Độc thư tùy bút

Part 2

Chapter 2600 wordsPublic domain (Wikisource)

Đến như câu ngài nói : “Xảo ngôn, lệnh sắc, tiển hĩ nhân”, ý ngài thật là rõ ràng lắm. Chẳng qua ngài nói rằng : trong những người có lời nói khéo léo, đáng mặt hiền lành, thì ít có kẻ nhân. Trong đám đó, hoặc có kẻ nhân, chửa biết chừng ; nhưng dầu có cũng có ít lắm. Chỗ khác ngài nói : “Cương nghị mộc nột cận nhân”. Mộc nột nghĩa là thật thà chất phác. Bởi những người thật thà chất phác gần với nhân, cho nên trong đám người xảo ngôn lệnh sắc ít kẻ nhân là phải. Bên này ngài nói ít, chớ không phải tuyệt nhiên không có, cũng như bên kia ngài nói gần, chớ không nói mộc nột tức là nhân.

Vậy mà dưới chương đó, Chu tử giải rằng : “chuyên ngôn tiển, tắc tuyệt vô khả tri”, nói nôm là “Tuy ngài chỉ nói ít mà thôi song có thể biết rằng tức là không trơn vậy”. Giải như vậy thì kỳ quái quá ! Sao Khổng Tử chỉ nói ít mà thầy Chu lại nhè bẻ hầu vặn họng ngài, bắt phải nói “không trơn”?

Lời thánh hiền đời xưa nói ra có mực có thước, thấy tới chừng nào thì nói chừng nấy, ấy là cái chỗ ngay thật của thánh hiền, mà Tống nho lại làm cho mất sự ngay thật ấy đi, là nghĩa làm sao ?

Cứ trong một sách Luận ngữ, chỗ nào thấy là ít thì nói tiển hĩ. Như : “Dân tiển năng cữu hĩ” và “Dĩ ước thất chi giả tiển thì”, những chỗ ấy cũng đồng một ý như trong chương nầy, vì ngài thấy là ít thì ngài nói ít.

Cũng theo Luận ngữ, có một chỗ chỉ rõ ra rằng hễ ít thì nói tiển hĩ, còn không trơn thì phải nói “vị chi hữu dã”, nghĩa là chưa hề có. Tức như Hữu Tử nói : “Kỳ vi nhân dã hiếu đễ, nhi hiếu phạm thượng giả tiển hĩ ; bất hiếu phạm thượng nhi hiếu tác loạn giả vị chi hữu dã”. Câu ấy chỉ ra rằng : Trong hạng người hiếu đễ, hoặc giả còn có kẻ ưa phạm thượng chăng, nhưng mà ít lắm ; chớ còn đã chẳng ưa phạm thượng mà lại ưa tác loạn thì hạng người ấy thật là không trơn, chưa hề có bao giờ.

Vậy nếu đức Khổng ngài nghĩ rằng trong hạng người xảo ngôn lệnh sắc, tuyệt nhiên không có kẻ nhân ở trong, thì thế nào ngài cũng phải nói rằng : “Xảo ngôn lệnh sắc nhi nhân giả, vị chi hữu dã” mới phải. Nay ngài đã nói tiển hĩ, mà nhà chú thích lại cắt nghĩa là tuyệt vô, thì thật là ngang quá ghẹ !

Cho nên tôi nói rằng sách Luận ngữ có Chu Hy chương cú đó là Luận ngữ của Tống nho. Nếu theo sách ấy mà tìm đạo Khổng thì e rằng khó mà thấy đạo Khổng chân thật.

PHAN KHÔI

Phổ thông , Hà Nội, số 81 (7.10.1930)

   

Chú thích

- ▲ Vương Phu Chi (1619 - 1692)

- ▲ Trứ thuật  : phải đọc là trứ thuật , không phải “ trước thuật ” (nguyên chú của Phan Khôi)

- ▲ Lịch tự  : chưa rõ nghĩa

- ▲ Bản gốc là “ đại vị ”, ở đây tạm sửa là “ địa vị ”

- ▲ Tên sách đầy đủ : L’ Idéal du sage dans la philosophie confucéenne' ( Lý tưởng hiền nhân trong triết học Khổng giáo , 1928)

- ▲ Nói theo giọng đồng bằng Bắc Bộ là Chiệc

- ▲ Phụ đầu  : bến sông, cảng biển

- ▲ Kinh quá  : đi qua