Ngoại trưởng Antony J. Blinken “Một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương Tự do và Rộng mở”

Part 2

Chapter 23,820 wordsPublic domain (Wikisource)

Chúng tôi cũng sẽ khuyến khích thương mại công bằng và có khả năng thích ứng. Đó là câu chuyện về Cơ chế Một cửa ASEAN, một dự án mà Hoa Kỳ đã hỗ trợ nhằm xây dựng một hệ thống thông quan tự động một cửa cho toàn bộ khu vực. Dự án này đã góp phần tinh giản thương mại thông qua việc thúc đẩy tính minh bạch và an toàn, giảm chi phí cho các doanh nghiệp, và giảm giá thành cho người tiêu dùng. Đồng thời, việc chuyển từ thủ tục hải quan giấy sang thủ tục hải quan số đã giúp cho dòng chảy thương mại xuyên biên giới tiếp tục hoạt động, ngay cả trong các đợt phong tỏa.

Trong năm đầu tiên xảy ra đại dịch, các quốc gia tham gia tích cực nhất trong nền tảng này đã chứng kiến hoạt động thương mại của mình tăng lên 20%, trong khi hầu hết các hoạt động thương mại xuyên biên giới khác đều bị sụt giảm. Tại Hội nghị Thượng đỉnh Hoa Kỳ-ASEAN vào tháng 10, Tổng thống Biden đã cam kết việc Hoa Kỳ sẽ tiếp tục hỗ trợ cho Cơ chế Một cửa ASEAN. Chúng tôi sẽ phối hợp cùng với các đối tác nhằm giúp các chuỗi cung ứng của chúng ta trở nên an toàn hơn và có khả năng thích ứng tốt hơn. Tôi nghĩ qua đại dịch lần này, tất cả chúng ta đều đã thấy rằng các chuỗi cung ứng dễ bị tổn thương như thế nào, những sự gián đoạn có thể gây tổn hại đến mức nào, từ tình trạng thiếu khẩu trang cho đến vi mạch, hay cảnh hàng hóa bị chất đống tại các cảng.

Hoa Kỳ đã và đang đi tiên phong trong các nỗ lực nhằm kết nối cộng đồng quốc tế lại với nhau để tìm cách giải quyết các nút thắt, tăng cường khả năng thích ứng tốt hơn trước những chấn động trong tương lai. Tổng thống Biden đã chủ trì một Hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo để bàn về khả năng thích ứng của các chuỗi cung ứng. Phó Tổng thống Harris cũng đã coi đây là nội dung trọng tâm chính trong các buổi làm việc của bà trong chuyến công du tới khu vực này. Bộ trưởng Thương mại Raimondo cũng đã bàn cách giải quyết vấn đề này cùng với các nước Úc, New Zealand, Singapore và Malaysia trong khuôn khổ chuyến công tác mới đây. Và Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Katherine Tai cũng đã thành lập Nhóm Đặc trách liên ngành về thương mại chuỗi cung ứng, đồng thời nêu vấn đề này trong chuyến công tác của bà đến Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ. Trong năm tới đây, tôi cùng Bộ trưởng Thương mại Gina Raimondo cũng sẽ hợp tác để tổ chức một sự kiện cho những nhà lãnh đạo đến từ các chính phủ và khu vực tư nhân trên toàn thế giới nhằm thảo luận cách giải quyết những vấn đề này tại Diễn đàn Chuỗi cung ứng Toàn cầu. Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, với tư cách là trung tâm của rất nhiều hoạt động sản xuất và thương mại trên toàn cầu, sẽ đóng vai trò cốt lõi trong tất cả những nỗ lực này.

