Chapter 1
Theo như bổn báo đã rao trong một số trước, bắt đầu từ kỳ nầy đăng bài nói về “Phép làm văn” rồi tiếp theo đây mỗi kỳ sẽ có một bài về mục ấy.
Đương trong lúc quốc văn mới nhóm lên, ai ai cũng có cái khuynh hướng muốn lợi dụng nó về mọi việc, mà chưa có cái thể thức nào nhứt định, chưa có cái gì làm như kim chỉ nam cho người viết văn thì cũng là một sự bất tiện lắm. Chúng tôi thấy mọi người đều ước ao rằng phải chi trong lúc nầy mà có người soạn ra những sách dạy về văn quốc ngữ thì tiện lợi cho đồng bào là dường nào !
Sự ước ao ấy vẫn chánh đáng mà cũng khí hơi cao xa. Vì một thứ chữ mới gầy dựng lên, ban đầu hết, ai cũng như nấy, cũng thấy là trong khi ứng dụng nó, khó khăn nhiều bề ; vậy thì hỏi ai có tài lực nào cho đủ mà lập ra một cái quy tắc rành rẽ, đúng đắn, hầu làm mẫu mực cho mọi người được ? Cho nên sự ước ao ấy cũng khó mà thiệt hiện ra.
Tuy vậy, chúng ta chớ nên thấy thế mà ngã lòng. Thứ chữ nào cũng vậy, mới bắt đầu gây dựng lên, chưa có thể nào hoàn toàn được, chưa có quy tắc nhứt định được, mà cần phải mỗi ngày một trưởng thành lên với thì giờ. Trong khi trải qua một khoảng thì giờ ấy, người nầy phát minh ra cái nầy, người kia sáng tạo ra cái kia, lâu ngày nhóm góp lại, cái nào được người ta công nhận, thì cái đó sẽ thành ra quy tắc. Bởi vậy, hiện lúc nầy đây, trong học giới nước ta, về phương diện văn tự, chính là lúc mà mỗi người đều có cống hiến nhiều ít cái sở đắc của mình. Bổn báo mở ra mục “Phép làm văn” chẳng qua là muốn cống hiến một vài điều sở đắc của chúng tôi mà thôi.
Độc giả đọc mục nầy, xin chớ coi như là bài học trong nhà trường dạy về khoa văn học ; song hãy coi như là cái bổn cảo của những bài học ấy còn đợi các bực cao minh chỉ chánh cho những điều lầm lỗi.
Tác giả mục nầy vốn là nhà cựu học, nhỏ lớn chưa hề được ngồi trên cái ghế của trường học kiểu kim thời. Về phép làm văn theo như khuôn phép của khoa văn học thế giới ngày nay, tác giả có sở đắc một ít, cũng chỉ nhờ công nghiên cứu lấy ở dưới bóng đèn, bên cửa sổ. Lấy cái học không gốc mà dám viết ra đây, chẳng qua là một sự đánh bạo, một sự làm thử, muốn chứa lại đây một mớ đầu đày mạt cưa để sắm sẵn cho tay thợ dựng cái lầu đài quốc văn có dùng được chút nào thì dùng.
Bởi vậy chúng tôi mong rằng sau khi đọc mục nầy trong mỗi số, độc giả có thấy chỗ nào lầm lỗi thì xin làm ơn gởi thơ đến bổn báo mà đính chánh cho. Có làm như vậy mới mong lẽ phải được tỏ bày ra, và mỗi người một ít, mỗi ngày một chút, nhờ đó mà tiếng Việt Nam sau nầy mới có mẫu mực nhứt định, theo như bây giờ chúng ta đương ao ước.
Trên đây là lời của Tòa soạn chúng tôi bày tỏ chút lòng thành thật, trong khi mở ra làm việc quan hệ nầy. Dưới đây xin tiếp theo “mấy lời nói đầu” của tác giả.
=
Mới thấy ba chữ “Phép làm văn”, có người sẽ nói rằng : “Làm văn lại cần phải có phép ư ? Các bậc tiên hiền ta ngày xưa như cụ Nguyễn Du, cụ Đồ Chiểu, có hề học phép làm văn bao giờ mà các cụ cũng làm nên sách nọ sách kia, nổi danh là nhà văn học ? Khéo bày ra cho lắm trò ! Có học tập thì tự nhiên làm văn được, chớ không cần phải đặt ra phép tắc làm chi”.
