Part 2
A, người ta muốn cho sau khi chết không có một người nào khóc mình, không phải là việc dễ. Anh lẩm bẩm như nói một mình. Ngừng một lát, anh ngước mặt lên nói với tôi: Nghĩ thì anh cũng không có cách nghĩ. Còn tôi, tôi cũng phải tìm gấp việc gì để làm....
Anh không còn có bạn bè nào nhờ cậy được sao?. Tôi khi ấy thật không nghĩ cách gì được, cả đến chính mình.
Bạn bè thì đại khái còn có mấy người, nhưng cảnh ngộ của họ cũng chẳng khác tôi là mấy....
Lúc tôi từ biệt Liên Thù bước ra cửa, vừng trăng tròn đã lên giữa trời, đêm rất yên lặng.
IV
Cái tình hình dạy học ở Sơn Dương rất không tốt. Tôi đến trường đã hai tháng, không lãnh được một đồng lương, cả đến thuốc lá cũng phải bớt hút. Nhưng bọn người trong trường, tuy là những chức viên nhỏ, lương tháng mười lăm, mười sáu đồng, cũng chẳng có một kẻ nào là chẳng biết điều và yên phận, nhờ cái xương sắt gân đồng đã luyện nên, một mực chịu mặt vàng da bủng làm việc cho nhà trường từ sáng đến tối, khi thấy vai trên nhích hơn mình một tí còn phải lễ phép đứng dậy, thật đều là thứ dân không cần phú quý rồi mới sinh lễ nghĩa. Mỗi khi tôi thấy cái tình trạng ấy, chẳng biết thế nào lại cứ nhớ đến lời Liên Thù cậy tôi khi sắp biệt nhau. Hồi này sự sống anh ta càng túng ngặt quá, mỗi lúc lộ ra cái bộ mặt quẫn, xem chừng không còn có vẻ thâm trầm như trước, biết tôi sắp đi, đêm khuya đến thăm tôi, ngần ngừ chặp lâu, rồi anh mới ấp úng nói:
Không biết ở bên đó có kiếm được cái gì không? - Dù là sao chép, một tháng hai ba chục đồng cũng được. Tôi....
Tôi rất lấy làm lạ, không ngờ anh ta lại chịu dún giá xuống đến như thế, ngay lúc đó không biết nói thế nào.
Tôi... tôi còn phải sống ít ngày....
Để sang bên đó xem xem, thế nào cũng hết sức kiếm cách.
Đó là câu tôi cả quyết chịu miệng lúc bấy giờ, về sau thường thường chính mình nghe thấy, trước mắt đồng thời cũng nổi bật tuồng mặt Liên Thù, vả lại đang ấp úng nói Tôi còn phải sống ít ngày. Những lúc đó, tôi bèn liệu cách tiến cử anh cho các nơi, nhưng mật ít ruồi nhiều, không được gì cả, rốt cuộc là người ta nói với tôi mấy lời xin lỗi, tôi lại viết thư nói với anh mấy lời xin lỗi.
Đến lúc gần mãn một học kỳ, tình hình lại càng thêm hỏng lắm. Trên tờ Học lý chu báo của mấy tay thân sĩ ở đó chủ trương, đã bắt đầu công kích tôi, cố nhiên là không gọi tên ra, nhưng bằng những lời lẽ rất khéo, làm ai đọc đến cũng hiểu ngay chính tôi là kẻ đang khiêu dịch học trào [ 8 ] , cả đến việc tiến cử Liên Thù, cũng cho là rủ bè kéo cánh.
Tôi chỉ còn có cách im lìm không cựa quậy. Ngoài giờ lên lớp, cứ đóng cửa trốn trong nhà, có khi cả đến khói thuốc lá lọt ra khe cửa sổ, cũng sợ bị nghi là khiêu dịch học trào. Cái việc của Liên Thù, tự nhiên là không thể nói đến được. Cứ như thế thẳng đến giữa mùa đông.
