Life of Luther

Chapter 6

Chapter 63,786 wordsPublic domain

Tiều rằng: Phép trị trước thai, Bao nhiêu chứng nhiệt, dùng bài thuốc lương. Đến như chứng lạnh không thường, Cấm dùng thuốc nóng, còn phương pháp gì? Môn rằng: Muốn rộng chước y, Bệnh thường, bệnh biến, phải suy cho tường. Thai tiền hợp dụng thuốc lương, Ấy là chỗ luận bệnh thường phép y. Đến như bệnh biến chứng kỳ, Quen theo thường trị, lấy gì làm công? Như đau lạnh thấu tử cung, Can khương, Quế, Phụ chẳng dùng sao an? Như đau máu chứa bàng quang, Phương nào khỏi hốt Đại hoàng, Đào nhân? Bệnh thời bệnh chịu đã ưng, Chỗ đau có cớ, nào từng phạm thai? Xưa rằng y biến thật tài, Ứng theo máy trị, nhiều loài, nhiều phương. Coi thiên "thai dựng biến thường" Việc người chữa nghén lắm đường bất kinh. Có người gọi chứng "ám kinh", Tháng không nhơ uế mà mình nên thai. Có người gọi chứng "cấu thai", Nghén rồi, kinh nguyệt xầy xầy máu ra. Máu ra mà nghén chẳng sa, Gọi rằng "thai lậu", thật là huyết dư. Có người nghén một năm dư, Hoặc mười bảy tám tháng chừ mới sinh. Gọi "thai bất trưởng" là danh, Bởi người khí huyết trong mình chẳng sung. Gặp thai mấy chứng lạ lùng, Khuyên người chẩn mạch cho ròng, khỏi sai. Lại còn chứng gọi "quỷ thai", "Trưng hà", "bĩ khối", cũng loài bụng to, Nhớt nhau hơi hết, giả đò giống thai. Máu hư chứa đọng ngày dài, Gọi rằng "súc huyết", giống thai một dường. Hỡi ôi bệnh biến khôn lường, Dị thường trong lại dị thường biết bao, Kinh rằng bảy bảy tuổi cao, Dứt đường thiên quý, lẽ nào có thai. Vợ người Tịnh Phổ là ai, Mình đà sáu chục tuổi ngoài, còn mang. Kinh rằng hai bảy tuổi nàng, Thông thường thiên quý mới toan gả chồng. Tô Khanh có gái má hồng, Mới mười hai tuổi lấy chồng liền thai. Coi hai dấu sử biên ngoài, Nghiệm vào sách thuốc, khá nài sao ôi! Học thời thông biến mà thôi, Biến không chừng hiện, nào rồi liệu lương. Luận người gặp biến cứ thường, Bệnh người gặp biến cứ thường sao xong. Muốn cho lớn mật, nhỏ lòng, Gặp cơn y biến nên công mới tài. Tiều rằng: Chẩn mạch trước thai, Chia tay hữu gái, tả trai đã đành. Tả di hoạt tật trai sinh, Hữu di hoạt tật gái sinh phải rồi. Còn e người nghén thai đôi, Hai tay sáu bộ, chủ coi mạch gì? Môn rằng: Ba bộ mạch đi, Âm dương hai chữ, thịnh suy khác hình. Gốc trong tạng phủ, năm hành, Sánh duyên chồng vợ, tỏ tình mẹ con. An ngôi chồng vợ, mẹ con, "Tung, hoành, thuận, nghịch" xây còn trong tay. Bộ âm mà mạch dương vầy, Chồng thừa ngôi vợ, lẽ này rằng "tung" Lại như vợ đến ngôi chồng, Bộ dương mà mạch âm thông, rằng "hoành". Con thừa ngôi mẹ nghịch danh, Mẹ thừa con ấy thuận tình ở nhau. Lặng lòng theo mạch xét cầu, Máy âm dương nhóm, biết đầu gái trai. Ba dương mạch thịnh, con trai, Ba âm mạch thịnh, gái thai hẳn hòi. Tả đới tung, ấy trai đôi, Hữu đới hoành ấy gái đôi hơi hòa. Tả dương mạch nghịch, trai ba, Hữu âm mạch thuận, gái ba nên hình. Muốn coi tạo hóa máy linh, Đọc lời bí quyết Mạch kinh truyền lòng.

