Part 1
← Cái gia đình có hạnh phúc
Tuyển tập tiểu thuyết   của Lỗ Tấn , do Phan Khôi dịch Người cô độc Ối tình ôi →
- các dự án wiki khác :  mục Wikidata .
11848 Tuyển tập tiểu thuyết — Người cô độc Phan Khôi Lỗ Tấn
I
Tôi với Ngụy Liên Thù quen biết nhau, bây giờ nghĩ lại cũng có vẻ khác thường: bắt đầu bằng một lần nhập liệm, cuối cùng cũng bằng một lần nhập liệm.
Hồi đó tôi ở thành S [ 1 ] , thường khi nghe người ta nhắc đến tên anh ta, ai cũng bảo hắn có hơi cổ quái: Cái mình học là môn động vật học, lại đi làm giáo viên dạy lịch sử ở trường trung học ; đối với mọi người cứ hay làm ra vẻ thờ ơ, thế mà lại cứ hay lo bao đồng việc của người khác ; lúc nào cũng bảo phải phá bỏ gia đình, thế mà hễ lãnh lương tháng một cái là lập tức gửi cho bà nội, một ngày cũng không để trễ. Ngoài ra còn có bao nhiêu chuyện vụn vặt ; tóm lại, ở thành S, anh ta cũng kể là một người làm đầu câu chuyện cho người khác. Mùa thu năm nọ, tôi ở chơi trong nhà người bà con tại Hàn Thạch Sơn, những người này họ Ngụy, trong họ Liên Thù. Nhưng họ lại cũng không biết rõ anh ta, ý chừng coi anh ta là người ngoại quốc, nói rằng "hắn với chúng tôi khác hẳn".
Cái đó cũng chẳng lấy gì làm lạ. ở Trung Quốc mở mang việc học tuy đã hai mươi năm nay rồi, thế mà Hàn Thạch Sơn cả đến trường tiểu học cũng chưa có. Cả miền làng núi ấy, chỉ có Liên Thù là người đi ra ngoài du học, cho nên trong con mắt người làng, anh ta là một thứ người khác ; thế nhưng họ lại cũng ganh tị và thèm thuồng lắm, nói anh ta kiếm được nhiều tiền.
Đến cuối thu, trong miền làng núi lan tràn bệnh lị ; tôi cũng sợ cho mình, muốn trở về trong thành. Vừa nghe nói bà nội Liên Thù nhuốm bệnh, vì tuổi già nên bệnh nặng lắm, trong miền núi lại không có một thầy lang nào. Gọi là người nhà của Liên Thù, thực ra chỉ có một bà cụ ấy, thuê một đứa ở gái sống chật hẹp qua ngày ; anh ta mồ côi cha mẹ từ hồi nhỏ, nhờ bà cụ nuôi nấng cho nên người. Thấy nói bà cụ trước kia cũng đã chịu nhiều vất vả, nhưng bây giờ thì được thảnh thơi. Có điều bởi Liên Thù không có vợ con, hóa nên trong nhà vắng vẻ lắm, ước chừng đó cũng là một điều mà người ta cho là "khác hẳn" vậy.
Hàn Thạch Sơn cách với thành theo đường bộ một trăm dặm, theo đường thủy bảy mươi dặm, nếu cho người đi gọi Liên Thù, vừa đi vừa về ít nhất cũng phải bốn ngày. Làng núi quê mùa, những việc thế này đã kể là việc mới lạ mà mọi người tò mò muốn biết ; ngày hôm sau bèn đồn ầm lên rằng bệnh bà cụ đã ngặt lắm, người đi gọi Liên Thù cũng đã đi ; song le đến canh tư thì bà cụ tắt nghỉn, câu nói cuối cùng là: "Tại sao lại không để cho tôi gặp Liên Thù một cái?..."
Trưởng tộc, bà con gần, thân nhân bên phía bà cụ, cả người dưng nữa, nhóm lại đầy nhà, tính trước rằng khi Liên Thù về đến phải là lúc sắp sửa nhập liệm. Thọ đường và áo dưỡng già đều có sẵn rồi, không cần lo tính ; vấn đề lớn nhất của họ là đối phó cách nào với ông "cháu thừa trọng" [ 2 ] ấy, vì họ liệu trước rằng về mọi nghi lễ đám ma, thế nào anh ta cũng đổi theo lối mới. Sau khi nhóm bàn, đại khái họ đặt ra ba điều kiện, buộc anh ta phải theo: một là mặc đồ trắng, hai là quỳ lạy, ba là rước thầy tu thầy phù thủy đến cúng làm phép. Nói tóm lại là: Hết thảy đều theo cũ.