Một hôm trời sa tuyết, mãi đến đêm chưa dứt, bên ngoài thay thảy rất im lặng, im lặng đến nỗi như có thể nghe thấy tiếng của im lặng. Dưới ánh đèn leo lét, tôi nhắm mắt, ngồi khàn, như thấy từng mảnh hoa tuyết tơi bời sa xuống, để bù đắp thêm cho cái đống tuyết mênh mông kia ; làng quê cũng đang sắm sửa ăn Tết, ai nấy bận rộn hết sức ; mà chính tôi lại còn là một đứa bé, đang ở chỗ đất phẳng sau cái vườn cùng một tụi bạn bé dùng tuyết nặn hình ông Bụt. Cặp mắt của ông Bụt tuyết, dùng hai hòn than nhỏ làm thành, nó đen nhánh, nhấp nhoáng một cái, biến ngay ra là cặp mắt của Liên Thù.
Tôi còn phải sống ít ngày!. Vẫn là cái tiếng nói ấy.
Tại sao?. Tôi bỗng dưng hỏi bâng quơ như thế, tức khắc, tự tôi tôi cũng thấy buồn cười.
Cái câu hỏi buồn cười ấy làm tôi chợt tỉnh, ngồi thẳng lên, châm một điếu thuốc, đẩy cửa sổ trông ra, quả nhiên tuyết xuống càng nhiều. Nghe có tiếng gõ cửa, một lát, có người đi vào, nhưng là tiếng chân đã nghe quen của kẻ làm việc vặt trong nhà trọ. Hắn đẩy cửa phòng tôi, đưa cho tôi một phong thư dài chừng hơn sáu tấc, tuồng chữ ngoạch ngoạc, nhưng nhác thấy hai chữ Ngụy gửi thì biết là thư của Liên Thù.
Đó là phong thư đầu tiên anh gửi cho tôi sau khi tôi lìa khỏi thành S. Tôi biết anh lười, vốn tình chẳng lấy sự bặt tin làm lạ, song có lúc cũng hơi oán anh sao chẳng hề gửi cho một lá thư. Đến khi tiếp được phong thư này, bỗng lại lấy làm lạ, vội vàng mở xem. Bên trong vẫn dùng một lối chữ ngoạch ngoạc viết như thế này:
Thân Phi...
Tôi gọi anh bằng gì bây giờ? Tôi để trống. Anh tự ý muốn tôi gọi bằng gì thì cứ điền thêm vào. Tôi thì thế nào cũng được.
Sau khi biệt nhau tiếp được ba lần thư, không trả lời. Cái lý do rất giản đơn, cả đến tiền mua tem tôi cũng không có.
Có lẽ anh muốn biết sơ về tin tức của tôi, nay tôi bảo gọn cho anh biết, tôi thất bại rồi. Trước kia, tôi tự cho mình là kẻ thất bại, bây giờ biết là chưa phải, bây giờ tôi mới thật là kẻ thất bại. Trước kia, khi còn có người muốn tôi sống ít ngày, chính tôi cũng còn muốn sống ít ngày, thì sống không nổi ; bây giờ đây, rất có thể không cần nữa rồi, nhưng mà lại cứ phải sống...
Nhưng mà cứ phải sống thì sống được à?
Cái người muốn tôi sống ít ngày, chính mình họ đã không sống được rồi. Người ấy đã bị kẻ địch lừa giết đi rồi. Ai giết? Chả ai biết cả.
Đời người thay đổi chóng quá đi mất! Nửa năm nay, tôi hầu đi ăn xin, sự thực, cũng kể được là đã đi ăn xin rồi. Nhưng mà tôi còn vì cái gì đó, tôi vui lòng vì cái gì đó mà đi ăn xin, vì cái gì đó mà chịu đói rét, vì cái gì đó mà chịu hiu quạnh, vì cái gì đó mà chịu đắng cay. Song le, đến cái chết thì toi không vui lòng được. Anh xem, có một người muốn tôi sống ít ngày, cái lực lượng ấy lớn đến như thế đấy. Nhưng mà hiện nay đã không có rồi, cả đến một người như thế cũng không có rồi. Đồng thời, chính mình tôi cũng thấy không đáng sống nữa ; còn người khác? Cũng không đáng sống. Đồng thời, chính mình tôi lại thấy phải vì những người không muốn cho tôi sống nữa mà sống nữa ; may mà những người muốn cho tôi sống cho ra lòng. Làm cho những người như thế đau lòng, là điều tôi không muốn. Nhưng mà hiện nay thì không có nữa, cả đến một người như thế cũng không có. Khoan khoái lắm rồi, thoải mái lắm rồi, chính mình tôi đã thực hành hết thảy những cái gì mà trước kia tôi ghét, tôi phản đối, ruồng bỏ hết thảy những cái gì mà trước kia tôi sùng bái, tôi chủ trương rồi. Tôi đã là thất bại thật, - nhưng mà tôi thắng lợi.