Cuối cùng, chúng tôi sẽ giúp thu hẹp khoảng cách chênh lệch về cơ sở hạ tầng. Trong khu vực của chúng ta cũng như trên toàn thế giới có một khoảng cách chênh lệch lớn giữa nhu cầu về cơ sở hạ tầng với những gì hiện có. Cảng, đường xá, lưới điện, băng thông rộng – tất cả đều là những nền tảng xây dựng nên thương mại toàn cầu, hoạt động giao thương, sự kết nối, cơ hội và sự thịnh vượng. Và những yếu tố này rất cần thiết cho sự phát triển bao trùm của khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Tuy nhiên, chúng ta vẫn đang nghe thấy những lo ngại ngày càng tăng từ các quan chức chính phủ, các doanh nghiệp, người lao động và cộng đồng ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương về những hậu quả xảy ra khi cơ sở hạ tầng không được phát triển đúng cách, ví dụ như khi các hợp đồng phát triển hạ tầng được trao thông qua các quy trình không minh bạch và tham nhũng, hoặc các dự án hạ tầng được triển khai bởi các công ty nước ngoài, trong đó các công ty này đưa lao động từ nước mình sang, khai thác tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường, và đẩy những cộng đồng địa phương vào cảnh nợ nần.

Các quốc gia trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương muốn có cơ sở hạ tầng tốt hơn. Tuy nhiên, nhiều quốc gia cảm thấy cái giá phải trả quá đắt, hoặc cảm thấy bị áp lực phải chấp nhận các thỏa thuận bất lợi dựa trên những điều khoản do người khác đặt ra, nếu không sẽ không có thỏa thuận nào cả. Vì vậy, chúng tôi sẽ hợp tác với các nước trong khu vực nhằm cung cấp cơ sở hạ tầng chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn cao mà người dân xứng đáng được hưởng. Trên thực tế, chúng tôi đã và đang triển khai việc này.

Vừa trong tuần này, cùng với Úc và Nhật Bản, Hoa Kỳ đã công bố một dự án hợp tác với Liên bang Micronesia, Kiribati và Nauru trong việc xây dựng một tuyến cáp ngầm dưới biển mới nhằm cải thiện kết nối Internet đến các quốc đảo ở Thái Bình Dương nói trên. Và kể từ năm 2015 đến nay, các thành viên của Nhóm Bộ Tứ đã cung cấp hơn 48 tỷ đô la tài trợ có bảo đảm của chính phủ cho các dự án phát triển hạ tầng trong khu vực. Khoản tiền này được đầu tư cho hàng nghìn dự án tại hơn 30 quốc gia trong nhiều lĩnh vực, từ phát triển nông thôn cho đến năng lượng tái tạo. Các dự án này đang mang lại lợi ích cho hàng triệu người.

Nhóm Bộ Tứ gần đây đã thành lập một nhóm điều phối hạ tầng nhằm xúc tiến đầu tư hơn nữa, đồng thời cũng đang dự định phối hợp với Đông Nam Á để phát triển hạ tầng cũng như triển khai nhiều ưu tiên chung khác. Hoa Kỳ sẽ còn làm nhiều hơn thế. Sáng kiến Xây dựng lại Thế giới Tốt đẹp hơn mà chúng tôi đưa ra cùng với các đối tác trong Nhóm G7 vào tháng 6 vừa rồi là một sáng kiến cam kết huy động hàng trăm tỷ đô la các nguồn tài chính minh bạch và bền vững trong những năm tới. Đồng thời, cùng với Úc và Nhật Bản, chúng tôi cũng đã khởi động Mạng lưới Điểm xanh, là một sáng kiến nhằm cấp chứng nhận cho các dự án hạ tầng chất lượng cao đáp ứng các tiêu chuẩn do G20, OECD và các tổ chức khác đưa ra, từ đó thu hút thêm các nhà đầu tư.

Thứ tư, chúng tôi sẽ góp phần xây dựng một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương có khả năng thích ứng cao hơn. Đại dịch COVID-19 và cuộc khủng hoảng khí hậu đã cho thấy tính cấp bách của nhiệm vụ này. Đại dịch đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm nghìn người trong khu vực, trong đó có hơn 143.000 nam giới, phụ nữ và trẻ em ở Indonesia. Đại dịch cũng đã gây ra thiệt hại kinh tế rất lớn, từ việc các nhà máy phải đóng cửa cho đến sự đình trệ của các hoạt động du lịch.

