Ối tình ôi

Part 2

Chapter 24,484 wordsPublic domain (Wikisource)

Cái nhà và những người đọc sách dần dần mất đi, tôi xem thấy người đánh cá trong sóng cồn, người lính đánh trận trong hầm núp, người sang trọng trong xe hơi, tay buôn bán đầu cơ trên dương trường [ 7 ] , đấng hào kiệt giữa rừng sâu núi thẳm, vị giáo sư trên giảng đàn, kẻ đi vận động ban tối và thằng ăn trộm đêm khuya... Tử Quân - không có ở đây. Cái dũng khí của nàng đã mất hết, chỉ cứ vì con Tùy mà buồn bực, vì nấu cơm mà đờ người ra, nhưng mà lạ một điều là lại không gầy ốm chi cả...

Trời lạnh, mấy cục than đá tồi trong lò sưởi cuối cùng cũng cháy hết, đã là lúc đóng cửa thư viện rồi. Bây giờ lại phải về đường hẻm Cát Triệu, chịu đựng lấy cái bộ mặt giá lạnh rồi đây. Mấy lâu nay thỉnh thoảng cũng có chộ cái dáng điệu đằm ấm, song như thế lại làm cho tôi thêm đau khổ. Nhớ có một đêm, từ cặp mắt Tử Quân bỗng phát ra cái tia sáng ngây thơ mà lâu nay không thấy, nàng cười và nhắc lại với tôi cái tình hình khi còn ở trong hội quán, chốc chốc lại lộ cái vẻ hơi sợ hãi. Tôi biết rằng tôi gần nay còn lạnh lùng quá nàng nữa, đã làm cho nàng đâm lo ngại, nên chi cũng gắng gượng nói cười, muốn cho nàng khuây khỏa một vài. Nhưng mà nụ cười tôi vừa nở trên môi, lời nói tôi vừa ra khỏi miệng, tức thì lại biến thành trống hổng, cái trống hổng lại tức thì biến thành tiếng dội, dội vào tai mắt tôi, ban cho tôi một sự nhạo ngầm cay độc khó chịu.

Tử Quân hình như cũng biết được, từ đó mất hẳn cái dáng đằm lặng như tê dại trước kia thường có, mặc dầu hết sức che đậy, chốc chốc cái nét mặt lo ngại cũng vẫn cứ lộ ra, nhưng đối với tôi thì lại ôn hòa hơn nhiều.

Tôi muốn nói rõ cho nàng biết, song còn chưa dám, khi quyết ý muốn nói ra, trông thấy cặp mắt như trẻ con của nàng, liền phải gắng gượng làm bộ vui vẻ. Song cái bộ vui vẻ ấy lại tức thì hóa ra nhạo ngầm tôi, vả còn làm cho tôi mất hẳn cái dáng đằm lặng lạnh lùng.

*

Từ đó nàng lại bắt đầu ôn lại việc cũ và mở cuộc thử thách mới, bắt buộc tôi phải bịa ra bao nhiêu câu trả lời đậm đà mà giả dối, cái đậm đà đem tỏ cho nàng, còn cái bản thảo giả dối thì chép ngay ở trong lòng tôi. Lòng tôi dần dần bị những bản thảo ấy lấp đầy, luôn luôn thấy khó thở. Trong cơn khổ não tôi thường hay nghĩ thấy, nói sự thực, tự nhiên cần phải có cái dũng khí rất lớn ; ví thử không có cái dũng khí ấy, mà cứ chịu giả dối cho qua ngày, thì người ấy là người không có thể mở một con đường sống mới. Chẳng những chẳng có việc ấy, mà cả đến con người ấy cũng chưa hề có!

Tử Quân có vẻ oán hận, ở một buổi sáng sớm, buổi sáng sớm rất lạnh, đó là điều chưa từng thấy qua, song cũng có lẽ là cái vẻ oán hận mà tự tôi nhìn thấy. Lúc bấy giờ tôi giận mát và cười thầm: cái tư tưởng rèn luyện và cái ngôn luận khoáng đạt bất chấp tất cả của nàng, rốt cuộc cũng hoàn là trống hổng, mà đối với cái trống hổng ấy nàng lại không tự biết. Lâu nay bất cứ sách gì nàng cũng không đọc, không biết cái điều thứ nhất của đời sống người ta là phải tìm cách sống, mà muốn nhằm tới con đường tìm cách sống ấy thì cần phải nắm tay cùng đi, hay là một mình sấn bước, nếu chỉ biết níu lấy chéo áo của một người nào, thì dầu cho người ấy là chiến sĩ cũng khó mà chiến đấu, rốt lại cả hai phải cùng chết mất mà thôi.