Chẩn nhâm thần mạch quyết (Bí quyết xem mạch người có thai) Dịch nghĩa: Can chủ huyết chừ, phế chủ khí. Huyết là vinh chừ, khí là vệ, Âm dương đôi lứa chẳng so le, Hai tạng thông hòa cùng một lệ, Huyết suy, khí vượng quyết không thai. Huyết vượng, khí suy chắc có thai, Thốn Vi, Quan Hoạt, Xích hơi Sác, Đi lại trơn tru, hoặc tước trác: Ấy mạch con trẻ hiện hình rồi, Mới vài tháng nên chưa biết thôi! Tả mau là trai, hữu là gái, Trơn tru thông nhau, mau đi, lại Quan bộ hai tay Hoạt cùng Đại, Có thai nhưng có cũng là mới. Thấy hình con trẻ, hai là phải... Tay tả thấy tung hai đứa trai: Tay hữu thấy hoành gái một đôi; Tay trái mạch thuận, ba gái rồi... Thốn, Quan, Xích, hai bên đều nhau: Một trai, một gái, có sai đâu. Tay trái Trầm Thực, trai chắc hẳn... Tay phải Phù Thực, gái rõ màu. Dương mạch là trai, âm mạch gái, Rõ ràng dưới ngón nhớ kỹ lấy, Ba bộ Trầm đều chẳng còn ngờ, Xích bộ không dứt, có thai đấy! Mạch thê thừa phu gọi là hoành, Mạch phu thừa thê tung đã rành, Mạch tử thừa mẫu thực nghịch khí, Mạch mẫu thừa tử mới thuận tình. Huyền, Khẩn, Lao, Hoạt, Cường yên ổn, Trầm, Tế và Vi, chết đã rành.

Tiều rằng: Trong bụng đàn bà, Có thai mấy chứng sách đà rõ biên. Loại như tử giản, tử huyền, Tử thũng, tử khí, tử phiền, tử lâm. Bao nhiêu chứng "tử" hoài nhâm, Đều nhân hơi nghén gây thầm đau trong. Đã hay chứng giản là phong, Thũng khí là thấp, đều trong bụng truyền. Hơi đi nghịch ấy làm huyền, Nóng trong, nóng dưới làm phiền, làm lâm. Đàm nhiều làm chứng ác tâm, Dưới hư làm chứng đau xăm chuyển bào, Thai động thời bụng đau bào, Lậu thai bụng lớn, đều trào máu ra. Chứng thai động lậu khác xa, Động là khí bách, lậu là nhiệt thương, Thấy lời thai luận biến, thường, Phong đàm, nhiệt, thấp, nội thương khác ngoài. Khử tà mới giữ đặng thai, Chứng nào thuốc nấy, theo loài trị an. Chỉn lo một chứng mơ màng, Nghén chưa đủ số, bụng nàng liền đau. Nghén vừa bảy tám tháng sau, Thoắt la chuyển bụng, giống đau giả đò, Khiến nên thầy hốt thuốc dò. Chứng không thấy sách, lò mò lênh chênh. Nửa thời muốn hốt thôi sinh, E chưa đủ tháng hại mình người thai. Nửa thời muốn hốt an thai, E cạn ngày tháng hoa khai lỗi kỳ. Muốn cho khỏi tiếng tục y, Xin phân chừng ấy thuốc chi vạn tuyền (toàn)? Môn rằng: Mấy chứng thai tiền, Người đà biết đặng sách biên luận tường, Lệ thai mười tháng là thường, Đến ngày con đỏ tìm đường chun ra. Bụng đau cấp xúc rên la, Lưng đau như gãy, mắt hoa bay ngời. Ví như dưa chín cuống rời, Trái muồi mới thấy bay hơi thơm lành. Gọi rằng "chính sản" cho mình, Hợp coi chứng mạch, thẩm tình gần xa. Thai vừa bảy tám tháng qua, Thoắt la chuyển bụng ấy là lộng thai. Tên rằng "thí nguyệt", "lộng thai", Bụng đau xăm xỉa, lài xài nhặt lơi. Tục rằng đau dạo đường chơi, Con chưa đủ tháng, nào rời mẹ đâu. Làm thầy chẳng khá cầu mau, Hỏi tra ngày tháng trước sau cho rành. Chỉn coi một mạch ly kinh, Lộng thai, chính sản, tình hình khác xa. Nhâm thần đến bữa khai hoa, Dù không thuốc gục, đẻ ra cũng thành. Lẽ trời nào đợi thôi sinh, Thôi sinh lỗi dụng, hại mình người ta, Thử xem kén bướm, trứng gà, Đủ ngày rồi cắn mỏ ra con bầy, An thai lỗi dụng cũng gay, Đến ngày ưng đẻ, bị thầy cản con. Muốn nên đều lẽ vuông tròn, Lộng thai, chính sản, chừng còn tay ta, Đã Ly kinh ấy cho ra, Chưa Ly kinh ấy, hợp hòa máu hơi.