Ai nói như vậy cũng có lẽ ít nhiều, chớ không phải toàn vô lý hết. Theo lối học của ta ngày xưa, thật như vậy, về sự làm văn, chưa hề có ai bày ra phương pháp để dạy ai. Cho đến bên Tàu, chừng năm bảy mươi năm về trước cũng không hề có sách dạy chuyên về phép làm văn nữa.
Ấy là theo cái cách thức người phương Đông ta, mọi sự đều nhờ ở sự sáng dạ của kẻ học, chớ còn thầy dạy, cứ dạy tràn lan cho, không nương theo phương pháp kiểu mẫu nào, việc gì cũng vậy, không phải nội một việc học chữ. Vậy mà trong rừng nho cũng có người viết văn hay, ám hiệp với phép tắc tự nhiên ; trong các nghề cũng có lắm tay thợ khéo, không kém gì nhà mỹ thuật có học hành đúng đắn.
Thật, cái hay cái khéo là nhờ ở thiên tài phần nhiều. Một người nếu không có khiếu trời cho về văn học thì dầu cả đời theo đuổi về đường ấy, hằng ngày luyện tập theo phương pháp kiểu mẫu đúng đắn, cũng chẳng hề thành ra được nhà văn hào. Đó là lẽ tất nhiên ; ngày xưa chúng ta sống là sống trong cái lẽ tất nhiên ấy mà không biết biến hóa.
Cứ phó mặc cho cái lẽ tất nhiên ấy thì một trăm người đi học may ra mới được một người có thiên tài, có khiếu làm văn, người ấy về sau sẽ thành ra nhà văn hào chắc chắn. Nhưng còn chín mươi chín người kia, có lẽ đành phải chịu dốt, hay là phải thất công gấp hai, vì đã không có khiếu, không có thiên tài, mà lại cũng không có phương pháp kiểu mẫu để cho dễ học hơn.
Nói đến đó thì đã hơi thấy mọi sự phải cần có phương pháp kiểu mẫu rồi, đã hơi thấy sự làm văn phải cần có phép rồi.
Các nước bên Âu-Mỹ, cho đến Nhựt Bổn, hay là Trung Huê ngày nay cũng vậy, về sự làm văn, họ phải dạy nhau bằng những phép tắc nhứt định, ai cũng có thể noi theo đó mà làm được.
Trong việc nầy thấy ra người các nước văn minh, về sự học vấn, họ không toàn cậy ở thiên tài mà cũng cậy ở nhân lực. Nhân lực tức là những phương pháp kiểu mẫu đó. Người ta đã nghiệm ra rằng trong nước nào mà sự giáo dục có theo phương pháp kiểu mẫu thì người có thiên tài cũng sẽ nhờ đó mà mau giỏi thêm hơn, còn những người không có thiên tài cũng sẽ nhờ đó mà không đến nỗi cả đời dốt nát. Chúng ta cũng đã nghiệm ngay trước mắt đây rồi ; những học trò tốt nghiệp ở trường tiểu học bây giờ, dầu dở đến đâu cũng viết được một bài tầm thường bằng tiếng Pháp ; còn hồi xưa học chữ Hán, có kẻ đã tốn công phu đèn sách đến mười mấy năm trời mà viết một bức thơ nhà không nổi. Ấy không phải tại chữ Hán khó hơn chữ Pháp đâu ; chỉ tại bây giờ học chữ Pháp có phương pháp kiểu mẫu mà ngày xưa học chữ Hán thì không có mà thôi vậy.