Họ đã bàn định xong, bèn hẹn nhau ở cái ngày Liên Thù về đến nhà, thì hết thảy họp ở phòng khách, dàn ra trận thế, kẻ tung người hứng, kéo cách nhau làm một cuộc biện luận gắt gao. Bọn người làng đều nuốt nước bọt, tò mò chờ nghe tin tức ; họ biết Liên Thù là người "tân đảng" và "ăn đạo" [ 3 ] , thuở nay không kể phải trái gì cả, thế nào hai bên cũng sẽ có sự đấu tranh nhau, không khéo còn sẽ gây nên một trò xem lạ bất ngờ.
Có tin nói Liên Thù về tới nhà vào buổi chiều, vào nhà rồi, đến trước linh sàng bà cụ chỉ cúi mình một cái. Bọn trưởng tộc liền làm theo kế hoạch đã định, gọi anh ta vào phòng khách, nói một tràng giáo đầu rồi mới vào đề, vả lại người này xướng, kẻ kia họa, chín người mười miệng, làm anh ta không còn có chỗ đặt mồm vào. Song nói mãi rồi cũng đến hết, cả phòng khách im lặng, mọi người đều dớn giác nhìn sửng ở mồm anh ta. Chỉ thấy Liên Thù không thay đổi nét mặt, trả lời gọn lỏn một câu:
"Đều được tất cả."
Thế là càng là điều họ không ngờ đến, gánh nặng trong lòng mọi người vừa trút xuống, hình như lại nặng thêm, họ thấy rất mực "khác hẳn", trở như có điều đáng lo ngại. Những người lòng dò nghe tin tức cũng đều thất vọng, bảo nhau: "Hắn nói "được tất cả", thế mới quái lạ cho! Để rồi xem xem!" Được tất cả, tức là đều theo cũ, thì còn có gì đáng xem, nhưng họ còn cứ muốn xem, sau lúc chạng vạng, đã thấy hơn hớn xúm đầy trước nhà.
Tôi cũng là một người trong số đi xem. Trước đưa đến một ít đèn nhang, đến chừng tôi vào nhà thì thấy Liên Thù đang mặc quần áo cho người chết. Thì ra anh ta là người thấp bé và gầy, khổ mặt dài, đầu tóc bờm xờm và râu mày đen rậm choán mất nửa cái mặt, chỉ còn thấy cặp mắt nhoáng sáng trong cái bóng đen ấy. Làm sãi rất khéo, đâu ra đó, như một người làm sãi chuyên môn, khiến người đứng xem đều phải khen phục. Theo lề thói ở Hàn Thạch Sơn, vào lúc này, người bên họ ngoại thế nào cũng kiếm chuyện bẻ bai bẻ họe cho kỳ được mới nghe ; thế mà anh ta lại cứ làm thinh, thấy bẻ thế nào thì sửa chữa theo thế ấy, nét mặt cũng không đổi khác. Một bà cụ đầu bạc đứng đằng trước tôi, bật ra tiếng trằm trồ khen ngợi.
Sau đó là lạy ; lại sau đó là khóc, hết thảy đàn bà đều lâm râm khấn vái. Sau đó nữa là nhập liệm ; lại sau đó nữa là lạy, lại là khóc, cho đến khi đóng nắp quan lại. Im lặng một phút, bỗng mọi người nhôn nhao lên, tuồng như có điều lấy làm quái lạ và thắc mắc. Tôi cũng tự dưng chợt nhận thấy: Té ra Liên Thù từ đầu đến cuối không hề nhỏ một giọt nước mắt, chỉ ngồi trên tấm đệm rơm, đôi mắt trong bóng đen lập lòe nhoáng sáng.
Việc nhập liệm đã làm xong trong cái không khí lấy làm quái lạ và thắc mắc ấy. Ai nấy đều bực tức, muốn ra về quách, nhưng Liên Thù lại cứ ngồi trên đệm rơm, ngẫm nghĩ. Thình lình, anh ta chảy nước mắt, rồi đến ấm ức, tức khắc lại khóc rống lên, giống như một con chó sói bị thương, đêm khuya gào thét trong đồng vắng, trong thê thảm xen lẫn tức giận và đau xót. Cái bộ điệu ấy, bình thường chưa hề có, cũng không ai liệu trước, nên mọi người đều đến khuyên giải anh ta, càng đến càng đông, cuối cùng dồn thành một đám. Nhưng anh ta vẫn cứ ngồi ỳ ra mà kêu gào, không động đậy như một ngôi tháp bằng sắt.