Tôi thấy rằng cái hy vọng mới chỉ ở sự chúng tôi lìa nhau ra ; nàng phải quả quyết dứt bỏ, tôi cũng vụt nghĩ đến cái chết của nàng, song le tức khắc trách mình, ăn năn ngay. May mà là buổi sáng sớm, thời giờ còn dài, tôi có thể nói hết sự thực của tôi. Mở con đường mới cho chúng tôi, là ở một lần này.

Tôi cùng nàng gẫu chuyện, cố ý gợi ra việc cũ của chúng tôi, giở đến văn nghệ, thế rồi đụng đến nhà văn ngoại quốc, tác phẩm của nhà văn: Nara, người đàn bà của biển [ 8 ] . Khen ngợi cái quả quyết của Nara... Cũng vẫn là những câu chuyện đã nói trong căn nhà nát của hội quán, có điều hiện giờ đã biến thành trống hổng, từ mồm tôi truyền vào trong tai tôi, mỗi lúc ngờ rằng có một đứa bé tinh nghịch tàng hình, ở đằng sau lưng nhại theo một cách ranh mãnh và cay độc.

Nàng vẫn cứ gật đầu chịu lắng nghe, sau rồi lặng thinh. Tôi cũng chắp nối nói xong câu chuyện của tôi, cả đến những tiếng rớt lại đều tiêu mất đi trong quãng trống.

"Phải đấy". Nàng lại lặng thinh một hồi rồi mới nói: "Nhưng mà... Quyên sinh, tôi thấy anh mấy lâu nay thay đổi nhiều. Có phải thế không? Anh, - anh bảo thật tôi đi".

Tôi thấy như đó là một vố đánh vào tôi, song cũng liền tỉnh táo, nói rõ ý kiến và chủ trương của tôi ; về sự mở đường mới, gây dựng lại sự sống mới, có thế thì mới khỏi cả hai cùng chết mất.

Gần rốt, tôi lấy lòng quả quyết mười phần, nói thêm mấy lời này:

"... Huống chi em đã có thể không cần lo về sau, cứ hăm hở đi tới. Em muốn tôi nói thật ; phải đấy, người ta không nên giả dối. Thì tôi nói thật đây: bởi vì, bởi vì tôi đã không yêu em nữa rồi! Nhưng như thế là tốt cho em lắm, bởi vì em càng có thể làm việc mà không bận lòng gì cả...".

Cùng một lúc ấy, tôi chắc mẩm rằng có biến cố gì lớn sẽ đến, nhưng mà không, chỉ có im lặng. Nét mặt nàng vụt đổi ra vàng xám, gần như chết ; trong nháy mắt lại sống lại, đôi mắt nẩy ra tia sáng nhấp nhoáng và ngây thơ. Tia sáng đó dọi ra bốn bề, giống như đứa trẻ đang đói khát tìm mẹ lành, song chỉ tìm trong quãng không, sợ sệt tránh tầm mắt của tôi.

Tôi không thể thấy thế nữa, may mà là lúc sáng sớm, tôi xông pha gió lạnh chạy đến Thư viện Thông tục.

Ở đó thấy tờ báo Bạn của tự do, hai bài văn ngắn của tôi đã đăng rồi. Điều đó làm tôi giật mình, hình như được một chút hơi sống. Tôi nghĩ, con đường sống vẫn còn rất nhiều - có điều hiện nay như thế này cũng còn là chẳng ăn thua vào đâu.

*

Tôi bắt đầu đi thăm những người quen mà lâu nay không tới lui nhau, song cũng chỉ có một vài lần ; nhà của họ tự nhiên là ấm cúng, trong xương tủy tôi lại thấy lạnh buốt. Đến đêm, bèn nằm co trong cái nhà lạnh so với giá còn lạnh hơn.

Giá lạnh như kim chích vào linh hồn tôi, khiến tôi mãi chịu khổ với cái đau đớn tê dại. Con đường sống còn rất nhiều, tôi cũng còn chưa quên đập cánh, tôi nghĩ thế. - Tôi vụt nghĩ đến cái chết của nàng, song le tức khắc trách mình, ăn năn ngay.