Huống chi cái quan niệm về văn học ngày nay có khác với ngày xưa. Ngày xưa duy có những người sẵn thiên tài thì mới mong làm nhà văn học, rồi những vật xuất sản của văn học cũng chỉ riêng một đám họ thưởng thức với nhau ; cái văn học ấy hình như có cái tánh chất quý tộc ở trong. Còn ngày nay văn học đã thành ra một món cần dùng cho dân chúng, hầu như hết thảy người trong xã hội cũng phải mỗi ngày sống trong văn học là mấy giờ. Cái hiện tượng ấy chẳng những thấy ra trong các nước văn minh, mà chính ở nước ta đây cũng thấy được, tức là chị hàng cá ở xó chợ, anh phu xe ở đầu đường, cũng thường mở cuốn tiểu thuyết ra mà giám thưởng trong lúc thanh nhàn.Vậy thì ta phải để riêng hạng thiên tài ra ; bây giờ đây, phải làm thế nào cho nhứt ban dân chúng đều có ít nhiều tri thức về văn học, hầu để thêm lên cái hứng vị trong khi giám thưởng, ấy là cái hứng vị của sự sống.
Muốn được như vậy phải nhờ những người có học trong nước, mỗi người góp một ít phương pháp, kiểu mẫu về văn học, lấy ra từ sự biết của mình, đem mà cống hiến cho dân chúng, thì mới được. Khi một cái phương pháp, kiểu mẫu nào được công nhận mà thành lập rồi, ai đã biết chữ cứ theo đó mà tự học lấy, viết ra sẽ thấy là thông, đọc của ai sẽ biết hay biết dở ; như vậy không cốt để làm một nhà văn học đâu, song để bổ ích cho những giờ thuộc về cái đời văn học của họ vậy.
Nãy giờ tôi nói để tỏ ra phép làm văn là cần có ; rồi đây sắp sau mới nói đến cái phép ấy là thế nào.
Những nước nào mà văn tự đã thành thục rồi, nền văn học đã vững chãi rồi, thì trong nước họ đều có các thứ sách chuyên dạy về phép làm văn. Một người học trò đến bực trung học rồi, là tất phải thông hiểu qua các sách ấy. Còn người nào rủi mà thất học, không chịu giáo dục ở nhà trường được, thì cũng có thể nhờ các sách ấy mà tự nghiên cứu lấy. Vì đã làm người dân ở các nước văn minh, thì sự nầy coi như là thường thức, ai cũng phải biết, chẳng phải là cao xa chi. Đây xin kể đại lược về các thứ sách ấy :
1. Văn pháp (Grammaire) . – Sách nầy dạy về sự tổ chức và cách kết cấu của một thứ văn tự, phải học nó thì dùng chữ mới khỏi sai và nói hay viết ra mới đúng với nguyên tắc của văn tự ấy. Các bực tiền bối ta thường kêu sách nầy bằng “sách Mẹo” ; nhớ như ông Trương Vĩnh Ký đã dùng chữ quốc ngữ mà làm sách văn pháp của chữ Pháp cho người mình dễ hiểu, kêu bằng “sách Mẹo Phan Lang Sa”.
2. Luận lý học (Logique). – Sách nầy dạy người ta về sự tác dụng của tư tưởng ; có thông hiểu nó thì mới biết dùng tư tưởng theo đường phải và tránh sự lỗi lầm. Luận lý học là sách dạy về tư tưởng, chớ không chuyên dạy về phép làm văn ; song văn chương là do tư tưởng mà ra, cho nên cần phải học.
3. Tu từ học (Rhétorique) . – Sách nầy chuyên dạy về sự làm văn cho đẹp, cho hay. Cái mục đích của văn chương có ba điều, là : tín, đạt, mỹ. Tín là cho đúng ; đạt là cho thông ; mỹ là cho đẹp, cho hay. Muốn đúng và thông thì nhờ ở hai thứ sách trước ; còn muốn cho đẹp cho hay thì phải nhờ ở tu từ học.
Phép làm văn ở các nước gồm trong ba thứ sách đó ; một người học mà muốn làm được văn thì phải biết qua cả ba thứ đó mới đủ phép làm văn. Trong ba thứ sách đó, luận lý học thì nước nào cũng như nước nào, vì loài người tâm lý đã đồng nhau thì sự tác dụng của tư tưởng cũng đồng nhau. Duy có hai thứ kia, văn pháp và tu từ học thì mỗi nước khác nhau một ít, bởi tại ngôn ngữ và văn tự mỗi nước đều khác.