Mọi người đành ngơ ngác đi tán ra. Còn anh ta cứ khóc, khóc mãi, chừng đến nửa tiếng đồng hồ, thế rồi bỗng ngừng bặt chẳng chào mời ai hết, lằm lụi đi vào nhà trong. Sau đó có mấy người đi theo rình mò trở ra kể chuyện: Liên Thù đi vào phòng bà cụ, nằm trên giường, vả lại, như đã ngủ thiếp đi.
Cách hai ngày sau, trước hôm tôi định đi vào thành một hôm, nghe người làng ai nấy bàn luận rối rít, nói Liên Thù sẽ đem già nửa phần trong toàn số đồ đạc, đốt cho bà cụ, còn thì cho đứt người ở gái là kẻ lúc bà sống thì hầu hạ, lúc bà chết thì đưa đám, vả lại cả cái nhà cũng định cho mụ ấy ở nhờ không kỳ hạn. Bà con nội ngoại đều can ngăn, nói đến mỏi mồm rát cổ mà chung quy không được.
Có lẽ phần nhiều cũng bởi tánh tò mò, trên đường về đi ngang qua cổng nhà anh ta, sẵn giằm tôi lại tạt vào chia buồn. Anh ta mặc áo trắng xổ gấu ra tiếp tôi, nét mặt cũng vẫn cứ lạnh lùng như thế. Tôi cạn lời khuyên giải, anh chỉ vâng vâng dạ dạ, ngoài ra, vẻn vẹn đáp lại tôi một câu: "Cảm ơn anh có lòng tốt."
II
Hai chúng tôi gặp nhau lần thứ ba ở vào đầu mùa đông năm ấy. Trong một tiệm sách ở thành S, cả hai cùng một lúc gật đầu chào, thế kể là đã quen biết nhau. Nhưng làm cho chúng tôi bắt đầu gần gụi nhau lại ở vào cuối năm ấy, sau khi tôi mất chỗ làm. Từ đó, tôi năng đi lại với Liên Thù. Lẽ thứ nhất, tự nhiên vì ở dưng thấy buồn ; lẽ thứ hai, vì nghe người ta nói, anh ta dù tánh vốn lạnh lùng, chứ lại ưa thân cận với với người thất ý. Có điều việc đời chìm nổi không chừng, người thất ý không phải cứ thất ý mãi mãi, cho nên anh ta cũng ít có được người bạn lâu dài. Lời người ta nói đó quả không sai, tôi đưa danh thiếp vào là anh ra tiếp ngay. Cái phòng khách suốt hai căn, không có bày biện gì cả, ngoài một số bàn ghế, chỉ mấy cái giá để sách, ai cũng nói anh là một "tân đảng" đáng sợ, nhưng trên giá lại không có tân thư mấy. Anh vốn đã biết tôi mất chỗ làm ; nhưng chỉ nói vài câu khách sáo, rồi hai người lẳng lặng nhìn nhau, dần dần đến có vẻ nặng nề. Tôi chỉ thấy anh hút chóng hết một điếu thuốc quá, khi cái tàn thuốc sắp cháy đến ngón tay, anh mới ném trên đất.
"Hút thuốc đi." Khi anh thò tay lấy điếu thuốc thứ hai, bỗng nhưng nói.
Tôi cũng lấy một điếu, hút, nói chuyện dạy học và sách vở, nhưng vẫn thấy nặng nề khó chịu. Giữa lúc tôi đang muốn cáo lui, thì ngoài cửa có tiếng la rầy và tiếng chân bước, bốn đứa trẻ vừa trai vừa gái xồng xộc chạy vào. Đứa lớn tám chín tuổi, đứa nhỏ bốn năm tuổi, mặt mũi áo quần đều bẩn thỉu, vả lại xấu như ma lem. Thế nhưng đôi mắt Liên Thù lại bật lên ánh sáng vui vẻ, vội vàng đứng dậy, chạy vào cái buồng kề phòng khách, miệng nói:
"Lương lớn, lương nhỏ, lại cả đây! Hôm qua các em đòi cái kèn, tôi đã mua được đây."