Anh cho tôi là điên rồi phải không? Anh cho tôi là đã thành ra anh hùng hoặc vĩ nhân rồi phải không? Không, không phải đâu. Việc đó rất giản đơn: gần nay tôi đã làm cố vấn của Đỗ sư trưởng rồi, lương mỗi tháng có tám chục đồng rồi.
Thân Phi...
Anh sẽ cho tôi là cái thá gì, tùy anh định lấy, tôi thì thế nào cũng được.
Anh đại khái còn nhớ cái phòng khách của tôi hồi trước, cái phòng khách mà chúng ta ở trong thành gặp nhau lần đầu và biệt nhau lần chót. Bây giờ tôi vẫn còn dùng cái phòng khách ấy. ở đấy, bây giờ có khách khứa mới, đồ biếu xén mới, sự tâng bốc mới, sự chạy chọt mới, cái vập đầu và khom lưng mới, cuộc đánh bài và đánh toan mới, cái lạnh lùng và cái hằn học mới, cái mất ngủ và cái hộc máu mới...
Trong thư trước, anh nói anh dạy học rất không được vừa ý. Thế thì anh có muốn làm cố vấn không? Cứ bảo tôi đi, tôi xoay cho. Thực ra thì làm thằng gác cửa cũng chẳng hại chi, rồi cũng có khách khứa mới, đồ biếu xén mới và sự tâng bốc mới...
Ở đây sa tuyết to rồi. Nơi anh thế nào? Giờ đây đêm đã khuya, hộc hai lần máu, tôi thấy trong người tỉnh táo. Nhớ lại từ mùa thu đến nay anh tiếp tục gửi tôi ba phong thư, đó là sự đáng kinh dị dường nào. Tôi phải cho anh biết một ít tin tức mới được, có lẽ anh không đến nỗi thở ra một hơi lạnh lẽo.
Rày về sau, cơ chừng tôi không viết thư nữa, cái thói quen ấy của tôi, anh vẫn viết. Bao giờ về? Nếu về sớm thì chắc có thể gặp nhau đấy. - Nhưng tôi tưởng, đại khái chúng ta rốt cuộc không cùng đi một đường đâu, vậy thì, xin anh quên tôi đi. Tôi thật lòng cảm ơn anh trước kia thường vì tôi lo toan sinh kế. Song bây giờ hãy quên tôi đi ; tôi bây giờ đã tốt rồi.
Liên Thù
Ngày 14 tháng 12
Bức thư tuy không làm cho tôi thở ra một hơi lạnh lẽo, song sau khi xem sơ qua một bận rồi, lại xem kỹ một bận nữa, thấy có hơi khó chịu, mà đồng thời lại thấy lẫn vào chút ít khoái ý và cao hứng ; và nghĩ, về sinh kế của anh ta, thế là đã không thành vấn đề rồi, tôi cũng trút được một cái gánh, mặc dầu về việc đó thủy chung tôi cũng chỉ không biết xoay sở cách nào. Bỗng lại nghĩ viết thư trả lời anh, nhưng rồi thấy không có chuyện gì nói, thế rồi cũng liền thủ tiêu cái ý nghĩ ấy.
