Part 2
Có người biết chuyện nói: Lời phê ấy của vua móc đến ruột gan mấy ông đình thần dâng sớ bấy giờ, họ lấy làm rất khó chịu. Vì trong đám họ, có kẻ hay dòm hành những việc vua làm để sang mét với các quan Bảo hộ. Vua nói “nhân tâm duy nguy” là chỉ vào cái tâm của những hạng người ấy.
ĐỘC TẠI LÂU CHỦ NHÂN
(cấm lấy đăng báo khác hay nhặt in thành sách)
16. KHÓC MẸ
Năm 1908, ở Quảng Nam, dân nổi lên “xin xâu”. Tại Hội An, chung quanh tòa Sứ, mỗi ngày có hàng vạn người đến chờ chực kêu nài. Còn các miền nhà quê, nhiều nơi có cuộc tụ họp của quần chúng, hoặc để tuyên truyền thúc giục kẻ khác đi xin như mình; hoặc để ra tay trừng trị mấy người phản động.
Liền đó, các quan tỉnh và tòa mời các thân hào trong tỉnh đến, nhờ họ chia nhau đi ra khuyến dụ dân, kêu bằng “hiểu trấp”.
Một ông cử nhân đỗ thuở Đồng Khánh, bấy lâu ở nhà dạy học, không hề can thiệp đến việc đời, nay được mời, nếu từ chối thì sợ bị tình nghi, nên ông cũng miễn cưỡng vâng lịnh các quan.
Nhân mẹ mới mất, ông Cử mặc một bộ đồ tang bằng vải đen, râu ria đạo mạo, ngồi chiếc võng trần đi khắp các làng. Một đêm, ông trú tại nhà Lý trưởng làng kia. Thình lình có đoàn dân đến bao vây bốn phía nhà, rồi kéo nhau vào trước mặt ông, định nói với ông đừng đi hiểu trấp nữa. Nhưng họ chưa kịp mở miệng, ông thấy đông người quá, sợ khiếp đi, vùng khóc oà lên.
Trong đám đông có người đứng ra hỏi: ‒ Thưa thầy, việc gì mà thầy khóc?
Lau nước mắt, ông Cử đáp:
‒ Xin anh em hãy tin tôi nói thật! Vì mẹ tôi mới mất, tôi nhớ mẹ tôi quá.
Nhờ cái cử chỉ và câu trả lời ngớ ngẩn, đoàn dân ai nấy tức cười, không để ý đến ông nữa mà kéo nhau đi nơi khác.
17. VĂN TẾ CHẾT ĐUỐI
Cũng trong vụ “xin xâu” năm 1908 ở Quảng Nam, tại phủ Điện Bàn, tám ngàn dân tới bắt hiếp ông Phủ đi xin hộ, đi tới sông Thanh Hà, bị lính tập cản đường giải tán, hết ba người trong bọn ngã xuống sông mà chết, liền đó có truyền bài văn tế.
Số là một ngày hạ tuần tháng hai An Nam năm ấy, hồi tám giờ sáng, một đoàn dân tám ngàn người kéo đến phủ, mời ông phủ Trần Văn Thống đi với họ xuống tòa Sứ xin xâu giùm. Không làm sao từ chối được, ông Phủ phải đi. Nhưng, lúc lên xe, ông còn dùng dằng, thì một người trong bọn là Thông Côn (sau bị đày Lao Bảo) nhổ một gốc cây ở sân khẻ vào đầu gối ông mấy cái, rồi giục cho xe chạy.
Đoàn dân ngây ngô không biết, chớ ông Phủ đã cho tin xuống tòa Sứ lấy lính lên rồi, và họ sẽ lên sau. Xe ông Phủ đi trước, tám ngàn người kéo theo, đi tới sông Thanh Hà, thì gặp lính tập, cầm đầu do một viên quan.
Một nửa lính hộ vệ ông Phủ trở về phủ, còn một nửa ở lại đó, bắn súng chỉ thiên, dọa giải tán đoàn dân.
Chỗ thì chật mà người ta thì đông, tranh nhau để chạy, nên hết ba người ngã xuống sông mà chết. Quần chúng tan đi lúc đó, nhưng đến hôm sau thì họ nhóm lại ở bến sông, mở cuộc truy điệu cho ba người. Ngoài những câu liễn đối, có bài văn tế nầy truyền tụng:
Than ôi! nước còn lênh đênh, dân khó ngoi ngóc.
Đã thuế nặng nề, lại quan tham độc.
Chó ăn cả lông, cây đào tận gốc.
Không tiền mua khăn nên đầu ông trọc.