Trong Thư viện Thông tục thường thường nhác thấy một tia nhoáng sáng, con đường sống nằm ngang trước mặt. Nàng đã mạnh mẽ giác ngộ rồi, quả quyết đi ra khỏi cái nhà giá lạnh ấy, vả lại, không có vẻ oán hận chút nào. Tôi bèn nhẹ như mây bay, trôi nổi giữa quãng không, trên có trời xanh, dưới là núi sâu biển lớn, nhà rộng lầu cao, chiến trường, xe hơi, dương trường, công quán, giữa thành thị ồn ào nắng ráo, trong đêm tối tăm...

Vả lại, thật đấy, tôi cảm thấy cái quang cảnh mới ấy sẽ đến ngay.

*

Như thế, chúng tôi cũng kể được là đã qua khỏi mùa đông khó chịu ; mùa đông của Bắc Kinh ; khác nào con chuồn chuồn rơi trong tay đứa bé nghịch ngợm, bị buộc bằng sợi chỉ nhỏ, mặc tình đùa bỡn, hành hạ, tuy may mà khỏi chết, chứ rốt cuộc vẫn phải nằm trên đất, chỉ một sớm một chầy.

Viết cho ông chủ bút báo Bạn của tự do kể có ba bức thư, mới được trả lời, trong phong thư trả lời chỉ có hai cái vé mua sách, một cái hai hào và một cái ba hào [ 9 ] . Thế mà tôi lại cứ viết thư giục, tốn hết chín xu tem cả thảy, chịu đói một ngày, để ném qua cửa sổ mà chẳng được gì cho mình.

Nhưng mà cái việc đồ rằng sẽ đến, thì nó đã đến.

*

Đây là việc xảy ra giữa khoảng đông và xuân. Bấy giờ gió không còn lạnh lắm, tôi cũng bê tha ở ngoài lâu hơn, mỗi khi về nhà, trời đã tối sẫm. ở một đêm tối sẫm ấy, tôi cứ thường lệ uể oải đi về, về đến cổng, lại cứ thường lệ càng thêm xuôi lơ, bước đi càng chậm. Song cuối cùng vào đến nhà mình, không có đèn lửa, mò được bao diêm đánh lên, thì là cái quạnh hiu trống hổng lạ thường!

Trong cơn sửng sốt, bà quan đến ngoài cửa sổ gọi tôi ra.

"Hôm nay người cha của Tử Quân đến đây, dẫn nàng về rồi". Bà ta nói vẻn vẹn có thế.

Đó hình như là việc bất ngờ, tôi khác nào bị đánh một vố đằng sau gáy, đứng im không nói chi.

"Nàng đi rồi sao?". Được một lát, tôi chỉ hỏi một câu như thế.

"Nàng đi rồi".

"Nàng ; - nàng có nói gì không?".

"Không nói gì cả. Chỉ dặn tôi hễ thấy ông về thì bảo cho ông biết nàng đi rồi".

Tôi không tin, có điều trong nhà quạnh hiu trống hổng khác thường. Tôi lục lọi các chỗ, tìm Tử Quân ; chỉ thấy mấy cái đồ đạc cũ nát mà bơ thờ, đều rõ ra mồn một, đủ biết chúng nó không có sức che giấu một người nào hay một vật nào. Tôi xoay nghĩ đi tìm bức thư hoặc dấu chữ của nàng để lại, cũng không có ; chỉ có muối và ớt khô, bột mì, nửa bắp cải, để dồn lại một chỗ, bên cạnh còn có mấy chục đồng xu. Đó là toàn bộ vật liệu nuôi sống hai người chúng tôi, nay nàng trịnh trọng để lại cho một người là tôi, không nói cũng biết là bảo tôi nhờ đó mà cầm giữ sự sống cho được lâu dài hơn.

Tôi như bị chung quanh chèn ép, chạy ra giữa sân, chung quanh tôi lại tối đen ; cửa sổ giấy của nhà giữa dọi ra ánh đèn, bọn họ đang đùa cười với đứa bé. Lòng tôi cũng chìm lặng xuống, thấy trong cái đè ép nặng nề, dần dần thoáng hiện ra con đường chạy thoát: núi sâu chằm lớn, dương trường, bữa tiệc linh đình dưới đèn điện, hầm hố, đêm khuya tối thui tối thủi, một mũi dao đánh phặp, bàn chân bước không có tiếng tăm...