Ở nước ta, chữ quốc ngữ mới gây dựng lên, chưa có ba thứ sách ấy bằng tiếng ta, cho nên văn quốc ngữ không lấy đâu làm mực thước cả. Trừ ra sách luận lý học, bây giờ nếu có ai thông hiểu cái học ấy rồi, đem mà viết ra bằng tiếng ta, thì thành sách liền. Duy có hai thứ kia, phải chờ đến bao giờ tiếng ta và văn ta được thành thục rồi, những cái nguyên tắc của tiếng và văn đã tìm thấy đủ hết và được nhứt định, thì bấy giờ hai thứ sách đó mới thành được.
Vậy thì ngay bây giờ đây, là lúc chúng ta đương đi tìm những cái nguyên tắc ấy. Đã thấy có người làm sách văn pháp cho tiếng ta rồi – như ông Lê Thước ; nhưng một người không đủ. Văn pháp nước nào cũng vậy, chẳng phải do một người mà thành được, phải nhờ ở đông người mỗi người cống hiến một ít.
Những bài tôi sẽ viết trong mục Phép làm văn đây, chính là tôi muốn đem cống hiến một ít của tôi. Những bài ấy sẽ nói về sự quan hệ của văn với văn pháp, hoặc với luận lý học, hoặc với tu từ học, cốt để tìm ra những cái nguyên tắc đã nói trên kia vậy.
Theo lẽ, đã gọi là “Phép làm văn”, thì những bài trong mục ấy từ đầu đến cuối phải có thống hệ, có trật tự, cho kẻ đọc có thể cứ theo đó mà lấy làm chuẩn đích cho sự làm văn được mới phải. Song sự đó tôi nhận là rất khó, hiện ngày nay chưa có thể làm được, mà đành phải thấy đâu viết đó, cốt là không trật ra ngoài cái phạm vi ba thứ sách đã nói đó mà thôi.
Vậy nên, xin độc giả coi những bài của tôi sẽ viết đây như là bổn cảo, cốt ghi lấy những điều quan hệ về phép làm văn, và nêu ra làm vấn đề cho mọi người chú ý đến mà nghiên cứu, chớ không phải là dám đem mà dạy ai đâu.
Tuy vậy, tôi cũng trông mong rằng những điều tôi sẽ cử ra đây nếu được công nhận là những nguyên tắc của tiếng và văn nước ta, thì chắc cũng sẽ có bổ ích cho sự làm văn đương thời ít nhiều, và những sách văn pháp, tu từ của ta sau nầy cũng sẽ lượm lặt ở đây được một mớ tài liệu, ấy là chỗ nguyện vọng riêng của tôi, song đâu đã dám chắc.
Những bài nầy mỗi bài sẽ đánh số là thứ nhứt, thứ nhì v.v…. nhưng làm như vậy để cho tiện sự về sau nhắc lại, chớ không phải là có trật tự liên quán với nhau. Tiếp theo đây, bài thứ nhứt sẽ nói về cách đặt các quán từ (articles).
=
Quán từ tức trong tiếng Pháp kêu bằng article, là những chữ dùng đặt trên danh từ (nom). Chữ “quán” nghĩa là “trùm” ; quán từ là chữ trùm trên danh từ vậy.
Bất kỳ một thứ ngôn ngữ văn tự nào, cách tổ chức và kết cấu của nó cũng đều có luật tự nhiên cả. Kêu bằng “luật tự nhiên”, vì chẳng có ai đặt ra luật ấy hết, mà chính nó còn có một cách vô hình ở trong thứ ngôn ngữ văn tự ấy.
Trong ngôn ngữ văn tự vẫn có luật, vậy thì ai đã biết thứ ngôn ngữ văn tự nào rồi, lẽ cũng biết luôn luật nữa mới phải. Nhưng vì người ta đối với cái gì đã quen quá rồi, ít hay chú ý đến, nên hoặc có người không biết mà trái luật, cho đến hoặc có người nói và viết ra trúng luật luôn luôn mà cũng không tự biết. Chúng ta đọc trong một bổn tuồng của ông Molière, thấy nói có lão Jourdain, nhờ có người bảo cho, lão mới tỉnh ngộ ra rằng mình đã làm văn xuôi luôn hơn bốn mươi năm, thì chúng ta phải tức cười nôn ruột ; song có ngờ đâu rằng chính chúng ta đây cũng có khi dật dờ như lão ! Ấy là chỉ tại ta không chú ý.
