Nam cũng nhìn cho sự quan Thống đốc mời là sự danh dự, sự vừa lòng ; còn sự tòa án đòi là sự bất danh dự, sự không vừa lòng !
Trong văn có dùng bị động từ là sự ích lợi lắm. Vì nó đã làm cho thay đổi cách nói đi, lại gặp chỗ đáng kín ý thì nó cũng làm cho kín ý được nữa. Song lối nói của ta xưa nay cũng ít dùng bị động từ, mà hầu như cứ dùng tha động từ (verbe actif) luôn luôn. Ai không tin, hãy đem những bài bằng tiếng Pháp đã dịch ra tiếng ta mà soát lại, sẽ thấy những chỗ trong nguyên bổn dùng bị động từ thì dịch bổn đổi làm tha tha động từ. Ấy vì trong tiếng ta không quen dùng bị động từ, dịch giả lấy làm ngượng miệng mà đổi đi.
Ta nên bắt chước tiếng Pháp mà dùng bị động từ thì được tiện lợi nhiều bề. Như tiếng Pháp nói rằng : Bị áp chế, thợ nổi lên phản kháng ; ấy là gặp chỗ muốn kín ý, chỉ nói thợ bị áp chế mà thôi, chớ không nói ai áp chế. Song theo tiếng ta thì sẽ nói : Chủ áp chế thợ, thợ nổi lên phản kháng. Như vậy thì thành ra lời văn thật thà trống trải quá. Cái chỗ sở đoản của văn ta là tại chỉ dùng tha động từ mà không biết dùng bị động từ, ta nên biết mà cải lương đi.
=
Ba bài trước tôi nói ròng những điều quan hệ với văn pháp. Sợ nói luôn về một mặt đó, làm cho độc giả phát chán đi, nên bài nầy nói về điều quan hệ với luận lý học, ví cũng như món ăn trở bữa.
Trong khi làm văn, có chỗ thì dùng lời quả quyết, có chỗ thì dùng lời hồ nghi, ấy là sự thường. Như nói : Sắt thuộc về loài kim ; người ta không phải là cầm thú ; ngày mai tôi đi Huế…ấy là lời quả quyết. Có khi nói như vậy, e còn chưa đủ cho người khác tin, lại dùng những cách khác cho quả quyết hơn nữa như nói : Sắt không thuộc về loài kim, thì thuộc về loài gì ? Người ta có phải là cầm thú đâu ? Ngày mai thế nào tôi cũng đi Huế. Còn khi muốn tỏ ý hồ nghi thì dùng những chữ : hoặc giả ; có lẽ ; chưa biết chừng v.v. . .
Truy nguyên ra, loài người mà có cách nói như vậy, là tại sự tri thức của mình chưa đến nơi. Người ta, dầu là một bậc thánh triết đi nữa, có điều biết chắc, cũng còn có điều chưa biết chắc. Hễ biết chắc thì nói cách quả quyết, biết chưa chắc thì nói cách hồ nghi, có vậy rồi những điều chưa biết chắc đó mới có ngày biết chắc. Khổng Tử nói rằng : “Hễ biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, ấy là biết vậy”. Ngài lại còn dạy người ta nghe cho nhiều mà phải để thiếu những chỗ nghi ngờ (đa văn khuyết nghi), tức là ý ấy.
Thuở nay tôi thấy có Jésus-Christ nói tinh một cách quả quyết mà thôi ; đố ai tìm ra được một lời nào của ngài mà đã dùng cách hồ nghi. Chẳng những dùng cách quả quyết tầm thường, mà mỗi một câu một lời của ngài, hình như ngài lại còn dùng đinh mà đóng, dùng dây mà cột cho càng thêm chắc nữa. Giảng dạy cho môn đồ, ngài hay dùng luôn câu mép nầy : “Quả thật, ta nói cùng ngươi” (En vérité, je vous le dis) ; có chỗ ngài còn lặp đi lặp lại, dùng đến hai lần “Quả thật”.