Quả thật tôi dần dần quên bẵng anh ta. Trong trí nhớ của tôi, tuồng mặt anh không thường thường hiện ra nữa. Song sau khi nhận được thư không đầy mười ngày, Nhà Học lý tuần báo ở thành S bỗng dưng tiếp tục gửi tờ Học lý tuần báo cho tôi. Tôi vốn không hay đọc những của ấy, chẳng qua đã gửi đến, thì cũng vui tay lật trang này qua trang khác. Không ngờ nó làm cho tôi nhớ đến Liên Thù, vì trong báo ấy thường có những bài thơ văn dính dáng đến anh, như là Đêm tuyết ra mắt Liên Thù tiên sinh, Buổi họp ở phòng khách quan cố vấn Liên Thù chẳng hạn. Có một lần, ở mục Nhàn đàm còn say sưa nhắc lại những chuyện trước kia anh bị đưa ra làm trò cười, gọi là dật văn, giữa những dòng chữ rõ có cái ý muốn nói Vả chăng con người phi thường ắt có thể làm những việc phi thường.
Tuy rằng nhân đó nhớ lại Liên Thù, có điều không biết thế nào, tuồng mặt của anh lại cứ mờ dần đi ; nhưng lại thấy như với tôi càng ngày thêm mật thiết, thỉnh thoảng cảm thấy một thứ áy náy và hơi rùng mình mà chính tôi cũng không hiểu là gì và bởi đâu. May mà đến cuối thu, tờ Học lý tuần báo không gửi đến nữa ; tờ Học lý chu san ở Sơn Dương lại mỗi kỳ liên tiếp đăng một bài luận dài: Lưu ngôn tức sự thực. Trong đó nói, những tiếng đồn về mấy ông nọ đã ầm lên trong hàng thân sĩ đứng đắn rồi. Đó là nói riêng về mấy người thôi, mà trong đó có tôi ; tôi chỉ phải cẩn thận hết sức, cả đến khói thuốc hút cũng cứ giữ gìn không dám cho bay ra ngoài. Cẩn thận giữ gìn là một thứ đau khổ thường xuyên, nhân đó có thể mọi việc đều nhãng bỏ, tự nhiên cũng không rồi đâu nhớ đến Liên Thù. Tóm lại, thực ra tôi đã quên bẵng anh ta rồi.
Nhưng rốt lại tôi cũng không bôi trét cho đến nghỉ hè được, cuối tháng năm, bèn lìa khỏi Sơn Dương.
V
Từ Sơn Dương đến Lịch Thành, lại đến Thái Cốc, xoay quanh già nửa năm trời, chung quy chẳng tìm được việc gì làm, tôi bèn quyết kế lộn về thành S. Lúc đến nơi là buổi chiều đầu xuân, màu trời muốn mưa mà không mưa, mọi vật đều lồng trong sắc xám ; chỗ trọ cũ còn có phòng trống, tôi lại đến ở đó. Dọc đường nhớ đến Liên Thù, sau khi đến, quyết định ăn cơm chiều xong đi thăm anh. Tôi mang theo hai gói bánh luộc, sản phẩm nổi tiếng ở Văn Hỉ, đi bao nhiêu chặng đường lầy lội, tránh bao nhiêu con chó nằm kềnh cản đường, mới đến được trước cửa nhà Liên Thù. Bên trong có vẻ sáng sủa khác thường. Tôi bụng bảo dạ, người ta làm cố vấn có khác, cả đến chỗ ở cũng đâm quang rạng ra, rồi bất giác cười thầm. Nhưng ngước nhìn một cái, cạnh cửa có cái gì trăng trắng, rõ ràng là một tờ giấy dán chéo ở đó [ 9 ] . Tôi lại bụng bảo dạ, chắc bà nội lũ thằng Lương lớn chết rồi hẳn ; đồng thời tôi cũng bước qua ngưỡng cửa, đi thẳng vào trong.
Trong phòng ánh sáng hơi mờ, thấy để một cỗ quan tài, bên cạnh đứng một người lính mặc áo dấu hoặc là người mã phu, còn có một người nữa đang nói chuyện với hắn, nhìn ra thì lại là bà nội thằng Lương lớn ; ngoài ra còn có mấy kẻ áo ngắn cục mịch đứng vơ vẩn. Quả tim tôi tức khắc thấy hồi hộp. Bà lão nọ cũng quay mặt nhìn sững tôi.
