Nước non nhà

Part 2

Chapter 22,584 wordsPublic domain (Wikisource)

Lúc nọ có hai chiếc tàu binh Pháp đậu tại Vũng Tàu gần bên núi Sơn Chà tức là ở ngay trước mặt Hàn, thì triều đình Huế có sai một đạo binh vào đó đặng phòng ngự. Quan quân tối ngày chỉ ở trên nha hải phòng nghĩa là xa cửa biển gần mười cây số. Nhưng khâm mạng vào đây chẳng lẽ chẳng gởi sớ về tâu cho có chuyện nầy chuyện khác. Tàu giặc kéo tới, tàu giặc kéo lên, mà kỳ thiệt thì năm ba ngày các quan mình mới sai một tốp lính, áo dấu điều nón đỏ đi ra ngoài mé biển phía bên nầy, nhắm chiếc tàu đậu xa tít mù mà bắn lên vài phát súng nạp tiền lấy lệ. ấy vậy mà vua Tự Đức ta ngồi ngoài Huế lại nghĩ ra cách cầm binh gián tiếp. Sắc dạy cho các quan trong nầy biểu mỗi bữa phát mã thượng báo đợi tin truyền vô làm sao rồi mới được phép cầm binh đi đánh. Ngài ngoài nầy cũng ngồi trước bức địa dư, cũng điều binh khiển tướng, nghĩ thầm trong bụng rằng mình ở theo sách: "Vận trù duy ốc chi trung, nhi quyết thắng ư thiên lý chi ngoại". Nhưng nếu như họa có giặc đánh mà phải chờ mã thượng đi tin ra, đem tin vào, ít nữa cả đi vừa về bốn năm ngày mới tới, thì ôi thôi! còn đâu là hải phòng! còn đâu là đạo binh phòng ngự! Huống chi ai có dịp lật bức địa đồ của Hoàng đế đã dùng lúc bấy giờ để cầm binh, thì ai lại chẳng, hỡi ôi, chẳng buồn cười: nơi sông vẽ núi, nơi núi vẽ biển!

Nhưng may là ngài cầm binh buổi ấy thế nào cũng vô hại. Vì mỗi khi binh mình xuống được bãi cát mà bắn bông lông vài ba mươi tiếng, thì dưới hai chiếc tàu kia, họ cũng chỉ xạt một chiếc cù-lạp vào đặng đáp lễ.

Và hễ bao giờ cù-lạp đi đến hơi gần gần, thì binh lính của mình lại kéo nhau mà chạy. Rồi đó mấy chục người mạch lô kia đã lại rủ nhau lên đứng bơ vơ trên bãi cát đất Hàn bắn vài tiếng súng lên trời, rồi trở xuống cù-lạp. Bởi thấy cách họ dễ đuổi, nên các quan ta mới nghĩ ra một cái kế mới: phục binh bắt giặc. Nghĩ rồi treo bảng mộ tinh những người võ sĩ nhứt nhị trường. Người ta cũng mộ gần năm trăm mà hỏi muốn dùng khí giới thức nào, thì đồng thanh chỉ xin mỗi người một sợi giây tre đánh là đủ; nói rằng bao giờ mấy chú mạch lô kia lên bờ, thì mấy ông võ sĩ nầy ở trong bụi tuốt ra đá mỗi thằng một cái bốc mà bắt sống, rồi lấy giây tre trói cổ đem về. … Ai ngờ, chừng lính chạy như mọi bữa thường, võ sĩ mình nhảy ra, thì lại bị đinh giày tây đá vào đau quá và hễ đã xáp lại gần, thì chịu sao cho nổi với lưỡi lê của mấy người lính thuỷ.

Đó là xong một chuyện bắt sống giặc.

Mà hết bắt sống lại còn cái kế đục tàu.

Không biết tại sao mà lúc bấy giờ người An Nam mình có cái chuyện đồn rằng hễ tối rồi, thì người Pháp mỗi người uống mỗi ly thuốc chi đỏ đỏ mà ngủ như chết. Và nếu ngủ như vậy, thì có chi hay bằng cái kế ban đêm sai người lén đến đục tàu. Chuyến nầy các quan lại mộ tù tử tội, nghĩ rằng rủi như cái thứ thuốc đỏ đỏ kia không thật như vậy, thì mấy tên tù nầy cũng chẳng hại gì: trước sau chi cũng chết. Mộ xong, phát cho ba người 4 chiếc xuồng câu cùng các thứ đục. Đêm trường lộp cộp, núp dưới boong tàu, ai lanh thì nhờ đó mà vượt ngục, ai khờ cũng chẳng ích gì; súng "Sentinelle" trên tàu bắn xuống cũng phải gởi thân cho cá mập.