Jésus-Christ mà nói như vậy là phải, không ai có thể chiếu theo luật của luận lý học mà kiện ngài được. Bởi vì ngài đã chưng cái bằng cấp Con Đức Chúa Trời ra, chính mình Đức Chúa Trời toàn tri toàn năng, đã hóa thân ra ngài, ngài tức là ánh sáng, tức là chơn lý, thì thôi, còn hồ nghi gì nữa ? Trừ Jésus-Christ ra, hễ là người ta thì nói ra có lời quả quyết mà cũng có lời hồ nghi, vì người ta ai nấy đương còn đi tìm chơn lý mà tìm chưa ra, thì hồ nghi là lẽ tất nhiên.
Do đó mà luận lý học mới lập ra cái nguyên tắc dị đồng (les principes d’indentité et de différence). Cái nguyên tắc ấy gồm có ba luật, là luật tự đồng, luật mâu thuẫn, luật cự tam, mà tôi mới vừa giải rõ ra trong một bài đăng ở Phụ nữ tân văn số 75. Trong khi đọc bài nầy của tôi, xin độc giả chịu khó đem bài ấy - đầu đề của nó là Phản cái thuyết của ông Võ Xuân Lâm – ra mà nghiền ngẫm lại lần nữa. Trong bài ấy, tôi đã nói rằng : “Luật tự đồng làm nền cho mạng đề khẳng định (própositions affirmatives), hết thảy mạng đề khẳng định đều lập lên trên nó ; luật mâu thuẫn làm nền cho mạng đề phủ định (propositions négatives), hết thảy mạng đề phủ định đều lập lên trên nó ; luật cự tam làm nền cho mạng đề tuyển ngôn (propositions disjonctives) , hết thảy mạng đề tuyển ngôn đều lập lên trên nó”. Nay tôi lại nói thêm ở đây rằng : Hết thảy những mạng đề khẳng định và phủ định đứng trên luật tự đồng và luật mâu thuẫn đó là thuộc về cách nói quả quyết ; còn hết thảy những mạng đề tuyển ngôn đứng trên luật cự tam đó là thuộc về cách nói hồ nghi.
Theo luận lý học, khi nào đáng nói cách quả quyết mà lại dùng lời hồ nghi hay là đáng hồ nghi mà lại nói cách quả quyết, đều là không được cả. Bởi vì, điều gì mà sự đồng dị của nó đã phân minh rồi, thì mình chỉ có việc khẳng định hay phủ định mà thôi, khi ấy nên dùng lời quả quyết để tỏ ra sự tri thức của mình là chơn xác. Nhưng điều gì mình chưa rõ được sự đồng dị, chưa biết khẳng định phải hay phủ định phải, thì nên dùng lời hồ nghi để tỏ ra ý cẩn thận. Nhờ sự hồ nghi hay là sự cẩn thận đó, như mình làm dấu cho nhớ, mà rồi có ngày tìm ra sự đồng dị của nó mà khẳng định hay phủ định.
Đáng quả quyết mà lại hồ nghi hay đáng hồ nghi mà lại quả quyết, cái đó có phần ít bởi tri thức mà phần nhiều bởi tư tâm. Như : hút thuốc phiện lâu ngày thì phải ghiền, ấy là do sự kinh nghiệm từ trước đến nay, bao nhiêu người hút đều ghiền cả. Đó là theo luật tự đồng, sự hút và sự ghiền đồng nhứt với nhau, thế nào mình cũng phải khẳng định. Song nếu có kẻ nói rằng : “Hút chưa chắc ghiền” ; hay là nói : “Có lẽ hút mà không ghiền” ; - ấy là đáng quả quyết mà lại dùng lời hồ nghi. Hồ nghi như vậy, chẳng phải bởi người ấy không có cái kinh nghiệm về việc đó, nhưng bởi cái tư tâm của va muốn nói thế đặng tiện cho mình hút hay là cho kẻ khác cũng hút như mình. Lấy một cái thí dụ đó mà suy ra cái khác, sẽ thấy sự đáng hồ nghi mà quả quyết cũng sai lầm như nhau.