Ối già! Ông về đấy rồi? Sao không về sớm mấy ngày... bỗng dưng bà ta kêu to lên.
Ai... ai mất đấy?. Thực ra, đại khái tôi đã biết rồi, có điều cứ hỏi.
Ông lớn Ngụy đấy, ngài mất hôm qua.
Tôi nhìn quanh, trong phòng khách tờ mờ, chừng như chỉ có một thếp đèn ; ở nhà giữa lại treo màn tang trắng, mấy đứa trẻ xúm nhau ở ngoài nhà, tức là lũ Lương lớn Lương nhỏ.
Ngài nằm ở đấy. Bà thằng Lương lớn tiến đến trước, lấy tay chỉ và nói: Ông lớn Ngụy sau khi thăng quan, tôi đem cả cái nhà giữa này cho ngài thuê ; bây giờ ngài nằm ở đấy.
Chỗ cái màn tang không có gì khác, phía trước một cái bàn dài, một cái bàn vuông, trên bàn vuông bày ra mươi bát cơm và thức ăn. Tôi vừa bước vào, trước mặt bỗng hiện ra hai người mặc áo trắng dài gàn tôi lại, trợn mắt như mắt cá chết, có vẻ kinh hãi và ngờ vực, nhìn tròng trọc vào mặt tôi. Tôi vội vàng nói rõ mối quan hệ giữa tôi và Liên Thù, bà thằng Lương lớn cũng làm chứng giúp, họ mới dần dần buông tay dịu mắt, ngấm ngầm cho phép tôi đến đằng trước nghiêng mình.
Tôi vừa nghiêng mình thì trong tôi bỗng có người ồ ồ khóc rống lên, nhìn kỹ thấy một đứa bé hơn mười tuổi chum hum trên chiếc đệm rơm, cũng mặc đồ trắng, trên cái đầu tóc hớt nhẵn nhụi quấn một vành sợi gai lớn.
Sau khi hỏi thăm, tôi biết trong hai người đó một người là anh em chú bác với Liên Thù, kể là bà con gần nhất, còn một người là cháu gọi bằng bác hay chú họ xa. Tôi xin nhìn mặt người bạn cũ một lần chót, họ hết sức ngăn trở, nói là không dám. Sau tôi nói mãi, họ mới chịu vén màn tang lên.
Lần này tôi giáp mặt Liên Thù đã chết. Song quái lạ! Anh tuy mặc một bộ áo quần ngắn và nhàu, trên mỏ hò còn có dấu máu, nét mặt cũng gầy đét tệ, nhưng diện mạo vẫn là cái diện mạo trước kia, im lìm mím miệng nhắm mắt, như là ngủ, hầu khiến tôi giơ tay trước mũi anh, xem có phải thực ra anh vẫn còn thở.
Hết thảy đều im lìm như chết, cả người chết lẫn người sống. Tôi lùi ra, người anh em chú bác của anh lại đến xoắn xuýt, nói chú nó đang lúc tuổi giàu sức mạnh, con đường trước mặt thênh thang, thế mà bỗng làm người thiên cổ, đó chẳng những là điều chẳng may của nhà cháu, mà cũng làm cho bầu bạn đau lòng. Không nói rõ ra, nhưng hơi có ý xin lỗi hộ Liên Thù. Người miền núi mà nói thạo như thế là ít có lắm. Song sau đó cũng lại chìm lặng, hết thảy đều im lìm như chết, cả người chết lẫn người sống.
Tôi thấy tẻ ngắt, buồn thương lại không có gì là buồn thương, bèn lui ra nhà ngoài, nói chuyện phiếm với bà nội lũ thằng Lương lớn. Nhân đó biết rằng giờ nhập liệm gần tới, chỉ chờ áo dưỡng già đưa đến thôi ; và trong lúc đóng chốt nắp quan, thế nào bốn tuổi tý ngọ mẹo dậu cũng phải tránh xa. Bà lão nói chuyện rất hăng, cuồn cuộn như nước suối chảy, nói đến bệnh trạng Liên Thù, nói đến tình cảnh khi anh còn sống, còn đèo thêm đôi lời phê bình về anh nữa.