Cả lũ trẻ theo chân ùa vào, tức thì mỗi đứa thổi một cái kèn và ùa ra, chẳng biết thế nào, ra khỏi cửa phòng khách lại đâm ra đánh nhau. Có một đứa khóc lên.
"Mỗi đứa một cái, cái nào cũng như cái nào. Đừng giành nhau nhá!" Liên Thù đi theo đằng sau bảo.
"Trẻ con nhà ai mà đông thế?" Tôi hỏi.
"Con của chủ nhà này đấy. Chúng nó mất mẹ, chỉ có bà nội."
"Thế chủ nhà ở có mỗi một mình à?"
"Phải. Vợ hắn ta chết đâu ba bốn năm rồi, không cưới vợ khác. - Nếu không thì người một thân một mình như tôi, ai chịu đem nhà thừa cho thuê?" Anh ta vừa nói, vừa lạnh lùng mỉm cười.
Tôi muốn hỏi anh ta tại sao đến giờ vẫn còn ở một mình, có điều vì chưa quen lắm nên không tiện hỏi.
Đã quen với Liên Thù rồi thì có thể nói chuyện được lắm. Anh ta nghị luận lung tung, vả lại thường thường có chỗ độc đáo. Cái điều làm người ta khó chịu lại là mấy ông khách đến với anh ta, chừng như là người đã đọc qua "Trầm luân" rồi, hay xưng mình là "người thanh niên bất hạnh" hoặc "người thừa" [ 4 ] , cứ khệnh khạng và ngông nghênh chất trên ghế bành, một mặt than vắn thở dài, một mặt nhăn mày hút thuốc vặt. Lại có lũ trẻ của chủ nhà, cứ hay rầy lộn nhau, đánh đổ bát đĩa, đòi quà bánh, làm người ta đinh tai nhức óc. Nhưng Liên Thù hễ thấy chúng nó một cái thì vẻ mặt lại không lạnh lùng như bình thường nữa, coi chúng nó còn quý báu hơn tánh mạng của mình. Thấy nói có một lần thằng Lương tý lên sởi, anh ta hốt hoảng đến nỗi bóng đen trên mặt càng thêm đen ; có ngờ đâu bệnh ấy là bệnh nhẹ, thế rồi về sau bị bà nội lũ trẻ đem rêu rao làm trò cười.
"Dù thế nào trẻ con cũng là tốt. Chúng nó toàn là ngây thơ chân thật..." Một hôm, hình như anh ta thấy tôi có hơi khó chịu, thừa dịp nói với tôi như thế.
"Cũng không hẳn thế đâu." Tôi trả lời cho qua chuyện.
"Không. Những tánh xấu của người lớn, trẻ con không có. Về sau đâm xấu, như anh thường hay công kích, là tại hoàn cảnh làm nên xấu. Chứ hồi đầu vốn không xấu, ngây thơ chân thật... Tôi cho rằng Trung Quốc còn có chỗ trông mong được, chỉ ở một chút ấy."
"Không. Nếu trong đứa bé không có cái mầm xấu, thì lớn lên sao có hoa quả xấu được? Ví như một hột giống, ở trong vốn có cái mầm cành lá hoa quả sẵn rồi, sau mọc lên mới có thể nảy ra các thứ ấy. Đâu có phải là chuyện vụt thình lình..." Tôi hồi đó nhân ngồi rỗi, bèn cũng làm như các cụ các ngài hễ hạ giã [ 5 ] một cái là ăn chay tụng niệm, đang đọc kinh Phật. Lẽ Phật tự nhiên là tôi không hiểu gì, có điều trót đã chẳng nghĩ tới nghĩ lui, cứ buột mồm nói.
Nhưng mà Liên Thù đã đâm tức, nhìn tôi một cái, không nói nữa. Tôi cũng không đoán được là anh không có câu trả lời được hay không thèm cãi. Song thấy anh lại tỏ ra cái thái độ lạnh lùng mà bấy lâu không thấy, cứ làm thinh làm thế hút luôn hai điếu thuốc ; đến khi anh lấy đến điếu thuốc thứ ba, tôi chỉ có việc chuồn.