Hoa Kỳ vẫn luôn đồng hành cùng với người dân trong khu vực trên từng bước đi, ngay cả khi chúng tôi đang phải vật lộn với đại dịch này ở đất nước mình. Trong số 300 triệu liều vắc xin an toàn và hiệu quả mà Hoa Kỳ đã phân phối trên toàn thế giới, chúng tôi đã chuyển hơn 100 triệu liều cho khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, trong đó có hơn 25 triệu liều đã được chuyển đến Indonesia. Dự kiến đến cuối năm tới, chúng tôi sẽ viện trợ hơn 1,2 tỷ liều vắc xin cho toàn thế giới. Đồng thời, chúng tôi cũng đã hỗ trợ bổ sung hơn 2,8 tỷ đô la cho các nước trong khu vực nhằm cứu người, bao gồm 77 triệu đô la cho Indonesia, từ trang bị bảo hộ cá nhân cho đến ô-xy y tế cho các bệnh viện. Và chúng tôi cung cấp những hỗ trợ này hoàn toàn miễn phí, không đi kèm bất cứ ràng buộc nào. Bằng cách thực hiện hầu hết các khoản hỗ trợ này thông qua COVAX, chúng tôi cũng đảm bảo các khoản hỗ trợ được phân phối công bằng, dựa trên nhu cầu thực tế, chứ không dựa trên yếu tố chính trị.

Đồng thời, chúng tôi cũng đang phối hợp cùng với các đối tác nhằm chấm dứt đại dịch này. Đối tác Vắc xin của Nhóm Bộ Tứ đang đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu này. Chúng tôi đang phối hợp cùng nhau trong việc cung cấp tài chính, sản xuất, phân phối và thực hiện tiêm chủng được càng nhanh càng tốt. Từng quốc gia trong khu vực đều đang đẩy mạnh việc này. Ấn Độ gần đây đã cam kết sản xuất thêm 5 tỷ liều vắc xin từ nay đến cuối năm 2022. Hàn Quốc và Thái Lan cũng đang đẩy mạnh hoạt động sản xuất vắc xin của mình.

Chúng tôi cũng đang tập hợp các doanh nghiệp tư nhân cùng sát cánh với mình. Tại một hội nghị bộ trưởng mà tôi chủ trì vào tháng trước, chúng tôi đã công bố một sáng kiến với tên gọi Binh đoàn Chống COVID Toàn cầu. Đây là một liên minh giữa các công ty hàng đầu tham gia đóng góp về chuyên môn, công cụ và năng lực nhằm hỗ trợ cho các nỗ lực về hậu cần và vắc xin tại các nước đang phát triển, bao gồm cả các công đoạn cuối cùng, và đây là yếu tố then chốt để đảm bảo việc tiêm chủng được thực hiện. Đây cũng là một vấn đề mà chúng ta đang thấy ở nhiều nơi trên khắp thế giới, khi mà việc sản xuất vắc xin được đẩy mạnh, vắc xin được đưa đi phân phối, nhưng sau đó lại không được tiêm cho người dân do gặp phải những khó khăn ở công đoạn cuối cùng, các vấn đề về mặt hậu cần cần được giải quyết, và đó chính là những gì đang được chúng tôi tập trung.

Đồng thời, song song với việc chống lại con vi-rút này, chúng tôi cũng đang xây dựng lại các hệ thống y tế tốt hơn cho khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, cũng như trên toàn thế giới, nhằm ngăn chặn, phát hiện và ứng phó với đại dịch tiếp theo. Điều quan trọng là, giờ chúng tôi thực sự biết cần làm điều này như thế nào. Suốt nhiều thập kỷ qua, Hoa Kỳ đã và đang phối hợp cùng với các đối tác nhằm củng cố các hệ thống y tế trong khu vực. Riêng tại ASEAN, chúng tôi đã đầu tư hơn 3,5 tỷ đô la cho lĩnh vực y tế công cộng trong vòng 20 năm qua. Và chúng tôi có nhiều điều để tự hào về những hoạt động này, từ những cải thiện đáng kể trong lĩnh vực y tế công cộng cho đến những mối quan hệ sâu sắc mà chúng tôi đã gây dựng trên thực tế.