Đường dài ngày vắn, nhắc lại chuyện nầy thật nghĩ mà cười ra nước mắt…

Phải chi tôi có ngày giờ rảnh mà chép lại một mớ chuyện vặt của triều đình Huế gần một thế kỷ nay, thật là thành ra một tấn tuồng Molière: trong cái cười lại thấy nhễu chẳng biết bao nhiêu nước mắt.

Nhưng chẳng lẽ nói mãi chuyện buồn mà để anh em ở lại Hàn không đi nơi khác.

Tôi đã nói, từ Bình Định ra tới Quảng Nam thì có cảnh "chùa Non Nước" là đệ nhứt thắng cảnh. Cảnh chùa nầy không phải ở ngay theo con đường Cái quan. Muốn đến đó tất phải mướn ghe qua sông. Nhưng ai đã đi đến Hàn, thì đừng nên bỏ cơ hội mà không đến viếng chùa Non Nước.

Chùa Non Nước, tiếng chữ gọi là Ngũ Hành Sơn, vì núi đó có năm hòn, năm cái đảnh chót vót. Và cái thứ đá giống như cẩm thạch mà mấy năm về sau đây người Nam kỳ mình hay dùng để làm mộ là đá làm ở Ngũ Hành Sơn nhiều nhứt.

Từ Hàn qua chùa, mất chừng 4 tiếng đồng hồ. ở chùa nầy có lắm chuyện hoang đàng mà nhứt là cái vú đá. Vú nầy dựa trên vách một cái hang đá gọi là động Huyền Không. Tục truyền ngày xưa hai cái vú đá ấy đều có chảy nước, nhưng từ khi vua Minh Mạng rờ tay vào một cái, thì chỉ còn một cái bên kia chảy nước.

Đá mà không lỳ!

Năm hòn núi mọc trơ trơ ở giữa một vùng cát lớn, trong núi có hai cảnh chùa, ở ngoài có cái tam cấp đi lên xem thật đẹp. Kế bên chùa hang động thiệt nhiều, có động Huyền Không, có hang Thủy Phủ. Đặt tên như vậy là vì bởi trong động Huyền Không trên nóc có một lỗ trống dòm thấy trời, còn hang Thủy Phủ, lại bởi cái hang đó thăm thẳm xa xa, chẳng biết đi đến đâu là cùng. Có người nói hang đó thông ra tới biển, liệng một trái bưởi trên miệng hang bữa nay, sáng ngày mai thấy trôi ra ngoài mặt biển. Ngoài hang động ra, thì ở đó lại còn hai cái cấp bằng đá thật đẹp. Cái kêu là Vọng Giang đài, cái kêu Vọng Hải đài, cái để đứng trên cao dòm ra sông, cái dòm ra biển.

Ai đã từng đứng trên hai cái đài ấy mới biết rõ thú vị. Kế bên Vọng Hải đài lại còn cái động tên là Tàng Trân. Vì vậy mới có câu thơ của Tùng Lâm, lúc bấy giờ cũng là một kẻ phong lưu niên thiếu:

Kìa động Tàng Trân nọ hải đài,

Bầu trời riêng một cảnh thiên thai.

Ba sanh ướm hỏi người trên đá

Mong gởi nhơn duyên chút một hai

Người du khách đến chơi ở đó làm thơ quá nhiều, nhiều cho đến nỗi trong mấy hòn đá dẫy đầy những thơ, gần đây quan sở tại phải lựa một mớ khả thủ khắc vào một tấm bia còn bao nhiêu biểu bôi hết.

Ở Hàn lại còn có cái viện "tàng trân" Chàm. Ai muốn biết lịch sử của một cái dân tộc ngày nay gần tiêu diệt hết, thì cũng nên ghé lại đó xem chơi cho biết. Lại thấy rồi thì chắc sao cũng gẫm sự diệt vong của người mà ngại ngùng cho tương lai của nòi giống mình.

Từ Hàn ra Huế, phải đi qua cái đèo "Hải Vân quan". Đèo cao lắm, nên vua An Nam xưa mới mạng danh là "đệ nhứt hùng quan":

Chiều chiều gió thổi Hải Vân,

Chim kêu gành đá, gẫm thân lại buồn

Đó là câu hát của mấy người đi thú ở Hải Vân quan nhớ nhà mà cảm hứng ra như thế.