Sự giận nhau đó qua ba tháng mới hết. Đại khái một phần vì quên đi, một phần vì chính anh ta rồi cũng bị đứa trẻ "ngây thơ chân thật" nó xúc phạm, thành ra anh thấy những lời tôi xúc phạm đến trẻ con cũng đáng tha thứ. Nhưng đó chỉ là điều tôi đề chừng. Lúc ấy là ở nhà trọ tôi sau cơn uống rượu, anh giống như tỏ vẻ buồn rầu, hơi ngước mặt lên nói:
"Nghĩ cũng hơi lạ thật. Khi tôi đi đến đây, trên đường phố thấy một thằng bé tí hon, cầm một cái lá lau chỉ vào tôi mà nói: giết chết! Nó vừa mới biết đi chập chững..."
"Đó là bởi hoàn cảnh làm nên xấu."
Nói xong, tôi hối ngay. Nhưng anh ta hình như không để ?, cứ việc uống rượu, thỉnh thoảng lại cứ việc hút thuốc.
"à tôi quên, không hỏi anh", tôi đánh lãng sang chuyện khác, "anh ít hay đi thăm ai, sao hôm nay lại cao hứng đi đến tôi? Chúng ta biết nhau hơn một năm rồi, anh đến đây với tôi lần này là lần thứ nhất."
"ấy, tôi cũng đang muốn nói cho anh biết: Mấy hôm trong dạo này, anh đừng đến nhà trọ tôi thăm tôi nhé. Chỗ tôi trọ đang có một lớn một bé ở đó, đều không ra hồn người!"
"Một lớn một bé? Là ai thế?" Tôi hơi lấy làm lạ.
"ấy là ông anh con nhà bác của tôi với thằng bé của ông. Ha ha, thằng bé cũng một cái thá như bố nó."
"Đó là lên thành thăm anh, luôn tiện đi xem chơi chứ gì?"
"Không. Thấy nói lên để bàn với tôi, định đem thằng bé lập tự cho tôi đấy."
"à! Lập tự cho anh?" tôi phải ngạc nhiên kêu lên, "chẳng là anh chưa lấy vợ à?"
"Họ biết tôi không lấy vợ. Nhưng điều đó không có quan hệ gì cả. Thực ra họ muốn lập tự cho cái gian nhà đổ nát ở Hàn Thạch Sơn của tôi. Ngoài đó ra, tôi không có một cái gì, anh vẫn biết, tiền vào tay là tiêu sạch. Chỉ độc có gian nhà đổ nát ấy. Sự nghiệp một đời của cha con họ là cốt đuổi con mụ ở nhờ cái nhà ấy ra khỏi."
Cái ý gai lạnh của câu nói anh ta, thật làm tôi ghê rợn. Tuy vậy, tôi cũng cứ yên ủi:
"Tôi xem người trong họ của anh cũng không đến nỗi thế. Chẳng qua tư tưởng của họ có hơi cũ một chút. Thì coi như năm nọ, lúc anh khóc dữ quá, họ chẳng đã hết lòng hết sức khuyên giải anh là gì?..."
"Sau khi cha tôi chết, vì muốn cướp cái nhà của tôi, họ bắt tôi ký tên vào văn tự, thế mà khi tôi khóc to, họ cũng làm như thế, cũng vây chung quanh hết sức khuyên giải tôi..." Anh ta ngước mắt đăm đăm nhìn lên, tự hồ muốn tìm lại trong quãng không cái quang cảnh lúc bấy giờ.
"Nói tóm lại, chỗ cốt yếu là tại anh không có con. à mà tại sao anh lại cứ không chịu lấy vợ?" Tôi bỗng tìm được câu nói day chiều, cũng là câu từ lâu tôi muốn hỏi, thấy lúc này thật là dịp tốt.
Anh ta ra điều lấy làm lạ cứ nhìn tôi, một chốc, quay xuống nhìn đầu gối, thế rồi lại hút thuốc không trả lời.
III
Thế nhưng, mặc dầu ở trong một tình cảnh tẻ ngắt như vậy, người ta cũng còn không để cho Liên Thù ở yên. Dần dần, trên mấy tờ báo lá cải có kẻ giấu tên công kích anh, trong học giới cũng thường có tin đồn về anh, mà không phải chỉ đem làm đầu câu chuyện như trước kia đâu, đại khái là đối với anh có tổn hại. Tôi biết đó là cái kết quả gần nay anh ưa phát biểu ? kiến trên báo, cũng chẳng để ý làm gì. Người thành S họ rất không muốn có ai phát ra những lời nghị luận không kiêng nể, hễ có, là họ ngấm ngầm quật ngay cho kỳ được, xưa nay vẫn thế, chính Liên Thù cũng biết thế. Nhưng đến mùa xuân, bỗng nghe nói anh bị ông hiểu trưởng giải chức. Cái tin đó làm tôi thấy hơi đột ngột ; thực ra, đó là việc xưa nay vẫn thế, chỉ vì tôi mong cho người minh quen may mà khỏi, nên mới lấy làm đột ngột đó thôi, có phải người thành S lần này ác hơn những lần khác đâu.