Ông nên biết rằng ông lớn Ngụy từ sau khi vận tấy, người khác với trước, mặt vểnh lên, khí phách hiên ngang. Đối với mọi người cũng không gàn như trước nữa. Ông biết trước kia ngài chẳng gọi tôi bằng bà cụ là gì? Thế mà về sau gọi là mụ già. E ê, hay đáo để. Người ta biến ngài món truật Tiên cư [ 10 ] , ngài không ơi, ném ra giữa nhà, - là chỗ này đây -, và bảo tôi: Mụ già, đem mà ăn đi. Sau khi ngài vận tấy, đông người tới lui, tôi bèn nhường cái nhà giữa cho ngài ở, tôi dọn ở cái phòng bên trái này. Ngài từ bước sang vận đỏ một cái, thật là khác hẳn mọi người, chúng tôi thường thường nói cười với nhau như thế. Phải chi ông đến sớm lấy một tháng thì còn kịp thấy cái cảnh tấp nập ở nơi này, vài ba hôm lại có cuộc đánh toan, quay thìa, ai nói cứ nói, ai cười cứ cười, ai hát cứ hát, ai làm thơ cứ làm thơ, ai đánh bài cứ đánh bài...
Ngài trước kia sợ trẻ con còn hơn trẻ con sợ bố nữa, cứ là bé tiếng dịu giọng. Gần nay thì lại khác, hay nói hay đùa, lũ thằng Lương lớn chúng tôi cũng rất thích đùa với ngài, hễ hở ra một cái, là đều chạy sang nhà ngài. Ngài còn dùng nhiều cách gợi trò đùa: trẻ con đòi mua thức gì, thì ngài buộc chúng phải làm chó sủa, hay là vập đầu một cái cho kêu. Ha ha, thật là vui quá. Hai tháng trước đây thằng Lương nhỏ đòi ngài mua giày, phải vập đầu ba cái đấy, đôi giày ấy, hiện nay nó còn đi chưa hỏng mà.
Một người mặc áo dài trắng đi ra, bà lão ngừng nói. Tôi muốn biết chừng bệnh của Liên Thù, thì bà ta không rõ lắm, chỉ nói đại khái là người anh đã gầy đi từ lâu, có điều không ai để ý đến, vì anh cứ vui vẻ như thường. Đến trước đây hơn một tháng, mới nghe nói anh hộc mấy lần máu, song hình như cũng chẳng đi xem thầy thuốc ; sau rồi nằm liệt ; ba ngày trước khi chết thì tắt tiếng, nói không ra một lời. Ông Mười ba từ Hàn Thạch Sơn đi diệu vợi lên thành, hỏi anh có còn tiền bạc gì không, anh không nói gì cả. Ông Mười ba ngờ anh giả đò, cũng có kẻ nói một số người chết vì bệnh lao thì tắt tiếng như thế, chẳng biết thế nào...
Nhưng mà tánh khí ông lớn Ngụy cũng cổ quái quá. Bà lão bỗng dưng hạ giọng nói. Ngài chẳng chịu chắt bóp một tí gì, tiêu tiền cứ như nước. Ông Mười ba còn ngờ cho chúng tôi có được béo bở gì. Thực ra có béo bở đếch gì đâu? Ngài đã xài phí phạm bừa bãi hết cả rồi. Ví dụ mua một vật gì, ngày nay mua, ngày mai lại bán, hoặc đập vỡ, thật chẳng hiểu ra làm sao cả. Đến lúc buông xuôi tay chân một cái, cái gì cũng không có, thật hỏng bét. Nếu không thì hôm nay có đâu đến nỗi hiu quạnh thế này...