Cõi lòng có hơi nhẹ nhõm, cởi mở, nghĩ đến món tiền đi đường, nhân thể thở một hơi ra.

*

Nằm xuống. Những bước tương lai tưởng tượng trước khi nhắm mắt, chưa tới nửa đêm đã hiện ra tất cả. Trong tối bỗng mường tượng thấy một đống thức ăn, sau đó, cái mặt vàng xám của Tử Quân liền nổi bật lên, trợn cặp mắt thơ ngây, nhìn tôi như tuồng van khấn. Định thần lại, không có gì cả.

Nhưng lòng tôi lại thấy nặng nề. Tại sao tôi không rán chịu mấy ngày, mà lại vội vàng lấy lời thật bảo cho nàng? Hiện giờ nàng biết rằng từ nay về sau, cái mà nàng có được chỉ là cái oai nghiêm như mặt trời gắt của người cha - tức là chủ nợ của con cái - và những cặp mắt lạnh lùng của bà con làng xóm. Ngoài ra bèn là trống hổng. Mang cái gánh nặng trống hổng ấy, ở dưới cái oai nghiêm và mắt lạnh lùng, đi con đường gọi là con đường sống, đó là việc đáng ái ngại dường nào! Huống chi cuối cùng con đường ấy, lại chẳng qua là - cái mồ mà cả đến bia mồ cũng không có.

Tôi không nên đem lời thật nói với Tử Quân, chúng tôi đã yêu nhau, tôi nên mãi mãi dâng cho nàng cái nói dối của tôi. Nếu cái chân thật quả là báu quý, thì ở Tử Quân đã chẳng là một cái trống hổng nặng nề. Nói dối vẫn là một thứ trống hổng, nhưng đến cuối cùng, quá lắm cũng chỉ nặng nề đến thế.

Tôi tưởng rằng đem sự thực nói với Tử Quân, nàng có thể không lo ngại gì cả, kiên quyết mạnh dạn đi tới, cũng như khi chúng tôi sắp sửa ở chung. Song đó có lẽ là tôi lầm. Khi bấy giờ nàng dũng cảm và bất chấp tất cả là vì tình yêu.

Tôi không có cái dũng khí mang lấy gánh nặng trống hổng, mà lại cởi cái gánh nặng chân thật phó cho nàng. Sau khi nàng yêu tôi, thì phải mang lấy cái gánh nặng ấy, ở dưới oai nghiêm và mắt lạnh lùng, đi con đường gọi là con đường sống.

Tôi nghĩ đến cái chết của nàng... Tôi thấy tôi là một kẻ khiếp nhược, đáng bị bẩy ra ngoài những người mạnh mẽ có sức, không cứ là người chân thật hay người giả dối. Nhưng mà nàng thì lại từ trước đến sau, vẫn trông mong cho tôi cầm giữ sự sống lâu dài hơn...

*

Tôi phải rời bỏ đường hẻm Cát Triệu, ở đó trống hổng và quạnh hiu lạ thường. Tôi nghĩ, chỉ có rời bỏ chỗ này, thì Tử Quân như còn ở bên mình tôi ; ít nhất là cũng như còn ở trong thành, rồi một ngày kia, sẽ bất thình lình tới thăm tôi, giống như hồi ở trong hội quán.

Nhưng mà, hết thảy mọi sự nhờ cậy và gửi thư, đều không có hiệu quả gì cả, tôi cực chẳng đã phải đi đến một người quen vai trên mà lâu nay không hề tới thăm. Người này là bạn học hồi nhỏ với bác tôi, một vị bạt cống [ 10 ] có tiếng đứng đắn ở Bắc Kinh đã lâu, giao du cũng rộng rãi.

Chừng cũng vì áo quần lùi xùi, vừa tới cổng đã bị người gác cổng nhìn bằng nửa mắt. Khó khăn lắm mới giáp mặt được, ông ấy vẫn nhận ra tôi, có điều lạnh lạt lắm. Việc vừa qua của chúng tôi, ông ta đều rõ cả.