Ly kinh mạch quyết (Phép xem mạch ly kinh) Dịch nghĩa: Một hơi sáu lần đến: Ly kinh, Trầm Tế mà hoạt cũng cùng danh. Nửa đêm thấy đau chắc sắp cữ, Sớm mai, trưa mai sẽ thấy sinh.

Tiều rằng: Sinh sản có trời, Chửa rồi thời đẻ, nào lời ai than. Có sao còn kẻ sản nan, Coi loài súc vật đẻ an hơn người? Môn rằng: Ấy bởi người đời. Ở an lỗi đạo, trích trời hà can? Trời nào nỡ khiến sản nan, Sản nan hệ bởi mình nàng gây ra. Thánh xưa làm thuốc phụ khoa, Nhân nêu bảy chuyện đàn bà sản nan. Một nhân an dật, thanh nhàn, Chẳng quen khó nhọc việc vàng xông pha. Khiến nên khí huyết lấp sa, Đến kỳ chuyển bụng năm ba bảy ngày, Hai nhân phụng dưỡng vị dày Miếng ngon vật lạ liền ngày ăn no, Khiến nên thai béo bào to, Đến ngày sinh đẻ bụng gò đau lâu. Ba nhân dâm dục tình sâu, Nệm loan gối phụng liền hầu phòng lao, Gây nên lửa đốt tinh hao, Đến cơn chuyển bụng thai bào khô khan. Bốn nhân đẻ chút chậm gàn, Ưu nghi hai chữ buộc ràng vào thân. Khiến nên vấn bốc cầu thân, Lăng xăng thăm hỏi gây phần loạn sinh. Năm nhân nhuyễn khiếp trong mình, Bụng đau nhặt thúc cúi hình khom lưng. Ngửa nghiêng trằn trọc không chừng, Khiến trong cửa đẻ bít dừng khôn toan, Sáu nhân hai chữ sản hoàng, Con chưa quày xuống vội vàng rặn khan. Nghe lời bà mụ rặn khan, Khiến con ra ngược ra ngang lỗi đường. Bảy nhân hư phạp nội thương. Trong mình ốm yếu nào thường máu hơi. Sớm dùng sức rán rặn khơi, Nước nguồn khô rít, khôn dời con ra, Hỡi ôi phận sự đàn bà, Có nhân bảy ấy mới ra tai nàn. Sách y mấy chuyện sản nan, Điều biên phép trị rõ ràng, khá coi. Tử, sinh, người đẻ có mòi, Xưa truyền phép tướng hẳn hòi chẳng ngoa. Sản nan coi tướng đàn bà, Mặt là chừng mẹ, lưỡi là chừng con. Mặt tươi lưỡi thắm vuông tròn, Mẹ còn cứu mẹ, con còn cứu con.