Một trong những hỗ trợ của chúng tôi cho ASEAN được thể hiện qua việc Tổng thống Biden gần đây đã công bố Hoa Kỳ sẽ cung cấp 40 triệu đô la cho Sáng kiến Tương lai Y tế Hoa Kỳ-ASEAN, và sáng kiến này sẽ thúc đẩy việc hợp tác nghiên cứu, củng cố các hệ thống y tế, đồng thời đào tạo thế hệ chuyên gia y tế mới.

Hoa Kỳ cũng đang hỗ trợ cho việc phát triển một Hệ thống Điều phối ASEAN về các Tình huống Y tế Công cộng Khẩn cấp. Hệ thống này sẽ giúp các nước trong khu vực phối hợp ứng phó với các tình huống khẩn cấp về y tế trong tương lai. Và Văn phòng khu vực Đông Nam Á đầu tiên của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật Hoa Kỳ, mà chúng tôi mới mở tại Hà Nội vào mùa hè vừa rồi, hiện đang hỗ trợ cho những nỗ lực này trên thực tế.

Cuộc khủng hoảng khí hậu, dĩ nhiên, cũng đang là một thách thức toàn cầu khác mà chúng ta phải cùng nhau giải quyết. Người dân trong toàn bộ khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang dần cảm nhận được tác động thảm khốc của cuộc khủng hoảng này: 70% thiên tai trên toàn thế giới xảy ra ở khu vực này, và chỉ riêng trong năm 2019 đã có hơn 90 triệu người trong khu vực đã bị ảnh hưởng bởi các thiên tai liên quan đến khí hậu. Trong năm 2020, tại khu vực duyên hải tiếp giáp Thái Bình Dương, bang California đã phải hứng chịu 5 trong số 6 đợt cháy rừng lớn nhất trong lịch sử của bang này.

Giờ đây, nhiều quốc gia phát thải nhiều nhất trong khu vực cũng nhận thấy sự cần thiết phải hành động khẩn cấp, như những gì chúng ta đã thấy thông qua những cam kết đầy tham vọng mà các nước đưa ra tại Hội nghị COP26. Tại Glasgow, 15 quốc gia ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, trong đó có Indonesia, đã ký Cam kết Giảm phát thải Mêtan Toàn cầu, với mục tiêu cắt giảm 30% lượng phát thải trong vòng 10 năm tới. Nếu tất cả các quốc gia phải thải nhiều nhất cũng tham gia thực hiện cam kết này, điều này sẽ giúp giảm thiểu quá trình nóng lên toàn cầu thậm chí còn hiệu quả hơn việc chấm dứt hoạt động của tất cả tàu thuyền trên biển và dừng hoạt động của tất cả máy bay trên bầu trời.

Tuy nhiên sẽ là sai lầm nếu chỉ nhìn biến đổi khí hậu thông qua lăng kính các mối đe dọa. Đây là lý do tại sao: mọi quốc gia trên hành tinh này đều phải giảm lượng phát thải và chuẩn bị cho những tác động không thể tránh khỏi của biến đổi khí hậu. Và sự chuyển đổi cần thiết sang những công nghệ mới, các ngành công nghiệp mới cũng mang lại cơ hội chỉ có một lần trong đời cho phép chúng ta tạo ra những việc làm mới với thu nhập cao.