Kêu bằng sách văn pháp, chẳng phải có ông thánh nào đặt ra được sách ấy đâu, chỉ là do những người hay chú ý tìm ra được những luật tự nhiên của một thứ ngôn ngữ văn tự mà thôi. Luật tự nhiên ấy cũng gọi là những nguyên tắc. Những nguyên tắc ấy khi được công nhận rồi, thành ra sách văn pháp, dùng làm kẻ nhắc chừng cho lão Jourdain tỉnh ngộ, chớ chẳng có gì thần bí hết.
Bài nầy tôi nói về cách đặt các quán từ mà tôi lại kể lể ra xa xuôi như vậy là cốt muốn cống hiến cho độc giả một điều rất quan hệ trong sự học, ấy tức là hai chữ “chú ý”.
Người mình hay có cái tánh cẩu thả, gặp cái gì lạ, cũng bỏ qua đi, không hề chú ý ; như vậy, chẳng phải là học. Có chú ý thì mới có quan sát, có quan sát thì mới có sở đắc, ấy tức là học đó. Bằng như gặp sự gì cũng không chú ý thì đã bỏ mất cái bước đầu của sự học rồi.
Đây tôi đem trình bày những cái nguyên tắc về cách đặt các quán từ trong tiếng Việt Nam, ấy là tôi đem cống hiến cho độc giả những cái sở đắc của tôi trong sự nghiên cứu ấy. Nhưng tôi lại muốn cống hiến luôn cả cái lịch trình nghiên cứu của tôi nữa, – như vậy tôi tưởng lại còn có ích hơn – nên tôi mới lấy làm hệ trọng mà nói đến hai chữ “chú ý”.
Tôi học viết văn quốc ngữ từ hai mươi năm về trước. Khi bắt đầu, tôi đương còn ngớ nghết, một điều tôi rất lấy làm lạ, là sao trong khi nói thì thấy mình nói gì cũng xuôi, mà trong khi viết thì thấy viết gì cũng khó. Trong những cái khó, có một cái là nhiều chữ giống nhau, muốn dùng chữ nào cũng được hết, thì mình nên dùng chữ nào ?
Sau tôi mới biết ra rằng những chữ mình nói là giống nhau ấy, thật không phải giống nhau như hệt đâu. Hễ chữ đã khác thì nghĩa cũng phải khác, có điều chỉ khác một ít, tức như tiếng Pháp kêu bằng “nuance”. Có người Pháp nói rằng trong tiếng Pháp chẳng có chữ nào là dị âm đồng nghĩa. Thật thế, trong tiếng Việt Nam ta cũng thế.
Hồi đầu tôi chú ý nhứt là hai chữ trong quán từ của ta: chữ những với chữ các. Mỗi khi tôi viết cái gì, tôi cứ tự hỏi hoài câu nầy : chỗ nầy nên dùng chữ các ư ? nên dùng chữ những ư ? Đã lâu lắm mà tôi chẳng tìm ra được câu trả lời nào cho dứt khoát, đúng đắn.
Vào khoảng năm 1920, tôi ở Hà Nội, khi nói chuyện với một nhà làm văn, tôi đem hai chữ ấy mà hỏi ông ta. Tôi hỏi : “Chữ những với chữ các giống nhau hay là khác nhau ? Nếu khác nhau thì khác ở chỗ nào ? Làm văn, khi nào nên dùng chữ những ? Khi nào nên dùng chữ các ?”
Ông ấy trả lời : “Đại để hai chữ cũng giống nhau, khi nào nói các nghe xuôi thì nói các, khi nào nói những nghe xuôi thì nói những”.
Số là ông nầy mới vừa diễn thuyết ở hội quán kia. Bấy giờ như là có trời mở trí cho, tôi hỏi tiếp ông ta một câu rằng : “Sao bữa trước, khi ông diễn thuyết, ông nói : Thưa các ngài” mà không nói “Thưa những ngài”?
Ông ta đáp : Ấy, tôi đã nói : Khi nào nói các nghe xuôi thì nói các. Nói “Thưa các ngài”, nghe xuôi hơn, thì nói “Thưa các ngài” chớ sao ?