Ngài thì cứ ẩu xị, chẳng lo làm một việc gì gọi là căn cơ. Tôi đã nghĩ đến, cũng đã khuyên ngài. Ngần ấy tuổi rồi, đáng lẽ phải có gia đình ; theo bề thế hiện giờ, xe một mối tơ hồng dễ lắm ; bằng không có nơi môn đăng hộ đối thì mua trước mấy cô hầu cũng được: đã là người thì phải cho ra người chứ. Thế mà nghe nói một cái là ngài vùng lên cười, bảo tôi: Thì ra mụ già này vẫn cứ chăm lo những việc như thế cho người khác à?. Ông xem, ít lâu nay ngài bập bềnh mà không đáy chốt, người ta nói phải lại không cho là phải để mà nghe. Giá sớm nghe lời tôi, đâu đến nỗi bây giờ vò võ một thân một mình sờ soạng nơi âm phủ, ít nhất cũng còn được nghe mấy tiếng khóc của người thân chứ lại....
Một người thợ bạn ở tiệm may mang quần áo đến. Ba người bà con bèn chọn lấy đồ mặc trong, đi vào sau màn. Một chốc, màn vén lên, đồ mặc trong đã thay rồi, đến mặc quần áo ngoài. Có điều này làm tôi không ngờ đến: Một cái quần nhà binh màu ka ki viền nẹp đỏ rất rộng mặc vào xong, rồi đến mặc cái áo nhà binh, hai vai ngù vàng nhoáng sáng, cũng chả biết là phẩm hàm gì, và phẩm hàm từ đâu đến. Khi nhập quan, thấy Liên Thù nằm rất không thoải mái, bên chân đặt một đôi giày da vàng, bên sườn một cái gươm chỉ huy bằng giấy, cạnh cái mặt đen xám gầy như que củi một cái mũ nhà binh viền kim tuyến.
Ba người bà con vịn lấy thành quan tài khóc một hồi, ngừng khóc lau nước mắt ; thằng bé đầu quấn vành gai lùi ra, thằng Lương tý cũng đi tránh chỗ khác, chắc hẳn mỗi đứa đều thuộc về một tuổi trong bốn tuổi tý ngọ mẹo dậu.
Có người khiêng nắp quan tài đến, tôi lại gần để nhìn Liên Thù một lần cuối cùng.
Anh nằm yên lặng giữa những áo mũ kịch cợm, nhắm mắt, mím miệng, khóe miệng tuồng như mỉm cười lạnh lùng, cười lạnh lùng cái xác chết đáng buồn cười ấy.
Tiếng đóng chốt vang lên một cái, tiếng khóc đồng thời cũng òa lên. Tiếng khóc ấy làm tôi không thể nghe trọn được, chỉ phải lùi ra nhà ngoài ; thằng giằm, không dè đi tuốt ra khỏi cổng. Con đường lầy lội rất rõ ràng, ngước lên nhìn trời, đám mây đặc đã tan hết, một vừng trăng tròn tỏa ra ánh sáng lạnh lùng.
Tôi đi thật nhanh, như muốn từ trong cái gì nặng nề xông ra cho khỏi, song không đủ sức. Trong lỗ tai có cái gì đang vùng vẫy, chặp lâu, chặp lâu, rồi vùng vẫy thoát ra được, mường tượng như tiếng rống dài, như một con chó sói bị thương đêm khuya gào thét nơi đồng vắng, trong thê thảm xen lẫn tức giận và đau xót.
Lòng tôi thấy nhẹ nhõm, thản nhiên đi trên con đường đá lầy lội, dưới ánh sáng trăng.
Viết xong ngày 17 tháng 10 năm 1922
(Dịch ở Bàng hoàng)
   
Chú thích
- ▲ Thành S : xem lời chua số 1 bài Trên lầu tiệm rượu .
- ▲ Cháu thừa trọng : theo tang lễ Trung Quốc và nước ta trước kia, ông nội bà nội chết trong lúc người trưởng nam đã chết trước rồi, thì con trai đầu lòng của người trưởng nam phải thay cha mình phục tang cho ông hay bà ba năm, theo như mọi lễ nghi con phục tang cho cha mẹ. Thế gọi là cháu thừa trọng hay đích tôn thừa trọng.