Chúng tôi tin rằng cơ hội này sẽ xuất hiện trong toàn bộ khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, và chúng tôi hiện đang hợp tác cùng với các đối tác của mình để nắm bắt cơ hội đó. Chỉ riêng trong 5 năm gần đây, Hoa Kỳ đã huy động hơn 7 tỷ đô la đầu tư vào năng lượng tái tạo trên toàn khu vực. Trong quá trình chúng tôi đẩy mạnh những nỗ lực của mình, chúng tôi cũng phát huy mạng lưới các mối quan hệ đối tác đặc biệt mà chúng tôi đã gây dựng, đó là các tổ chức đa phương, các nhóm vận động chính sách, các doanh nghiệp và các quỹ từ thiện, các nhà nghiên cứu và các chuyên gia kỹ thuật.

Một ví dụ là Sáng kiến EDGE Sạch (Tăng cường Phát triển và Tăng trưởng thông qua Năng lượng sạch) mà chúng tôi sẽ khởi động trong tháng này, trong đó tập hợp chuyên môn và các giải pháp đổi mới của cả Chính phủ Hoa Kỳ lẫn các doanh nghiệp tư nhân nhằm hỗ trợ thúc đẩy các giải pháp năng lượng sạch trên toàn khu vực. Hay một ví dụ nữa là hơn 20 triệu đô la mà Tổng thống Biden gần đây đã cam kết hỗ trợ cho sáng kiến Tương lai Khí hậu Hoa Kỳ-ASEAN, hoặc khoản tài trợ trị giá 500 triệu đô la mà Tập đoàn Tài chính Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ công bố vào tuần trước nhằm hỗ trợ xây dựng một cơ sở sản xuất điện mặt trời tại Tamil Nadu, Ấn Độ.

Nhà máy này, do công ty First Solar của Mỹ xây dựng, sẽ có công suất hàng năm là 3,3 Gigawatt. Con số này đủ để cung cấp điện cho hơn hai triệu gia đình. Việc xây dựng và vận hành cơ sở này cũng sẽ tạo ra hàng nghìn việc làm ở Ấn Độ, phần lớn là cho phụ nữ, cùng với hàng trăm việc làm khác ở Hoa Kỳ. Và đó chỉ là một trong nhiều cách mà Hoa Kỳ sẽ giúp Ấn Độ đạt được mục tiêu đầy tham vọng, đó là đạt mức công suất năng lượng tái tạo 500 Gigawatt vào năm 2030, đồng thời, qua đó, cũng góp phần giúp thế giới tránh được một thảm họa khí hậu.

Giờ đây, chúng ta đều nhận ra rằng, ngay cả khi quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh tạo ra sự gia tăng lớn về việc làm, điều mà chúng tôi hoàn toàn tin tưởng, thì không phải tất cả những người lao động bị mất việc làm trong các ngành công nghiệp cũ hay những lĩnh vực cũ đều sẽ nhận được những việc làm mới này trong quá trình chuyển đổi này. Chính vì thế, chúng ta có một nghĩa vụ, mà chúng tôi cam kết thực hiện, đó là đưa tất cả mọi người cùng đi trên con đường phát triển.

Thứ năm và cũng là cuối cùng, chúng tôi sẽ tăng cường an ninh khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Các mối đe dọa đang biến đổi. Cách tiếp cận an ninh của chúng ta cũng phải thay đổi theo. Chúng tôi sẽ tìm cách tăng cường hợp tác an ninh dân sự nhằm giải quyết những thách thức phát sinh từ chủ nghĩa cực đoan, khai thác thủy hải sản bất hợp pháp, cho đến mua bán người. Và chúng tôi sẽ áp dụng một chiến lược kết hợp chặt chẽ hơn tất cả các công cụ sức mạnh quốc gia của Hoa Kỳ – từ ngoại giao, quân sự cho đến tình báo – cùng với các công cụ của các đồng minh và đối tác của chúng tôi. Bộ trưởng Quốc phòng Lloyd Austin của chúng tôi gọi đây là chiến lược “ngăn chặn tích hợp”.