Lúc đó tôi cứ bận vì sự sống chính mình, phần thì đang lo dàn xếp việc đi làm giáo viên ở Sơn Dương mùa thu sắp tới, nên không có thời giờ đi thăm anh ta. Đợi đến lúc hơi rảnh rỗi, chừng gần ba tháng sau anh ta bị giải chức, mà tôi cũng không nghĩ tới sự đi thăm Liên Thù. Có một hôm, tôi đi qua đường phố lớn, tình cờ đứng lại trước cái sạp bán sách cũ, bỗng làm tôi sửng sốt, vì ở đó chưng bày bộ Sử ký sách ẩn do Cấp Cổ Các [ 6 ] in ra lần đầu, chính là sách của Liên Thù. Anh tuy không phải người chứa sách, nhưng ham sách, bộ sách này, theo anh, coi là sách tốt và quý, nếu chẳng phải cực chẳng đã quá lắm thì không dễ gì chịu đem bán đâu. Có lẽ nào anh mới thất nghiệp vài ba tháng mà đã túng kiết đến thế? Khốn nhưng từ hồi nào đến giờ anh hễ có tiền là tiêu hết liền tay, không hè để dành để dụm đồng nào. Thế rồi tôi quyết ý đi thăm Liên Thù, nhân tiện theo dọc đường phố mua một bình rượu cất [ 7 ] , hai gói lạc rang, hai gói đầu cá nướng.
Cửa phòng anh ta đóng kín mít, gọi mấy tiếng, chẳng thấy thưa. Tôi tưởng anh đang ngủ, lại gọi to hơn, và giơ tay đập cửa.
Đi vắng rồi! Bà nội lũ thằng Lương lớn, người đàn bà béo có con mắt ba khía kia, đứng trong cửa số đối ngay tôi, thò cái đầu bạc hoa ram ra, cũng lớn tiếng nói, hình như bực mình không chịu được.
Đi đâu thế? Tôi hỏi.
Đi đâu? Ai biết được? Ông ấy mà có thể đi đâu, hãy đứng đợi một lát, thế nào cũng sẽ về.
Tôi bèn đẩy cửa đi vào phòng khách của anh. Thật là một ngày chẳng thấy, như cách ba thu, cả cái phòng lạnh lẽo và trống hoang trống hoách, chẳng những đồ đạc không còn thừa mấy cái, cả đến sách vở cũng chỉ còn lại mấy cuốn đóng kiểu tây mà người thành S không ai thèm. Cái bàn tròn giữa nhà vẫn còn đó, là chỗ trước kia thường thường quây quần những tranh thanh niên buồn nản mà hăng hái, những tay kỳ sĩ ôm tài chẳng gặp thời, với lại lũ trẻ con lem luốc làm ầm ĩ, bây giờ lại thấy vắng ngắt, chỉ một lớp bụi mong mỏng phủ lên mặt bàn. Tôi bèn đặt bình rượu và gói lạc trên bàn, kéo một cái ghế bành, ngồi tựa bàn ngay trước cửa.
Thật đúng chỉ một lát, cửa phòng mở, một con người như cái bóng lẳng lặng tiến vào, chính là Liên Thù. Có lẽ là bởi gần tối, trông anh ta như đen hơn trước, nhưng dáng dấp thì lại vẫn như thế.
A! anh ở đây rồi! Đến đã lâu chưa? Anh ta như có vẻ vui mừng.
Không lâu mấy. Tôi nói, còn anh đi đâu thế?
Không đi đâu cả, chỉ chạy nhăng thôi.