- ▲ Ăn đạo : Tin đạo Thiên chúa, ở xứ ta thường nói là theo đạo hay đi đạo, nhưng ở Trung Quốc trước kia, có lắm nơi nói ăn đạo (khiết giáo). Ở chỗ khác, Lỗ Tấn có cắt nghĩa cái danh từ ấy là có ý nói: Theo đạo để kiếm ăn, tỏ ra sự theo đạo không vì tin tưởng mà chỉ vì sự sống.
- ▲ Trầm luân : Trầm luân là tập truyện ngắn của Úc Đạt Phu, xuất bản năm 1921, gồm có ba thiên truyện ngắn, đứng đầu là thiên Trầm luân. Cả tập truyện ngắn ấy đều cả cái buồn bực và tâm lý đau ốm của thanh niên, hơi có khuynh hướng đồi phế. Trầm luân và các tác phẩm khác của Úc Đạt Phu, nói chung, đều lấy người thanh niên bất hạnh hoặc người thừa làm vai chính trong truyện, nên ở đây Lỗ Tấn nói như thế.
- ▲ Hạ giã : giã đây là đối với triều. Theo ngữ ngôn Trung Quốc, những người có danh tiếng, thế lực khi được tham gia vào tập đoàn thống trị trung ương, làm tổng thống hay bộ trưởng chẳng hạn, thì gọi là tại triều, nếu không, thì gọi là tại giã. Giã, theo tiếng Việt, có thể nói là: vườn, ruộng, nhà quê. Hạ giã, có thể nói là về vườn. Nhưng không được. Vì theo lối nói của ta, về vườn là đã đến tuổi hưu trí (60 tuổi hoặc 55), còn hạ giã thì không kể tuổi: bất cứ tuổi nào, đang làm quan ở triều mà không làm nữa thì gọi là hạ giã. Bởi vậy để nguyên văn hạ giã mà không dịch. - Các cụ hạ giã một cái là ăn chay tụng niệm, là ám chỉ bọn quân phiệt thất thế như Ngô Bội Phu, Tôn Truyên Phương, khi họ hạ giã rồi thì họ làm bộ đi tu.
- ▲ Sách Sử ký sách ẩn 30 cuốn, của Tư Mã Trinh, người đời Đường soạn, là sách chú thích sách Sử ký của Tư Mã Thiên. Cấp cổ các là nhà chứa sách của Mao Tấn đời Minh, Mao Tấn từng theo bản cũ đời Tống khắc và in sách Sử ký sách ẩn.
- ▲ Rượu cất : xem lời chua số 1 bài Ngày mai .
- ▲ Khiêu dịch học trào : Sau vận động Ngũ tứ, học sinh trong các trường trung, đại học chịu ảnh hưởng, thường hay phản đối hiệu trưởng hoặc thầy giáo, nhiều nơi đến nỗi vỡ ra cuộc bãi khóa. Bọn cầm chính quyền đương thời cho rằng đó là bởi có một bọn thầy giáo tuyên truyền vận động học sinh, ghép cho họ cái tội danh là khiêu dịch học trào. Bốn chữ này nghĩa là bới móc, khêu chọc, gây ra cái phong trào học sinh phản đối việc học trong nhà trường, nó đã thành ra một danh từ đặc biệt mà thông dụng, cho nên để nguyên không dịch.
- ▲ Thói tục dân gian ở Trung Quốc trước kia, khi trong nhà có người chết thì ở cổng dánh chéo một tờ giấy trắng, trên giấy ấy kể rõ người chết bao nhiêu tuổi và tuổi gì, lúc nhập liệm những người có tuổi nào phải kiêng mà tránh đi, cho đến các thứ gọi là ương và sát cùng ngày giờ mà người khác phải biết mà khem cữ. Dưới đây nói trong lúc đóng chốt nắp quan, thế nào bốn tuổi tý ngọ mẹo dậu cũng phải tránh xa, tức là theo sự mê tín ấy.
- ▲ Truật Tiên cư : tức là bạch truật, một thứ củ của thực vật dùng làm thuốc, xuất sản ở huyện Tiên Cư, tỉnh Chiết Giang (mà người ta chế bằng cách nào đó thành một thức ăn có thể ăn được).