Tuy ông nói vậy chớ hình như câu hỏi của tôi cũng đã đánh thức cho ông mạnh lắm. Đã đành rằng nói các nghe xuôi hơn ; song tại làm sao chỗ ấy nói các nghe xuôi hơn, mà còn nói những lại không xuôi ?
Kẻ học đời nay có một cái bí quyết để tìm thấy chơn lý, ấy là bất kỳ gặp sự gì cũng phải hỏi : Tại làm sao ? Nếu cứ hễ nghe các xuôi viết các, nghe những xuôi viết những, thôi thì chẳng còn có thứ ngôn ngữ văn tự nào đặt ra văn pháp làm chi nữa !
Nhờ sự bàn luận tình cờ và nhứt là nhờ ở câu hỏi cuối cùng của tôi đó mà tôi nghiên cứu lần lần, tìm ra được những nguyên tắc của cách đặt quán từ. Những nguyên tắc ấy, tìm được rồi, khi tôi viết văn, chỗ nào nên dùng chữ các, chỗ nào nên dùng chữ những, tôi thấy là nhứt định, không còn lộn xộn như trước nữa.
Tôi làm sự nghiên cứu ấy theo phương pháp quy nạp. Bắt đầu hết, nhơn hai cái danh từ “các ngài” và “những ngài” đó, tôi hiểu rằng hễ khi nào có một số nhiều nhứt định (déterminé) ở trước mặt mình, như một bọn thính giả ở trước mặt người diễn thuyết, thì phải dùng chữ các, không được dùng chữ những. Rồi tôi lập ra một cái giả thuyết như vầy : Chữ các, dùng để trên một danh từ nào số nhiều mà nhứt định, hoặc đếm được, hoặc không đếm được nhưng thấy được hay là trong ý mình chỉ ra được. Còn chữ những, dùng để trên danh từ nào số nhiều mà không nhứt định, không đếm được, không thấy được, không chỉ ra được.
Lập xong cái giả thuyết ấy, tôi bèn chú ý đến trong khi đọc các sách quốc ngữ đúng đắn, coi thử những chỗ dùng chữ các và chữ những có hiệp với cái giả thuyết ấy chăng. Tôi thấy hiệp lắm ; duy có tác giả nào không hiểu luật tự nhiên, không nhận thấy sự “nghe xuôi” mà nhà làm văn nọ nói trên đó, thì mới dùng sai mà thôi. Tôi thấy trong một cuốn sách kia có chỗ dùng cả chữ những và chữ các trên một danh từ (như nói những các người v.v.), thì tôi cho là vô nghĩa quá.
Trong những sách quốc ngữ xưa, có Truyện Kiều là đúng đắn hơn hết, tôi lấy trong đó mấy cái lệ ra để làm chứng cho cái giả thuyết của tôi :
Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Những điều đó tuy nói trông thấy mà không nhứt định là những điều nào, không đếm được, không chỉ ra cho hết được, cho nên dùng chữ những.
Kiều rằng : “Những đấng tài hoa, Thác là thể phách, còn là tinh anh.
Chữ những đấng đó cũng vậy, không nhứt định là những đấng nào, không đếm được và không chỉ rõ ra được.
Trong Truyện Kiều, khi nào dùng chữ những, cũng có ý như vậy hết ; mà trái lại, khi nào dùng chữ các thì chỉ về số nhiều nhứt định :
Kíp truyền chư tướng hiến phù, Lại đem các tích phạm đồ hậu tra.
Bọn phạm đồ ấy có số nhứt định, tức là bao nhiêu người mà Từ Hải đã sai đi bắt về, cho nên dùng chữ các để chỉ hẳn ra.
Tú Bà với Mã Giám Sanh, Các tên tội ấy đáng tình còn sao ?
Trên câu ấy lại còn câu : “Trước là Bạc Hạnh Bạc Bà, bên là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh”. Vậy thì tóm lại bảy cái tên người ấy là số đếm được, thấy được, nên cũng dùng chữ các.
Nhơn khi do Truyện Kiều mà nghiên cứu chữ các và chữ những đó, thấy nhiều chỗ lại có chữ mấy, tôi cũng chú ý luôn. Đây cử ra hai câu :
Mấy người bạc ác tinh ma, Mình làm mình chịu kêu mà ai thương ?