Anh cũng kéo ghế ngồi cạnh bàn. Chúng tôi bắt đầu uống rượu, đồng thời nói về chuyện anh thất nghiệp. Nhưng anh lại không muốn nói nhiều về chuyện ấy ; anh cho rằng đó là việc mình cầm chắc sẽ xảy ra, cũng là việc mình thường gặp, không có gì đáng lạ, vả lại không có gì đáng nói. Theo lệ thường, anh cứ chăm chỉ uống rượu, lại vẫn cứ bàn luận về xã hội và lịch sử. Không hiểu sao, lúc đó tôi xem thấy cái giá sách trống rỗng, lại nhớ đến bộ Sử ký sách ẩn do Cấp cổ các in lần đầu, bỗng cảm thấy phớt qua một nỗi buồn rầu hiu quạnh.
Cái phòng khách của anh lạnh lẽo thế này... Dạo này vắng khách rồi sao?.
Không có nữa. Họ cho rằng đang lúc tâm tình tôi không khoái hoạt, thật có thể làm cho người ta không thích. Vườn hoa mùa đông, thì không có người đi chơi.... Anh uống luôn hai hớp rượu, lặng thinh nghĩ gì đó, vụt một cái, ngước mặt lên nhìn tôi hỏi rằng: Cái chỗ làm mà anh đang chạy chọt đó cũng lại không có câu kéo gì hẳn?....
Tôi tuy biết rằng anh đã hơi có chén, nhưng cũng đâm tức, đang định mở miệng nói, thì thấy anh vừa lắng tai nghe, liền vốc một vốc lạc rang đi ra. ở ngoài cửa có tiếng cười ồn của bọn thằng Lương lớn.
Nhưng anh vừa đi ra, thì tiếng lũ trẻ đã im phăng phắc, hình như chúng nó đều đã chạy đi đâu cả. Anh còn đuổi theo, nói gì đó, lại không nghe có tiếng trả lời. Anh cũng lẳng lặng trở vào như một cái bóng, đem một vốc lạc rang bỏ trở lại vào gói giấy.
Cả đến của mình chúng nó cũng không thèm ăn nữa. Anh hạ giọng xuống, nói như là cười nhạo.
Tôi thấy buồn bẽo quá, nhưng vờ mỉm cười, nói:
Liên Thù, tôi cho rằng anh chỉ chác lấy khổ não cho mình thôi. Anh coi người đời xấu quá....
Anh ta lạnh lùng cười một cái.
Câu tôi nói chưa hết đâu. Đối với cto là những người tình cờ đến thăm anh, anh cũng cho là vì rỗi rãi không việc gì thì đến đây, đem anh làm món đồ tiêu khiển phải không?.
Không. Nhưng cũng có lúc nghĩ thế. Hoặc là đến để tìm mẩu chuyện.
Thế thì anh có thể lầm rồi. Thật ra, không ai như thế đâu. Anh đã chính tay mình làm ra cái kén, rồi đem mình nhốt vào đó. Anh nên xem đời tươi sáng một chút thì hơn. Tôi nói với cái giọng than tiếc.
Cũng có lẽ là thế. Thế nhưng tôi hỏi anh: Cái tơ làm kén đó nó ở đâu ra? - Tự nhiên, ở đời thế nào cũng có người dường ấy, như bà nội tôi là thế đó. Tôi tuy không chia được giọt máu của bà, nhưng có lẽ sẽ thừa kế số phận của bà. Song le cái đó cũng chẳng hề chi, tôi đã sẵn sàng khóc qua một trận rồi....
Tôi lập tức nhớ lại cái tình cảnh lúc nhập liệm bà nội anh, nó như hiện ra trước mắt, rồi hỏi một cách lờ mờ:
Tôi vẫn không hiểu cái sự anh khóc to lúc bấy giờ....
Lúc nhập liệm bà tôi chứ gì? Anh không hiểu là phải. Anh ta vừa thắp đèn, vừa lạnh lạt nói: Tôi tưởng sở dĩ anh đi lại với tôi, cũng chỉ vì cái khóc lần ấy. Anh không biết đấy, bà ấy là mẹ kế của cha tôi ; còn mẹ đẻ cha tôi thì đã chết lúc cha tôi ba tuổi rồi. Anh ta nghĩ ngợi, làm thinh uống rượu, nhấm hết cả một cái đầu cá nướng.