Tướng sản phụ bí pháp, Diện dĩ hậu mẫu, thiệt dĩ hậu tử (Bí quyết xem đàn bà khi sinh, Mặt để xem mẹ, lưỡi để xem con) Dịch nghĩa: Người đẻ khó, triệu chứng sống chết gần giống nhau. Xem sắc lưỡi và mặt đỏ hay xanh, Lưỡi xanh và lạnh giá, mẹ sẽ chết. Lưỡi xanh mặt đỏ riêng con chết, Mặt xanh, lưỡi đỏ riêng mẹ sống, Môi miệng đều xanh, lại nhễu dãi, Mẹ con chết cả rõ rành rành.

Tiều rằng: Người mới đẻ rồi, Trong mình khí huyết hư đồi biết bao. Phép y điều lý dường nào, Chứng cùng mạch lý xin trao cho nhờ. Môn rằng: Sản hậu một khoa, Chứng nào thuốc nấy sách đà luận riêng. Ta nghe tâm pháp thầy truyền, Bệnh người sản hậu có nguyên ba điều. Một là máu trống lửa diêu (dao) Gây trong nóng táo, chứng nhiều cuồng kinh, Một là bại huyết vọng hành, Bụng đau đầu nhức, rêm mình tay chân. Một là ăn uống quá chừng, Gây nên mửa ỉa, trên ngưng, giữa đầy. Lại nghe sản hậu bệnh gay, Ba xung, ba cáp, chứng này nguy hung. Xung là bại huyết làm hung, Xung tâm, xung phế với xung vị tào. Cấp là mới đẻ hơi hao, Hoặc thổ, hoặc tả, hoặc trào buồn hôi. Tổ xưa dùng thuốc đẻ rồi, Có ba lời cấm, người ôi ghi lòng. Cấm thang Phật thủ chớ dùng, Bởi vì trong có vị Xuyên khung chẳng lành. Xuyên khung tán khí đã đành, Lại hay phát hãn, trong mình hư thêm. Cấm thang Tứ vật phương kèm, Địa hoàng, Thược dược chẳng hiềm dụng sinh. Địa hoàng sống lạnh máu kinh, Ngặt thời phải dụng, chín mình chế đi, Đẻ sau khí huyết đang suy, Thược dược chua lạnh, dùng thì tửu sao. Cấm dùng thang Tiểu sài hồ, Hoàng cầm tính mát, ngăn hồ huyết đi. Cho hay bệnh sản nhiều nguy, Mấy lời Kinh huấn chủ trì chớ quên. Đẻ rồi phát hãn chẳng nên, Chẳng nên làm hạ, chẳng nên lợi tiền (tiện), Mấy mùi tính dược chẳng hiền, Chớ cho phạm vị, phạm miền tam tiêu. Ví dù biểu chứng thấy nhiều, Đều làm giả tượng, rất nhiều trong hư. Xưa nay biết mấy tiên sư, Trị khoa sản hậu rõ từ Đan Khê. Đan Khê Chu tử ròng nghề, Đẻ sau khá bổ, chủ về máu hơi. Gốc làm khá bổ máu hơi, Dù nhiều chứng tạp, đều nơi ngon ngành. Gốc bền thời ngọn cũng xanh So cùng bá thuật khác tình thiên uyên, Có lời mạch quyết xưa truyền, Coi người sản hậu thấy duyên mất còn:

Chẩn sản hậu mạch quyết (Phép xem mạch đàn bà sau khi sinh) Dịch nghĩa: Mới sinh, mạch Hoạt, Hoãn là tốt, Thực, Đại, Huyền, Cấp chết tới nơi, Nếu được Trầm, Tiểu thì cũng tốt, Còn như Lao, Khẩn, mạng thôi rồi. Thốn khẩu: Sáu nhanh không đều, chết, Trầm, Tế sát xương thì sống thôi. Xét các mạch ấy, ghi cho rõ, Khắc cốt ghi tâm nhớ suốt đời.