Ta nên chú ý nhứt là những lời như là hồ nghi, mà không phải hồ nghi ; khi viết một bài văn đứng đắn, không nên dùng những lời ấy. Trong chữ Hán, người ta kêu nó là lời thiểm thước (thiểm thước chi từ). Thiểm thước nghĩa là cái nháng sáng của chớp, lòe một cái rồi mất liền, như có mà cũng như không. Thầy kiện cãi lẽ ở tòa án cùng nhà báo bút chiến với nhau, hay dùng những lời ấy mà che khuất sự thiệt.
Ở đây tôi đem một lời của ông Trần Trọng Kim ra làm chứng. Làm như vậy vì có hai điều tiện : một là việc mới xảy ra ở trong tập báo nầy, dễ nhớ ; hai là nhơn thể tôi giải quyết được một điều biện nạn trong cuộc luận chiến vừa rồi ; điều ấy bữa sau tôi sẽ khỏi trả lời cho ông Trần.
Bài trả lời cho tôi lần thứ nhứt, trong số 60, ông Trần viết rằng : “Còn như nói rằng Khổng Tử chỉ nói thái cực chớ không nói đến vô cực, thì quả thật như vậy… Song biết đâu Khổng Tử đã đi học Lão Tử lại không nghĩ đến vô cực ?. . .”
Cho được bác lại đoạn ấy, bài của tôi ở số 64 có nói rằng : ... “Theo phương pháp khoa học, cái gì chắc hãy nói, không chắc thì thôi, tôi xin tiên sanh đừng dùng hai chữ biết đâu . . . “
Trong bài ở số 74, ông Trần dùng chữ biết đâu lần nữa, rồi lại nói rằng : “Tôi vừa mới viết chữ biết đâu, chắc là Phan tiên sanh đã lắc đầu rồi. Đó chẳng qua là tôi theo cái cách tư tưởng của tôi trong khi nghị luận. Hễ điều gì tôi biết chắc chắn thì tôi nói quả quyết, điều gì tôi biết chưa được rõ lắm, hay là không chắc, thì tôi dùng chữ biết đâu, để tỏ cái thái độ hồ nghi của tôi. Có lẽ, tôi với Phan tiên sanh khác nhau ở chỗ đó. Tiên sanh nói điều gì là nói quả quyết, mà tôi thì tùy có điều quả quyết, có điều không quả quyết được, cho nên phải hồ nghi ...”
Coi đó thấy ông Trần nhận cho chữ biết đâu là cách nói hồ nghi. Không phải. Biết đâu là lời giống như hồ nghi chớ không phải hồ nghi, chính nó là lời thiểm thước.
Có thể theo phương thức toán học mà đặt ra như vầy cho dễ cắt nghĩa :
Biết đâu không = Có.
Như vậy, biết đâu không tức là có. Nói biết đâu không chẳng khác nào nói có. Muốn nói có nhưng chẳng nói có, lại nói biết đâu không, vì lời nầy có hơi lơ lửng hàm hồ, cũng khẳng định mà không có ý chằm bẳm như chữ có, lợi cho khi mình muốn khẳng định điều gì một cách lơ lửng hàm hồ. Ông Trần lẽ nào lại không biết rằng “Khổng Tử sang nhà Châu hỏi lễ nơi Lão Tử” mà thôi ? Ông biết vậy mà ông lại muốn viện cái chứng ấy để bẻ lại tôi, nên ông đã đổi chữ hỏi lễ làm chữ học, rồi dùng chữ biết đâu tiếp theo để lập chứng thì cái chứng ấy chẳng những là mong manh mà lại là ngang trái nữa.