"Hẳn thế, anh cũng chẳng ở đây được nữa đâu". Sau khi nghe tôi nói nhờ ông tìm việc cho ở nơi khác, ông lạnh lùng bảo thế, và tiếp: "Có điều đi đâu bây giờ? Rất khó. - à gì đây, gì của anh đây, à, bạn của anh là Tử Quân, anh có biết chứ, nàng đã chết rồi".

Tôi sửng sốt không nói gì.

"Thật đấy chứ?". Rốt lại tôi buột mồm hỏi.

"Ha ha, còn gì nữa mà không thật. Vương Thăng người nhà tôi ở cùng làng với nàng".

"Nhưng mà, - chết thế nào mới được chứ?".

"Còn ai biết thế nào. Tóm lại, chết rồi là chết rồi".

Tôi đã quên khuấy lúc đó từ giã ông ta bằng cách nào rồi đi về nhà trọ mình. Tôi biết ông ta là người không nói dối ; thế nào Tử Quân cũng không lại đến nữa như thể năm ngoái. Nàng tuy muốn ở dưới cái oai nghiêm và con mắt lạnh lùng, mang cái gánh nặng trống hổng để mà đi con đường gọi là con đường sống, cũng đã không có thể được rồi. Số mạng của nàng đã quyết định cho nàng phải chết mất trong cái chân thật tôi bảo cho nàng, cái chân thật ấy là giữa người ta với người ta không có tình yêu.

Hẳn thế, tôi không thể ở đây được nữa rồi. Nhưng mà, "đi đâu bây giờ?".

Chung quanh là cái trống hổng mênh mông, còn có cái chết hiu quạnh. Tôi mường tượng thấy được mồn một cái bóng tối của cái chết ở trước mắt đám người không có tình yêu, lại còn nghe được hết thảy những tiếng quằn quại đau khổ và tuyệt vọng.

Tôi còn cứ mong đợi cái gì mới sẽ đến, là cái không gọi tên được và bất ngờ. Song hết ngày nọ đến ngày khác, chỉ là cái chết hiu quạnh.

Tôi đã không ra khỏi cửa như trước nữa, chỉ ngồi nằm trong cái trống hổng mênh mông, mặc cho cái chết hiu quạnh nó đục mòn linh hồn tôi. Chính mình cái chết hiu quạnh có lúc cũng run rẩy, ẩn núp, thế rồi trong dịp đứt nối ấy, chợt thấy có sự mong đợi mới, không gọi tên được và bất ngờ.

Một hôm, vào buổi sáng oi ả, mặt trời không chen ra được khỏi đám mây, cả đến không khí đều mệt mỏi. Tai nghe tiếng bước tủn mủn và hơi thở lỗ mũi hừ hừ, làm tôi mở bừng mắt. Xem qua một cái, trong nhà vẫn trống hổng ; song tình cờ nhìn trên đất, thấy đang quanh quẩn một con vật nhỏ, gầy yếu, giở chết, tro bụi đầy mình...

Tôi xem kỹ, quả tim tôi bỗng ngừng lại, kế đó lại nhảy mạnh lên.

Đó là con Tùy, nó lại trở về rồi.

*

Tôi đi khỏi đường hẻm Cát Triệu, cũng chẳng phải chỉ vì sự khinh miệt của chủ nhà và đứa ở gái họ, song phần lớn là vì con Tùy. Nhưng mà, "đi đâu bây giờ?". Con đường sống mới tự nhiên còn rất nhiều, tôi có biết sơ qua, hoặc cũng mập mờ trông thấy, thấy như ở trước mặt tôi, nhưng bằng cách nào ở bước thứ nhất để đi đến đó thì tôi không biết.

Trải qua nhiều phen nghĩ ngợi và đo đắn, thấy cũng chỉ còn có hội quán, là chỗ có thể dung thân được. Vẫn y nguyên cái nhà nát thế ấy, cái giường ván thế ấy, cây hòe khô nửa thân và dây đằng tía thế ấy, có điều sự sống làm cho tôi trông mong, vui sướng, yêu đường lúc bấy giờ, thì lại đã đi mất hết thảy, chỉ còn có một cái trống hổng, cái trống hổng tôi đã dùng sự chân thật mà đổi lấy.