Không tiền mua vải, nên áo ông cộc;
Xin thuế ít nhiều, kêu tình khổ nhục.
Một dạ vững bền, tám ngàn chen chúc.
Không ngờ sảy chân, chẳng vớ được cọc.
Thôi thà thác trong còn hơn sống đục.
Hồn ông đi đâu? Xiêm La? Băng Cốc?
Nhật Bản, Hoành Tân, Ấn Độ, Thiên Trúc?
Lớn hóa làm tàu bay, nhỏ hóa làm súng lục,
Phới phới trên từng mây, để chờ cơn báo phục!
Nay có rượu cặn một bầu, văn nôm một khúc,
Tế ông một diên, vì dân đau khóc!
18. THIÊN DÂN
Lần bắt hiếp viên tri phủ ấy, xe thì cái xe nhà của ông Phủ, nhưng hồi đó lính trốn đi hết, không có người kéo, một người dân trong đám đông phải lãnh phần kéo xe.
Người ấy trạc bốn mươi tuổi, cao dềnh dàng và to xương hóc, như một tay lực sĩ. Trời nắng nực, kéo xe đi một đỗi, anh ta thấy bức, bèn cởi áo ra: lông ngực đen thui, từ cổ xuống đến rốn.
Trong vụ nầy, ông Phủ căm nhất là Thông Côn, người khẻ gốc cây lên đầu gối ông và anh kéo xe nầy.
Về sau, trong những người dân bị bắt, ông Phủ được phép bắt họ cởi áo ra để nhìn người nào có lông ngực, thì quả nhiên nhìn được anh ấy, tên là Tuý, dân phủ Thăng Bình.
Quan Án hỏi:
‒ Mầy là dân phủ Thăng, sao lại ra phủ Điện mà làm việc trái phép?
Túy trả lời:
‒ Bẩm quan lớn: con là thiên dân (dân của trời), hà luận phủ nào!
Túy bị án đồ ba năm.
19. LỲ ĐÒN
Trong vụ “xin xâu” ấy, quần chúng bắt nhau tuân những kỷ luật rất nghiêm. Một trong đó là: hễ bị bắt, bị tra, không được khai ở làng nào mà chỉ khai là dân Quảng Nam, hoặc là dân một miền nào.
Một người bị bắt ở Hội An trong mấy ngày đầu tiên. Bị ông Quản Thái là quản lính tập đánh dữ lắm, chỉ có khai ở làng nào thì được tha đòn mà người ấy vẫn không khai, cứ nói là “dân Bến Ván”.
Roi mây bằng ngón cẳng cái, lực lượng ông Quản Thái đánh cho đến ba chục roi, rồi hỏi: “Ở làng nào? Khai ra!”. Vậy mà cũng cứ: “Con là dân Bến Ván!”.
Máu ra đỏ cả quần, cũng cứ “dân Bến Ván!”.
Sự tra tấn ấy làm ra nơi cửa đồn, trước mặt quần chúng, vì khi đó còn chưa bị giải tán bằng báng súng và roi mây. Trong đám đông, nhiều người thấy vậy lấy làm tội nghiệp, bảo người ấy cứ khai thiệt làng mình đi, anh em không trách móc gì đâu, đừng để bị đòn quá rủi đến chết.
Thế mà cũng cứ là không! Nằm sấp dưới đất, ngửng đầu lên nghe mấy lời khuyên giải đó, người ấy nói rằng:
‒ Sao lúc nãy anh em không nhắc tôi đi? Để đến bây giờ bị đòn đau quá, tôi quên mất cả làng, chỉ còn nhớ là “dân Bến Ván”!
Bến Ván là một miền ở phía Nam Tam Kỳ, về tỉnh Quảng Nam. Người ấy tên là gì, tôi quên.
ĐỘC TẠI LÂU CHỦ NHÂN
(cấm lấy đăng báo khác hay nhặt in thành sách)
20. MỘT BÓ SỚ
Đức Dực Tôn không có con, các bà vợ của ngài không ai hề đẻ lần nào cả; người ta thấy vậy, hay vậy, chẳng hiểu tại làm sao. Thuở trước nhiều người bảo rằng tại vua giết chết cả nhà ông Hồng Bảo, làm ông ấy tuyệt tự, cho nên trời trả báo.
Triều Thành Thái, ở Huế có ông ngự y già, làm y sanh thuở Tự Đức, nói mình rõ căn do việc ấy, kể chuyện rằng:
“Vua không có con là tại cái dương vật của ngài, chặng giữa, có một cái lỗ. Khi giao hiệp với đàn bà, tinh không ra ở quy đầu, mà ra ở lỗ ấy, nên không xạ đến tử cung mà không đậu thai được. Thuở đó các ngự y đông lắm. Hầu hết ông ngự y nào cũng có dâng một phương thuốc để chữa sự khuyết hãm ấy cho vua, nhưng thảy đều vô hiệu”.