Mấy người hiếu nghĩa xưa nay. Trời làm chi đến lâu ngày càng thương !
Tôi bèn tự hỏi : Sao trong hai câu nầy ông Nguyễn Du không đặt chữ những hay là chữ các mà lại đặt chữ mấy? Lấy nhiều câu có chữ mấy khác nữa làm chứng cho nhau, tôi mới hiểu rằng khi dùng chữ mấy như vậy là có ý chỉ một phần trong số nhiều, cũng tựa như chữ des (mot partitif) trong tiếng Pháp.
Thật vậy, như hai câu trên đây mà chữ mấy cắt theo nghĩa đó thì mới hiệp với phép luận lý. Bởi vì chẳng phải hết thảy người bạc ác tinh ma đều bị ác báo, mà trong đám đó cũng có kẻ lọt khỏi lưới trời ; chẳng phải hết thảy người hiếu nghĩa đều bị trời hành, mà trong đám đó cũng có kẻ cả đời hưởng được hạnh phước. Người làm văn nên xét đến cái lẽ ấy mà dùng chữ mấy để tỏ ra mình nói có dè dặt (parler avec réservé). Nếu hai câu trên đây mà không dùng chữ mấy, trở dùng chữ những, chữ các hoặc chữ mọi, thì sai với luận lý học nữa.
Đó mới nói về số nhiều của quán từ. Nhơn đã nghiên cứu được ba chữ về số nhiều ấy, tôi cũng nghiên cứu luôn về số một nữa. Rốt lại tôi phác họa ra cái biểu về quán từ và giải thích cách đặt như sau nầy :
{| border="1" cellpadding="0" cellspacing="0" style="border-collapse: collapse" bordercolor="#111111" width="100%" |- | width="20%" rowspan="7" | Quán từ | width="20%" rowspan="4" | Về cách chỉ nghĩa | width="20%" rowspan="2" | số một | width="20%" | Xác chỉ: | width="20%" | Cái |- | width="20%" | Phiếm chỉ: | width="20%" | Một |- | width="20%" rowspan="2" | số nhiều | width="20%" | Xác chỉ: | width="20%" | Các |- | width="20%" | Phiếm chỉ: | width="20%" | Những |- | width="20%" rowspan="3" | Về cách cử loại | width="20%" | số một | width="20%" | Đơn cử: | width="20%" | Mỗi |- | width="20%" rowspan="2" | số nhiều | width="20%" | Toàn cử: | width="20%" | Mọi |- | width="20%" | Thiên cử: | width="20%" | Mỗi |}
Độc giả xem cái biểu in bên đây, thấy quán từ chia ra hai hạng : một hạng dùng về cách chỉ nghĩa ; một hạng dùng về cách cử loại.
Quán từ chỉ nghĩa dùng đặt trên danh từ, để tỏ ra danh từ ấy là xác định hay không xác định, thuộc về bên phẩm (qualité) của danh từ. Còn quán từ cử loại dùng đặt trên danh từ để tỏ ra bao gồm nó nhiều hay ít, thuộc về bên lượng (quantité) của danh từ.
Mỗi một hạng lại chia ra số một và số nhiều. Về cách chỉ nghĩa thì số nào cũng vậy, hễ quán từ nào chỉ ra một danh từ là xác định thì kêu là xác chỉ ; còn không xác định thì kêu là phiếm chỉ.
Về cách cử loại thì bên số một chỉ có một cách đơn cử mà thôi ; bên số nhiều cũng chia làm hai : bao gồm hết cái lượng của danh từ thì kêu là toàn cử ; một phần mà thôi thì kêu là thiên cử.
Như vậy, khi nào dùng một danh từ mà có ý xác định, nghĩa là mình muốn chỉ rõ ra : nó ở đâu, thấy khi nào, của ai… thì trên danh từ ấy phải đặt chữ cái. Như : cái đồng hồ ở trên chợ Bến Thành; cái người tôi gặp hôm qua; cái tư tưởng của Tôn Văn… (trừ ra trên danh từ về động vật thì đặt chữ con).
Vậy chữ cái là quán từ chỉ nghĩa, số một, dùng để xác chỉ.