Những việc đã qua ấy, tôi vốn không biết. Song le hồi tôi còn bé, tôi đã thấy có điều không hiểu được. Bấy giờ cha tôi còn sống, cảnh nhà còn khá, khoảng tháng giêng, lệ thường đem chân dung tổ tiên ra treo, cúng cấp linh đình. Hồi đó, được xem những bức vẽ chân dung ăn mặc sang trọng ấy, tôi coi như là hạnh phúc ít có cho cặp mắt mình. Nhưng cái u em bế tôi lại chỉ cho tôi một bức mà nói: Đây là chính bà nội của em, hãy lạy đi, để bà phù hộ cho em hay ăn chóng lớn. Tôi thật không hiểu sao mình đã rành rành có bà nội đó rồi, lại còn có chính bà nội nào nữa. Thế nhưng tôi yêu chính bà nội ấy, bà không già như bà nội ở nhà ; bà trẻ, trông xinh xắn, mặc áo quần màu đỏ thếp vàng, đội mũ khảm hạt trai, không khác mẹ tôi là mấy. Khi tôi nhìn bà, con mắt bà cũng tròng trọc nhìn tôi, ở khóe miệng mỗi lúc mỗi hiện thêm dáng cười: tôi biết chắc bà cũng yêu tôi lắm lắm.
Nhưng mà tôi cũng yêu bà nội hiện ở trong nhà, suốt ngày cặm cụi ngồi khâu dưới cửa sổ. Mặc dầu những khi ở trước mặt bà, tôi có hớn hở nô đùa đến đâu, gọi bà, cũng không gợi cho bà vui cười được, thường làm cho tôi thấy lạnh lùng quá, khác với các bà nội nhà người ta. Tuy vậy tôi vẫn yêu bà. Nhưng đến về sau, đối với bà, dần dần tôi thấy xa lạ ; đó không phải vì cớ đã lớn lên rồi, đã biết bà không phải là người đẻ ra cha mình, nhưng là vì cứ thấy suốt ngày suốt năm khâu mãi, khâu mãi, như cái máy, không khỏi sinh ra khó chịu. Song le, bà vẫn cứ như trước, vẫn cứ khâu ; săn sóc tôi, yêu nâng tôi, tuy ít thấy dáng cười, chứ cũng không quở mắng. Cho đến khi cha tôi qua đời, bà vẫn cứ thế ; về sau, chúng tôi hầu như nhờ cả vào cây kim sợi chỉ của bà mà sống, và mãi như thế cho đến khi tôi vào trường học....
Ngọn đèn lụi dần, dầu hỏa đã hầu cạn, anh bèn đứng dậy, mò dưới giá sách lấy ra một cái bình sắt tây nho nhỏ rót thêm dầu.
Chỉ trong một tháng nay, dầu hỏa đã lên giá hai lần rồi. Anh vừa xoay cái họng đèn vào vừa chậm rãi nói: Sự sống càng ngày càng thấy khó khăn. - Bà tôi sau rồi cũng vẫn cứ thế, cho đến ngày tôi tốt nghiệp, có việc làm rồi, sinh hoạt mới yên ổn hơn trước đôi chút ; e còn có lẽ cho đến ngày bà phát bệnh, thật tình không còn gắng gượng được nữa, mới phải nằm xuống...
Theo tôi tưởng thì tuổi già của bà cũng kể là không đến nỗi khổ lắm, hưởng thọ cũng chẳng ít, không cần tôi khóc làm chi. Huống chi những người khóc chẳng đã có nhiều rồi sao? Cả đến những người trước kia ra sức giày xéo bà cũng khóc, ít nhất là vẻ mặt cũng buồn thỉu buồn thiu. Ha ha!... không biết thế nào, hồi đó tôi lại đem thu gọn cả cuộc đời của bà ở trước mắt, cả cuộc đời của cái người chính tay mình gây nên cô độc, lại đặt vào miệng mà nhấm nháp. Vả lại thấy những người như thế còn có rất nhiều. Hạng người ấy làm cho tôi phải đau đớn khóc, có điều phần lớn cũng vì lúc bấy giờ tôi xử sự quá thiên về tình cảm...
Cái ý kiến của anh đối với tôi bây giờ, tức là cái ý kiến của tôi đối với bà tôi ngày trước. Nhưng mà cái ý kiến của tôi lúc đó, thực ra cũng không đúng. Nghĩa là chính mình tôi, bắt đầu từ khi hơi hiểu biết việc đời, thì thật đã dần dần xa lạ với bà tôi rồi....
Anh ta im lặng, kẹp điếu thuốc giữa hai ngón tay, cúi đầu ngẫm nghĩ. Ngọn đèn hơi run run, chao đảo.