Ngư rằng: Xin hỏi tiểu nhi. Một hai ba tuổi mạch đi chưa đầy. Đau thời coi Hổ khẩu tay, Trong ngón thực chỉ vằn bày chứng cai. Phép coi hữu gái, tả trai, Ngón trỏ ba lóng chia bày ba quan. Lóng gốc làm ải phong quan, Lóng nhì ải khí, ba bàn mệnh quan. Vằn xanh ngang thẳng gió can, Vắn điều đỏ ấy nóng ran trong mình. Vằn xanh đỏ loạn, chứng kinh, Vằn hồng nhợt nhạt, ấm mình bụng đau. Vằn còn lóng gốc trị mau, Vằn qua lóng giữa bệnh lâu hơi tà. Vằn to chạy tới ải ba, Bắn lên trảo giáp, ấy là chứng nguy. Vằn đen như mực loạn bì, Xâm vào ba ải, lương y chạy rồi. Phép coi chừng ấy mà thôi, Còn phương nào nữa vốn tôi chưa rành. Môn rằng: Con nít mới sinh, Máu hơi chưa đủ, mạch hình khó coi. Giáp năm có biến chưng rồi, Gân xương mạch lạc lần hồi mở ra. Nhân Sư rành trị nhi khoa, Trước coi khí sắc, sau là mạch kinh. Tướng xem trên huyệt Tình minh, Thấy trong tạng phủ bệnh tình vạy ngay. Mạch thời chẩn một ngón tay, Chuyên coi một mạch Sác rày có không. Sác cùng chẳng sác coi ròng, Sác nhiều thời nhiệt, Sác không thời hàn. Sác trong Phù, ấy phong truyền, Sác trong Trầm, Hoãn, thấp hàn chứng pha. Sác trong thấy Sắc bệnh tà, Sác trong thấy Hoạt, ấy là đàm lung. Phép coi chừng ấy cũng xong, Chẳng còn bộ vị ngoài trong nhộn nhàng.

Tướng tiểu nhi bí pháp ca. Trung chính tình minh huyệt tại tỷ, Thượng mục chủy hoành giao xứ (Bài ca về phương pháp bí truyền xem bệnh trẻ con. Chỗ chính giữa huyệt Tình minh trên mũi, nơi hai đầu mắt giao nhau) Dịch nghĩa: Nơi đầu sống mũi, chỗ hai mắt giao nhau, Chính là huyệt Tình minh, xem cho kỹ càng. Sắc đỏ thuộc tim (tâm), sắc trắng thuộc phổi (phế), Sắc vàng thuộc lá lách (tỳ), sắc xanh thuộc gan (can), Sắc đen thuộc thận, nên phân biệt rõ; Hoặc chạy ngang, hoặc chạy dọc, đó là những đường gân. Gân đỏ hiện lên, đó là bệnh tâm nhiệt, Gân xanh nổi, đó là bệnh phong (can phong), Gân vàng phần nhiều là bệnh tỳ vị, Gân đờm là đờm tích tụ lại, gân đen là bị lạnh. Gân chạy dọc là bệnh từ dưới lên, chạy ngang là bệnh từ trên xuống. Manh mối của căn bệnh bộc lộ ở chỗ đó.