Ở Hải Vân ngó sang, có hòn núi Tân núi làng Sấng, trên núi có con chim tục danh là "bóp thì bóp". Họ nói rằng xưa kia ở đó có một nhà, hai anh em mới lớn lên, một trai, một gái. Bữa nọ cha mẹ đi khỏi hết, con gái ở nhà tắm, đứa anh trông thấy, lại gần một bên rồi… đụng chạm sao đó… Đứa em hăm rằng để cha mẹ về sẽ học chuyện lại cho cha mẹ biết. Anh nghe sợ, bỏ đi trốn trong một hòn núi ở miền đó. Cha mẹ về, đi kiếm mãi không được. Đến sau người em gái nhớ anh mình quá, lén cha mẹ đi kiếm, cũng vào hòn núi ấy. Từ đó về sau hai anh em đều biệt tích. Cách một lúc sau, người ta nghe có hai con chim, một trống một mái, bắt đầu hiện ra miền núi ấy. Chim ấy người ta không biết tên nó là gì, chỉ theo tiếng nó kêu mà đặt là con chim "bóp thì bóp": Con trống tức là người anh, con mái là người em vậy.

Chuyện đó có lẽ cũng là một chuyện của người thổ nhơn thêu dệt. Song hiện nay dân ở vùng đó nhờ tiếng của hai con chim ấy kêu mà có thể chia đêm ra từng canh được. Vì chúng nó bắt đầu từ hồi chạng vạng đi ăn mà kêu nhau ở chơn núi đầu nầy, rồi đi lần chung quanh hòn núi, vừa kêu vừa đi kiếm ăn, cho giáp đến chỗ cũ, thì hơi sáng.

Câu chuyện nầy có khi họ bày ra đặng tỏ sự tương phản của ái tình và luân lý.

Qua gần khỏi Hải Vân quan lại sực nhớ đến bài thơ ngũ ngôn:

Ủi chà cao! ủi chà cao!

Trèo lên thử dường bao.

Cảnh thời đào lộn hột;

Rẫy mọi bắp phơi mao.

Suối gảy đờn thập ngộ;

Chim nói chuyện tam phao!

Mau chơn lên lánh hé!

Cho khỏi đứa tầm phào.

Bài thơ mà tôi vừa nhắc đó là nghe nói của một ông công thần người Nam kỳ ra viếng vua Gia Long sau khi lên Hoàng đế. Vi [ 5 ] trở về qua khỏi Hải Vân quan rồi cảm tác. Toàn bài có lẽ đúng với nguyên văn, duy 2 câu chuyển kiết thì xem như tuồng vô vị một chút. Song cái đại ý là như tuồng muốn bao biếm cái ngôi sang Hoàng đế nó đã làm cho mất cả tình bậu bạn giữa buổi gian nguy.

Tưởng ai cũng biết rằng trong lúc vua Gia Long bị Tây Sơn đuổi chạy tuốt vào Nam, thì từ một lúc nguy cấp cho đến kỳ đại định cũng đã đều nhờ một tay mấy ông công thần Nam kỳ vùa giúp. Nhưng lạ chi những ông tôi đương cơn bát loạn thì đều là người trung thành chất phác, chất thắng văn nhiều. Cái chuyện ông Quận công Trị, ông Quận công Chản cũng đủ chứng nghiệm.

Lúc bấy giờ, ai muốn có giấy thông hành cho tiện việc đi đường thì chỉ xin cái giấy chứng của một vị công thần nào là đủ. Song ngặt phần nhiều các ngài đều là dốt, mà ông quận công Trị lại dốt nhứt. Vậy mỗi khi ai đến xin giấy thông hành, thì ngài chỉ lấy viết mà viết đầy tinh những chữ Trị rồi đóng dấu vào, ai đặng ưa nhiều, thì chữ Trị nhiều, ai ưa ít là ít chữ Trị.

Còn ông kia, sau khi phục nghiệp, vua Gia Long hỏi muốn phong cho Quân công hiệu gì, ông liền đáp, lúc anh chị đương chạy ngược chạy xuôi, phần tôi giữ con voi Chản, thời bây giờ nó chết rồi, xin phong cho tôi là Chản quận công!