Chiến lược này chính là để củng cố các thế mạnh của chúng tôi, để chúng tôi có thể duy trì hòa bình, như chúng tôi đã làm trong khu vực này suốt nhiều thập kỷ qua. Chúng tôi không muốn có xung đột ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Đó là lý do tại sao chúng tôi tìm kiếm phương thức ngoại giao nghiêm túc và bền vững với CHDCND Triều Tiên, với mục tiêu cuối cùng là phi hạt nhân hóa Bán đảo Triều Tiên. Chúng tôi sẽ phối hợp cùng với các đồng minh và đối tác của mình để giải quyết mối đe dọa từ các chương trình hạt nhân và tên lửa của CHDCND Triều Tiên, thông qua cách tiếp cận thực tế, được hiệu chỉnh, đồng thời củng cố khả năng răn đe mở rộng của chúng tôi.

Và đó là lý do tại sao tháng trước Tổng thống Biden đã nói với Chủ tịch Tập Cận Bình rằng cả hai bên đều có trách nhiệm sâu sắc trong việc đảm bảo rằng sự cạnh tranh giữa hai quốc gia không biến thành xung đột. Chúng tôi nhận trách nhiệm đó với sự nghiêm túc cao nhất, bởi vì nếu không thể làm được điều này, đó sẽ là một thảm họa cho tất cả chúng ta.

Vào ngày 14 tháng 2 năm 1962, Tổng Chưởng lý Hoa Kỳ khi đó là Robert F. Kennedy đã đến và phát biểu tại chính ngôi trường Đại học này. Ông đã nói về những cuộc đấu tranh bền bỉ mà người dân của cả hai nước cùng chia sẻ. Những cuộc đấu tranh đó, theo lời ông, sẽ phải được tiếp nối bởi những người trẻ tuổi, giống như những sinh viên ở đây ngày hôm nay. Và ông ấy đã trích dẫn một điều mà anh trai ông, John F. Kennedy, khi đó là Tổng thống Hoa Kỳ, đã nói về tầm nhìn của chúng tôi đối với thế giới. Tổng thống Kennedy đã nói: “Mục tiêu căn bản của chúng tôi vẫn luôn như vậy: một thế giới hòa bình, một cộng đồng các quốc gia tự do và độc lập, được tự do lựa chọn tương lai của mình và hệ thống của chính mình, miễn là điều đó không đe dọa đến sự tự do của người khác”.

Với tất cả những thay đổi trong gần 70 năm qua kể từ khi Tổng thống Kennedy phát biểu những lời đó, việc tầm nhìn đó vẫn vô cùng tương đồng với tầm nhìn chung của chúng ta hiện nay quả là một điều phi thường. Và lý do tôi rất biết ơn khi có thể nói về điều này ở đây, tại trường Đại học này, cùng với sự hiện diện của các sinh viên và cựu sinh viên tham gia rất nhiều chương trình lãnh đạo trẻ của chúng tôi, là bởi vì các bạn vẫn chính là những người sẽ tiếp tục thực hiện tầm nhìn đó. Trong quá trình thực hiện điều này, hãy biết rằng các bạn luôn có sự đồng hành của người dân trên toàn bộ khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, bao gồm cả người dân Hoa Kỳ, những người mà hy vọng và số phận của họ gắn liền với hy vọng và số phận của các bạn, đồng thời họ cũng chính là những đối tác kiên định của các bạn trong việc tạo lập một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, một khu vực chung của tất cả chúng ta, rộng mở hơn và tự do hơn.

Xin cảm ơn các bạn đã lắng nghe. (Vỗ tay.) # #

Bản dịch được cung cấp có tính tham khảo và chỉ bản gốc chính thức bằng tiếng Anh mới có giá trị chính xác.

  Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với  bản quyền của nội dung gốc.

Bản gốc:

Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộng vì nó là một tác phẩm của chính quyền liên bang Hoa Kỳ (xem 17 U.S.C. 105 ).

Public domain Public domain false false

Bản dịch:

Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộng vì nó là một tác phẩm của chính quyền liên bang Hoa Kỳ (xem 17 U.S.C. 105 ).

Public domain Public domain false false