Ta có thể tin lời ông ngự y ấy là đúng. Vì cũng thuở Thành Thái, có ông làm Thừa chỉ nội các, tuyên bố một điều tương tợ. Ông ấy nói:
“Tại trên gác Đông các có chứa không biết bao nhiêu là những tấu sớ cũ. Trong đó có một bó toàn là sớ của các quan tâu riêng về việc điều trị bệnh kín cho vua Dực Tôn. Nực cười nhất có ông bảo nên lấy sơn mà hàn gắn cái lỗ đó; lại có ông xin hoàng thượng chú ý khi giao hiệp với các bà, hễ thấy tinh hầu ra thì lấy ngón tay bịt cái lỗ đi”.
21. QUAN BỊ TÂY ĐÁNH
Từ hồi có Bảo hộ về sau, người Nam ta bị người Pháp đánh cũng nhiều; nhưng kể riêng về các quan thì biết được hai ông.
Hồi đầu triều Thành Thái, ông Nguyễn Xương làm Tri phủ Điện Bàn, thuộc tỉnh Quảng Nam. Một hôm, có ông quan Tây vào phủ, nói chuyện sức bắt dân phu làm sao đó, ông Phủ đối đáp không vừa ý, bị ông quan Tây ấy bắt nằm xuống, đánh cho ba chục.
Việc ấy sau phát giác ra, ông Nguyễn Xương bị triệt về, vì cớ “bất xứng chức”.
Đến triều Khải Định, ông Lê Chí Hàm làm Tri huyện Cam Lộ, thuộc tỉnh Quảng Trị, bị một viên lục lộ người Pháp đè xuống đánh, ông Lê bèn đem ấn trả cho tỉnh, không chịu làm nữa. Tuần vũ Quảng Trị bấy giờ là ông Trần Văn Thống, đã chẳng bênh ông huyện thì chớ, lại còn tư về bộ trị tội thêm, lấy cớ ông huyện “thiện lý chức dịch”. Bộ tâu lên, đức Khải Định phê: “Trần Văn Thống sở hành đa khuy quốc thể”. Rồi phái ông Ưng Định, Tham tri bộ Hình, ra điều tra việc ấy. Kết quả ông Trần bị giáng tứ cấp ly, nhưng lại “phụng chỉ gia ân đái nguyên hàm hồi quan hưu trí”.  
22. QUAN TỈNH ĐÁNH NHAU
Ông Trần Văn Thống trước khi làm Tuần vũ Quảng Trị có làm Tuần vũ Hà Tĩnh, vì đánh nhau với ông Bố chánh Nguyễn Văn Đàm, nên mới đổi đi.
Số là, có một vụ kiện điền thổ, tỉnh xử xong, bên được kiện đem tạ ông Tuần hai chục đồng. Theo lời người ta nói thì vì có sự nói năng từ trước làm sao đó. Biết được câu chuyện, ông Bố lấy làm tức lắm, vì nghĩ điền thổ là việc chuyên trách về mình mà mình lại không được ăn. Một buổi hiệp nghị tại dinh Tuần, hai ông nói chuyện với nhau đụng đến việc ấy, rồi ông Bố mắng ông Tuần ăn tiền của dân. Ông Tuần nhột và tức, đứng dậy xách ghế phang ông Bố. Ông Bố xách ghế đánh lại. Thành ra một trận ẩu đả lung tung. Lính chạy qua bẩm ông Án. Ông Án chạy đi báo ông Sứ tới nơi hòa giải, hai vị quan tỉnh mới buông nhau ra.
Ông Tôn Thất Trạm bấy giờ làm Tổng đốc Nghệ An, được phái đi xử vụ nầy. Kết quả, cho rằng trong nước An Nam, xử kiện xong mà đi tạ, là sự thường, không lỗi gì cả; chỉ hai ông quan đồng thành mà đã có hiềm khích với nhau thì nên cho mỗi ông đi một nơi. Thế rồi ông Trần Văn Thống đổi đi Tuần vũ Quảng Trị, ông Nguyễn Văn Đàm đi Bố chánh Phú Yên.   
ĐỘC TẠI LÂU CHỦ NHÂN
(cấm lấy đăng báo khác hay nhặt in thành sách)
   
Chú thích
- ▲ Gạnh: thêm; viết gạnh: viết thêm một bên (H.T. Paulus Của: sđd.)