Con đường sống mới còn rất nhiều, tôi cần phải tiến lên, bởi vì tôi còn đang sống. Song tôi vẫn không biết bước thứ nhất tiến lên bằng cách nào. Có lúc, hình như thấy con đường sống ấy giống một con rắn dài mà trắng xám, nó uốn lượn bò đến tôi, tôi chờ đợi lại chờ đợi, song xem chừng gần đến, bỗng lại tiêu mất trong bóng tối.

Cái đêm đầu xuân vẫn còn dài thế này. Trong khi ngồi thừ người đã lâu, nhớ đến đám ma thấy ở đầu đường phố buổi sáng, đằng trước là người giấy ngựa giấy, đằng sau là tiếng khóc giống như hát. Tôi bây giờ đã biết cái thông minh của bọn họ rồi, đó là việc nhẹ nhõm và dứt khoát biết bao.

Nhưng mà đám ma của Tử Quân lại ở trước mắt tôi, ấy là một mình mang lấy cái gánh nặng trống hổng, tiến lên trên con đường dài trắng xám, mà lại lập tức tiêu mất dưới cái oai nghiêm và con mắt lạnh lùng ở chung quanh.

Tôi muốn thật có cái gọi là hồn ma, thật có cái gọi là địa ngục, vậy thì, dầu cho ở trong gió dữ gầm thét, tôi cũng sẽ tìm kiếm Tử Quân, trước mặt nàng thốt ra cái điều ăn năn và đau xót của tôi, xin nàng tha thứ ; nếu không thì, lửa độc của địa ngục sẽ bao vây tôi, bừng bừng đốt cháy hết cái điều ăn năn và đau xót của tôi.

Tôi sẽ ở trong gió dữ và lửa độc ôm lấy Tử Quân, xin nàng khoan dung cho, hoặc làm cho nàng khoái ý...

*

Song le, thế lại càng trống hổng hơn con đường sống mới. Hiện giờ cái đang có chỉ là đêm đầu xuân, mà nó còn dài thế này. Tôi đang sống, thế nào tôi cũng phải nhằm con đường sống mới tiến lên, cái bước thứ nhất, lại chẳng qua là viết ra cái điều ăn năn và đau xót của tôi, vì Tử Quân, vì chính mình tôi.

Tôi vẫn cứ chỉ có tiếng khóc như hát, để đưa đám chôn Tử Quân, chôn trong sự quên khuấy.

Mà tôi phải quên ; tôi vì chính mình tôi, vả lại không nên nghĩ đến sự dùng cái quên để chôn Tử Quân ấy nữa.

Tôi phải nhằm con đường sống mới tiến lên bước thứ nhất, tôi phải đem sự chân thật giấu kín vào trong vết thương lòng, lẳng lặng đi tới, dùng quên khuấy và nói dối làm kẻ dẫn đường cho tôi...

Viết xong ngày 21 tháng 10 năm 1925

(Dịch ở Bàng hoàng)

   

Chú thích

- ▲ Theo nguyên văn, cái đầu đề này là Thương thệ. Thương thệ nghĩa là cảm thương người đã qua đời. Không thể dịch nghĩa đen như thế được, nên đổi là ối tình ôi.

Ở Trung Quốc, sau vận động Ngũ Tứ, thanh niên nam nữ thoát khỏi vòng lễ giáo trói buộc, xướng lên những cái thuyết "ái tình vô thượng", "luyến ái tự do", "kết hôn tự do", và nhiều đám đã đem mấy khẩu hiệu ấy ra thực hành. Họ yêu nhau rồi thuê nhà ở chung (chú ý: trong truyện ngắn này có mấy lần dùng hai chữ "ở chung"), làm vợ chồng với nhau, không đợi có lời cha mẹ, không cần mai mối. Nhưng lúc bấy giờ sự sống khó khăn, lập được gia đình không phải là việc dễ, có những cặp cuối cùng phải tan rã. Lỗ Tấn viết truyện ngắn này tỏ ý phản đối thứ ái tình mù quáng ấy. Như thế, đổi đầu đề là ối tình ôi tưởng cũng sát nghĩa lẫn ý. Ba chữ này lấy ở câu thơ Khóc Bằng phi của vua Tự Đức : ối tình ôi nghĩa ối duyên ôi!

- ▲ Hội quán : ở Bắc Kinh, những tỉnh hay phủ trong toàn quốc có dựng nhà riêng để cho người của tỉnh hay phủ mình hội họp hoặc ở trọ, nhà ấy gọi là Hội quán. Như Lỗ Tấn là người phủ Thiệu Hưng, khi ông ở Bắc Kinh, có một dạo trọ trong Hội quán Thiệu Hưng.