Còn khi nào dùng một danh từ mà có ý không xác định, nghĩa là không chỉ rõ nó ở đâu, khi nào, của ai… thì trên danh từ ấy phải đặt chữ một. Như một ngày kia, một người nhà quê nọ… (Phải hiểu rằng chữ một nầy không phải thuộc về số mục, song chẳng qua là để chỉ nghĩa không xác định. Nói một người, một ngày, thế là có ý nói một người một ngày nào đó cũng được, không nhứt định người nào ngày nào).
Vậy chữ một là quán từ chỉ nghĩa, số một, dùng để phiếm chỉ.
Về số nhiều của quán từ chỉ nghĩa là chữ các chữ những, đã cắt nghĩa rất rõ trên kia rồi, đây chỉ nói tóm tắt rằng :
Chữ các là quán từ chỉ nghĩa, số nhiều, dùng để xác chỉ.
Chữ những là quán từ chỉ nghĩa, số nhiều, dùng để phiếm chỉ.
Trên đó đã giải thích xong các quán từ chỉ nghĩa ; đây sấp xuống giải thích các quán từ cử loại.
Khi nào cử ra một đơn vị (unité) thì dùng chữ mỗi, như nói : mỗi người, mỗi nhà…
Cũng có khi chữ mỗi đặt trên một số nhiều được, như nói : chia ba cái bánh cho chín người, mỗi ba người được một cái bánh. Nhưng trong khi ấy thì ba người cũng đã hiệp lại thành ra một đơn vị.
Vậy chữ mỗi là quán từ cử loại, số một, dùng để đơn cử.
Khi nào cử ra một danh từ mà ý mình muốn nói bao gồm hết cả cái lượng của danh từ ấy thì dùng chữ mọi. Như mọi người, ấy là gồm hết cả người trong loài người ; mọi sự vật, ấy là gồm hết cả sự vật trên thế giới. Như vậy là toàn cử. (Có khi trên hoặc dưới danh từ có chữ gì ngăn ra, làm cho cái phạm vi hẹp lại thì chữ mọi cũng theo mà hẹp lại. Như nói : mọi người trong nhà ấy, thì chỉ là kể nội bao nhiêu người trong nhà đó mà thôi, song cũng là toàn cử, vì không bỏ sót người nào trong nhà ấy hết).
Vậy chữ mọi là quán từ cử loại, số nhiều, dùng để toàn cử.
Chữ mấy, đã giải rõ trên kia rồi, đây nói tóm lại rằng : Chữ mấy là quán từ cử loại, số nhiều, dùng để thiên cử. (Thiên đối với toàn : toàn nghĩa là hết cả ; thiên chỉ là một phần).
Theo ý tôi, theo cái kết quả sự nghiên cứu của tôi, cái nguyên tắc của các quán từ trong tiếng ta là như vậy. Nếu nói là phải thì mấy câu dưới nầy là trái.
Mới rồi trong tờ báo kia tiêu đề rằng : “Một cái nạn xe hơi rất ghê gớm xảy ra ở Chớ Lớn chiều hôm qua”. Cái nạn xe hơi ấy đã chỉ rõ ra chỗ và thì giờ xảy ra rồi, thì sao còn dùng chữ một làm chi ? còn nếu dùng chữ một thì phải bỏ từ chữ xảy ra trở xuống.
Sắp con nít bán báo, đón những người làm việc ở trong một sở kia đi ra mà nói rằng : “Phụ nữ Tân văn, mấy thầy!” Thế là sai, phải nói các thầy mới đúng. (Tôi vẫn biết ở đây người ta kiêng chữ các thầy, vì nói lái lại, là cầy thác !)
=
Đợi (hay là đại) danh từ (pronom) dùng để thay cho danh từ (nom). Trong ngôn ngữ văn tự nào cũng vậy, nếu chuyên dùng danh từ mà lặp đi lặp lại hoài là bất tiện, cho nên cần phải có đợi danh từ. Mà cho tiện hơn nữa, thì đợi danh từ phải được nhứt trí, phổ thông, nghĩa là như tiếng Pháp, ba ngôi bên số một là je, tu, il; bên số nhiều là nous, vous, ils, ai dùng mà xưng mình, xưng người đều được cả, không có những cách đặc biệt khác.