Tiểu nhi mạch ca (Bài ca về mạch trẻ con) Dịch nghĩa: Trẻ con có bệnh phải xem mạch, Một ngón tay ấn ba bộ mạch, giữ hơi thở cho điều hòa. Mạch đi Trì là lạnh, đi Sác là nóng; xưa nay vẫn truyền, Đi Phù là bệnh phong, đi Trầm là bệnh tích; nên biết như thế. Huyệt Nhân nghênh tay trái chủ chứng ngoài, Huyệt Khí khẩu tay phải chủ bệnh trong. Ngoài thì xem các chứng phong, hàn, thử, thấp. Trong thì xem ăn và bú bị đờm tích không trôi. Mạch đi Hồng và Khẩn, không có mồ hôi là bệnh thương hàn, Đi Phù và Hoãn, có mồ hôi là bệnh thương phong, Đi Phù và Hồng, phần lớn là bị bệnh phong nhiệt, Đi Trầm và Tế là cơm sữa không tiêu, Đi Trầm và Khẩn là trong bụng đau không ngớt, Đi Huyền và Khẩn là bị đau trong cổ họng, Đi Khẩn và Xúc là sắp lên sởi, đậu, Đi Khẩn và Sác là bệnh kinh phong, Đi Hư và Nhuyễn là bị mạn kinh, co giật nhẹ, Đi Khẩn và Thực là bị phong giản, co giật gấp, Đi Nhuyễn và Tế là bị chứng cam và giun sán. Đi Lao và Thực là bị bí đại tiện và tiểu tiện, Đi Khâu thì đại tiểu tiện có máu, Đi Hư và Nhu thì bị bệnh khí và chứng giật mình, Đi Hoạt là bị lạnh, cảm sương, cảm nắng, Đi Huyền và Cấp là bị "phải vía". Mạch lớn nhỏ không đều là mạch xấu, Trong một hơi thở đến hai lần là thoát, ba lần là thốt, Bốn lần là tổn, năm lần gọi là hư, Sáu lần là bình thường, gọi là không bệnh, Đến bảy, tám lần bệnh còn nhẹ, Đến chín mười lần là bệnh đã nặng, sốt dữ, Đến mười một, mười hai lần thì chắc là chết. Phép này xem cả vạn lần không sai một.

Ngư rằng: Sách gọi thuần dương, Về phần con nít bệnh thường nhiệt dâm, Đã thuần dương vô âm, Sao còn phát lãnh trầm trầm cớ chi? Môn rằng: Tạo hóa máy đi, Âm dương nghĩa kín mấy suy đặng rành, Chữ âm ấy thật âm tinh, Âm tinh đâu có trong mình tiểu nhi. Chừng nào thiên quý đến kỳ, Tinh thông mới đặng sánh nghì dương âm. Sách rằng thuần dương vô âm. Thật câu chữ luận tinh âm chưa đầy. Ấy nên bệnh trẻ thơ ngây, So cùng người lớn chỗ gây chẳng đồng, Bảy tình vốn chẳng hại trong, Sáu dâm ngoại cảm cũng không luận tà. Một mai có bệnh chẳng qua, Kinh, cam, thổ, tả, tích hòa trường đông. Cảm thời hàn, nhiệt, thử, phong, Ngoại khoa: đậu chẩn, sang cùng đơn ban. Vốn không tạp bệnh nhộn nhàng, Có mười lăm chứng nguy nàn dễ coi. Tử, sinh ngoài đã lố mòi, Nào chờ chẩn mạch hợp coi quẻ dò.

Tiểu nhi nguy chứng thập ngũ hậu (Mười lăm chứng nguy ở trẻ con) Dịch nghĩa: Trên mi mắt nổi tia đỏ, Tia đỏ chạy suốt cả con ngươi, Mỏ ác sưng phù lên, Kể cả có khi trũng xuống, Mũi khô đen xạm, Bụng to nổi gân xanh, Mắt thường trợn ngược, Nhìn không chuyển con ngươi, Móng chân, móng tay đen, Đột nhiên mất tiếng, Lưỡi thè ra ngoài miệng, Nghiến răng, cắn người khác, Thở gấp, miệng ngáp như cá, Khóc không ra tiếng, Giun quài ra mồm, mũi, Ấy đều là những chứng chết. Dù cho dùng thuốc cứu ngay, Thì mười đứa cũng chết cả mười

Tiểu nhi phát nhiệt trong mình, Có mười sáu chứng trọng khinh khác thường, Tuy rằng bệnh chứng nhiều phương, Chẳng qua hư thực hai đường ấy thôi. Chứng hư, chứng thực xét coi, Sách đà rõ luận hẳn hòi chẳng sai. Cho hay mười bệnh anh hài, Chín hư một thực gái trai đều còn. Ví như đầu tháng trăng non, Lòng gương mới tượng, rạng tròn chưa ra. Nên xưa làm thuốc nhi khoa, Bổ nhiều, tả ít, theo tà thực hư, Cảm ơn liệt vị tổ sư, Tấm lòng hoạt ấu nhân từ biết bao. Chế ra làm tễ sẵn trao, Bệnh nào thuốc nấy, uống vào thấy hay. E sau thế tục nhiều thầy, Chẳng thông y thuật hại bầy tiểu sinh. Hỡi ôi học đạo Kỳ Huỳnh (Hoàng), Mấy ai trị bệnh thẩm tình thực hư. Xin coi phương sẵn Nhân Sư, Đỡ cơn bệnh rộn tầm tư nhọc lòng. Sau rồi rõ chước biến thông, Máy huyền phép diệu dù lòng sử đương.