Mấy ngài đều là thành thật, chất phác như thế, và trước kia họ đều có thói quen kêu vua Gia Long và hai bà Thừa Thiên, Thuận Thiên Cao hoàng hậu bằng anh bằng chị. Vậy mà đến lúc thái bình, từ trong Nam kỳ ra tận Huế mà thăm "anh chị", thì "anh chị" đã bày ra lắm nghi vệ khó lòng, bắt chầu, bắt chực, bắt nằm chờ năm ba ngày mới cho yết kiến. Và cũng vì vậy, nên thăm rồi, họ đều kéo nhau trở về, qua Hải Vân quan nghĩ lại nhơn tình mà nói:

Ủi chà cao! ủi chà cao!

Trèo lên thử dường bao.

Hôm nay tôi dẫn bài nầy vào đây là có ý tỏ người Nam kỳ mình từ xưa đến nay vẫn có cái tánh chơn thành chất phác hơn kẻ khác vậy.

Thôi, đi chớ!

Qua khỏi Hải Vân quan rồi thì là bước đến địa phận Thừa Thiên tức là Huế là chỗ kinh đô triều Nguyễn.

Từ đó ra cho tới Huế, thời chỉ có núi Túy Vân là một nơi thắng cảnh, nhìn qua không khác chi bức tranh vẽ.

Túy Vân là cái cù lao, ở Cầu Hai phải mướn ghe băng ngang qua cái phá mới tới. Ngày xưa vua Tự Đức cũng phải ưa chỗ nầy lắm, ưa nên ngài có xây trên núi ấy một cái tháp, có từng cấp đi lên gọi là Ngự diên tháp, có cất cái đình hóng gió gọi là Tiên sảng đình. Tháp và Đình hiện nay vẫn còn, đến nay mà tôi cũng vẫn mường tượng nhớ lại mấy khi đi hầu mẹ tôi ra đó, lên ngồi trên đình hay đứng trên tháp thật là thanh sảng một cách lạ thường [ 6 ] .

Diệp Văn Kỳ

   

Chú thích

- ▲ La route du riz  : con đường lúa gạo.

- ▲ Cụ nghè Bất Nhị  : ý muốn nói Trần Quý Cáp (1870-1908), quê xã Bất Nhị, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

- ▲ Đoạn từ "Xứ Sài Gòn thiệt là nhiều chuyện" đến đây, là đoạn tác giả Diệp Văn Kỳ viết thêm cho kỳ đăng báo này (27.1.1931), nhằm đối phó lại với dư luận, sau khi Đuốc nhà Nam đăng bài "Phua-nit-xơ văn chương" của Đào Trinh Nhất, nêu ra chuyện ông Diệp nhờ người khác viết bài cho mình.

- ▲ Chỗ này có thể tác giả viết không rõ, hoặc có lỗi in, nên ý hơi tối.

- ▲ Có lẽ là "Khi" (bản gốc in sai?)

- ▲ Bài chưa đăng hết.

Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộng vì thời hạn bảo hộ bản quyền của nó đã hết ở Việt Nam . Nếu là tác phẩm khuyết danh, nó đã được công bố lần đầu tiên trước năm 1960. Đối với các loại tác phẩm khác, tác giả (hoặc đồng tác giả cuối cùng) của nó đã mất trước năm 1976. (Theo Điều 27, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2009 bắt đầu có hiệu lực từ năm 2010 và điều khoản kéo dài bản quyền đối với tác phẩm khuyết danh từ 50 thành 75 năm nhưng không hồi tố )

Ngoài ra, một tác phẩm của Việt Nam thuộc phạm vi công cộng tại Việt Nam theo quy định này cũng thuộc phạm vi công cộng tại Hoa Kỳ chỉ nếu nó thuộc phạm vi công cộng tại Việt Nam vào ngày 23 tháng 12 năm 1998, tức là: tác phẩm khuyết danh đã được công bố lần đầu tiên trước năm 1948 ; đối với các loại tác phẩm khác, tác giả (hoặc đồng tác giả cuối cùng) của nó đã mất trước năm 1948 và tác phẩm chưa bao giờ được xuất bản tại Hoa Kỳ trước ngày 23 tháng 12 năm 1998. (Theo Tuyên cáo 7161 của Tổng thống Bill Clinton áp dụng Đạo luật Thỏa thuận Vòng đàm phán Uruguay (URAA) đối với các tác phẩm được xuất bản lần đầu tiên tại Việt Nam)

Public domain Public domain false false