- ▲ Hoa đằng tía : một thứ thực vật, thân cây mà bè giàn, gọi là tử đằng, hoa màu tím, cũng có màu trắng, không biết dịch là gì, cứ để nguyên văn là "đằng".

- ▲ Ípsen : H.Ibsen (1828 - 1906) người Na Uy, nhà viết kịch nổi tiếng. Tagore : R.Tagore (1861 - 1941), nhà thơ và nhà triết học Ấn Độ. Silây : P.B.Shelley (1792 - 1822), nhà thơ nước Anh.

- ▲ Song thập : Ngày mồng 10 tháng 10, ngày lễ quốc khánh của Trung Hoa dân quốc, để kỷ niệm cách mạng Tân Hợi.

- ▲ Huýt-lây : T.H.Huxley (1825 - 1895), nhà sinh vật học nước Anh, và là người tuyên truyền chủ nghĩa Đácvắn, "Vị trí loài người ở trong vũ trụ", là tên một tác phẩm nổi tiếng của ông.

- ▲ Dương trường : ở Trung Quốc trước kia, những nơi có đông người ngoại quốc ở, việc buôn bán phát đạt, nhân tình phong tục có khác với nội địa, như Thượng Hải, gọi là "dương trường". Chữ này không thể dịch, nên để nguyên văn.

- ▲ Nara, Người đàn bà của biển, là hai vở kịch về vấn đề phụ nữ, nổi tiếng khắp thế giới, của Ípsen đã nói ở trên. Vở Nara, đại ý nói nàng Nara ban đầu rất thỏa mãn với cảnh gia đình chồng con của mình, cho là rất có hạnh phúc ; nhưng sau rồi giác ngộ ra, thấy mình chỉ làm búp bê của chồng, các con chỉ làm búp bê của mình, bèn bỏ nhà ra đi. Vở kịch đến chỗ này chỉ nghe tiếng đóng cửa, rồi thì hạ màn. Do đó, vở Nara còn có một tên nữa là Gia đình búp bê. - Vở Người đàn bà của biển, đại ý nói người đàn bà ấy có chồng, nhưng mà từ trước đã có một người yêu ở bên kia biển, một ngày kia, thình lình tìm đến, rủ nàng cùng đi. Người đàn bà bèn bảo với chồng, muốn cùng người yêu kia gặp mặt. Người chồng hỏi: "Bây giờ tôi cho mình tự do hoàn toàn, đi hay không đi tùy ý, và phải chịu lấy trách nhiệm". Thế rồi người đàn bà không đi nữa.

- ▲ Vé mua sách : để tưởng thưởng cho độc giả hoặc người lai cảo, các nhà báo Trung Quốc trước kia có dùng một thứ vé gọi là "vé mua sách". Người nào nhận được vé ấy thì cầm đến hiệu bán sách đã chỉ định, theo giá tiền trong vé muốn mua sách gì thì mua. Hai hào, ba hào là thứ vé hạng bét.

- ▲ Bạt cống : Theo chế độ khoa cử triều Thanh, cứ sáu năm (sau đổi mười năm) thì chọn tú tài các tỉnh, những người nào "văn hạnh kiêm ưu" đưa về kinh sư dự thi, gọi là "bạt cống". "Cống" đây tức là "cống sinh". Ở nước ta, về triều Lê, cũng có cống sinh. Như Nguyễn Hữu Chỉnh đậu cống sinh, cho nên gọi "Cống Chỉnh". Lại người ta cũng có nói "ông nghè ông cống".

Chua thêm: ở trang 158, câu "Chẳng những chẳng có việc ấy, mà cả đến con người ấy cũng không có nữa", nguyên văn là: "Bất độc bất thị giá cá, liên giá nhân dã vị thường hữu", không thể hiểu nghĩa được, không biết nên dịch thế nào. Dịch như câu đã dịch đó thì có nghĩa, nhưng không đúng nguyên văn, thành ra nguyên văn là: "Bất độc thị giá cá, liên giá nhân dã vị thường hữu", bỏ mất một chữ "bất". Chỗ nầy, tôi đã suy nghĩ nhiều lắm, rốt cuộc phải chịu làm như thế, không có cách khác. - P.K.