Tiểu nhi bệnh chứng dụng dược ca (Bài ca về việc dùng thuốc chữa bệnh trẻ con) Dịch nghĩa: Nghề y đã có riêng một khoa chữa bệnh trẻ con, Phải nhớ kẻo khi cần không biết làm thế nào. Sài giật, phát nóng cùng là ho có đờm, Bảo mệnh đơn nhất thiết phải cho uống. Cấp kinh, mạn kinh, hai chứng ấy phải dùng Tử kim đĩnh. Sởi đậu chưa mọc, phải dùng thang Trợ vị, Môi miệng bị lở, nên dùng thang Hóa độc. Sốt liên miên, nên dùng Bảo long tinh tinh tán. Nôn mửa, phần nhiều nên dùng Thiên châm hoàn. Các chứng cam thường nên dùng Lô hội. Các thầy thuốc nên nhớ, khỏi phải tìm tòi.

Lối này Ngư nói với Tiều: Bấy lâu học hữu nghe nhiều phương hay. Phận ta gặp bạn còn may, Nhân Sư kết bạn lại hay dường nào. Bạn thầy tài đức bậc nào, Thầy theo chơi muộn, biết bao giờ về. Môn rằng: chẳng những tài nghề, Bạn thầy như ngọc chương khuê đức tuyền. Ngươi, ta mong học hy hiền, Thầy ta hy thánh, bạn nguyền hy thiên. Bạn thầy mong học hy thiên, Có nghe tên họ, đời truyền hai ông. Hiệu xưng rằng Hưởng Thanh Phong, Rằng Ảnh Minh Nguyệt, hai ông bạn thầy, Thanh Phong cầm tiết chẳng day, Bụi nhơ chẳng chút, so tày giá trong. Lấy lòng tạo hóa làm lòng, Cho người nghe tiếng khó mong thấy hình. Thanh Phong vốn đã sạch mình, Lại thêm Minh Nguyệt tài lành thú cao. Tốt thay Minh Nguyệt thú cao, Đường trong trời đất chỗ nào chẳng thông, Lòng gương soi khắp non sông, Đêm thanh cảnh vắng bạn cùng văn nhân, Hai ông khí tượng tinh thần, Một người một vẻ, mười phân rõ ràng. Ở theo một bậc thanh nhàn, Lành trau đạo vị chẳng mang lụy đời. Thầy ta thường bữa ngâm chơi, Khen hai ông ấy có lời thơ hay:

Hưởng Thanh Phong tự ngâm (Nhập Môn tụng truyền) Dịch nghĩa: Tiếng ra đời bụi chẳng nhơ mình, Người triết yêu ta một chữ thanh. Nhẹ thổi chòi trời tan tiếng oán, Sạch nồng đãy đất giúp hơi sinh. Êm lòng Sào, Hứa chơi khe biếc, Mát mặt Di, Tề ngó núi xanh. Ba chục sáu cung đâu chẳng biết, Đức làm quân tử đặng thơm danh.

Ảnh Minh Nguyệt tự ngâm (Nhập Môn tụng truyền) Dịch nghĩa: Khỏi vòng hối thực thấy ra mình, Đời tối trông ta một chữ minh. Bóng thỏ ven mây lồng đất trắng, Gương thiềm đáy nước vẽ trời xanh, Ra vào chẳng nhọc người dong bước, Tròn méo nào cho vật giấu hình. Hai chục tám sao đều chạy mặt, Theo thời biết mấy lúc hư dinh (doanh).