Mời Phan Khôi tiên sanh trở về nhà học của ta mà nói chuyện
Part 3
Cái nghĩa của ba cương lĩnh trong sách Đại học rõ như vậy, và quán thông từ gốc chí ngọn, thật là rất hạp với cái phương pháp chứng luận của Tây. Nay Phan tiên sanh theo cái nghĩa chữ tân, mà cho là “lấy mình mà cảm hóa mọi người từ gần đến xa, tức là do nhà ra nước, ra thiên hạ” là không phải, và lại trái với khoa học như tiên sanh đã nói thật. Vì tiên sanh không xét cho kỹ cái nghĩa nguyên văn từ đời xưa, và lại nệ về cái học của ông Trình, ông Chu, cho nên mới có sự lầm đó. Giá tiên sanh bẻ lỗi ông Trình, ông Chu, thì phải, chớ đem đổ lỗi ấy cho Khổng giáo thì thật là tiên sanh lầm.
Kế đến câu : “Người quân tử chẳng ra khỏi nhà mà nên sự giáo hóa ở trong nước… Chưa hề có ai học nuôi con rồi sau mới gả chồng”. Tôi e lời phán đoán của Phan tiên sanh cũng không đúng. Xin đem nghĩa cả đoạn ấy mà cắt rõ ra xem có thực như lời tiên sanh nói không. Sau khi đem ba cái cương lĩnh và tám cái điều mục đã nói trên kia vào sách Đại học rồi, Tăng tử hay là học trò Tăng tử mới diễn cái nghĩa thế nào là thành ý, là tu thân, là tề gia, là trị quốc, là bình thiên hạ. Trong cái mục nói về trị quốc, thì cả đoạn như thế nầy : “Sở vị trị quốc ắt trước phải tề gia. Nhà mình không dạy được mà dạy được người, thì không có. Cho nên người quân tử không ra khỏi nhà mà nên sự giáo hóa ở nước : Hiếu là thờ cha được, thì suy ra thờ vua cũng được ; đễ là thờ anh được, thì suy ra thờ kẻ tôn trưởng cũng được ; từ thiện là xử với người trong nhà được, thì suy ra để sai khiến dân chúng cũng được. Thiên Khang cáo nói rằng : Như nuôi con đỏ, lòng tinh thành tìm đó, tuy không trúng, nhưng cũng không sai mấy. Chưa có học nuôi con rồi sau mới gả chồng vậy”. Khúc trên từ chữ sở vị trị quốc cho đến từ thiện là để khiến nhân chúng, ý nói người quân tử lấy hiếu, đễ, từ mà dạy người trong nhà. Hễ lấy những điều ấy mà dạy người trong nhà không được, thì dạy thế nào được người trong nước. Vì về đường đạo đức, thì sự giáo hóa của thân mình, của một nhà, của một nước, bao giờ cũng lấy ba điều ấy làm cốt. Ở trong nhà biết hiếu với cha, tức là ở trong nước biết cách thờ quân thượng ; ở trong nhà biết đễ với anh, tức là ở trong nước biết cách thờ kẻ tôn trưởng ; ở trong nhà từ thiện với nhau, tức là ở trong nước biết cách sai khiến dân chúng. Sự giáo hóa ở trong nhà mà nên, thì sự giáo hóa ở trong nước cũng nên. Đã theo cái thuyết nhứt thể, thì người một nhà và người một nước cũng phải theo một đạo giáo hóa, chớ không ra ngoài cái đạo ấy được. Cái căn bổn lập giáo là cần phải biết mối đầu rồi suy rộng ra, thì đâu đâu cũng thế cả. Cho nên nói rằng : “Người quân tử không ra khỏi nhà, mà nên sự giáo hóa ở trong nước.” Cái nghĩa khúc ấy hiểu rõ rồi, nhưng người làm sách Đại học lại dẫn thêm cái chứng ở thiên Khang cáo trong kinh Thư và kết luận một câu rằng : “Chưa có học nuôi con rồi mới gả chồng”. Ý nghĩa câu ấy ăn với câu chứng ở thiên Khang cáo rằng : “Như nuôi con đỏ, lòng tinh thành tìm đó, tuy không trúng nhưng cũng không sai mấy.” Lòng tinh thành tìm đó, là tìm cái thị dục của đứa trẻ. Câu ấy là nói ví người coi việc trị dân cũng như mẹ nuôi con mới đẻ. Mẹ nuôi con đỏ là hết lòng yêu mến con, cho nên tuy con muốn cái gì không nói ra được, nhưng cái lòng tinh thành của mẹ yêu con tự nhiên hiểu được. Việc trị dân cũng phải như vậy, mình phải tinh thành yêu mến dân, thì lúc dân muốn cái gì, mình hiểu ngay. Nghĩa là phải lấy cái tâm tinh thành, tức là cái trực giác mà hiểu dân, thì biết rõ sự cần dùng của dân. Tâm là cái bổn nhiên của Trời phú cho, vẫn có sẵn ở trong người ta rồi, không phải học mà được, hễ đừng để nó bị tế tắc về điều gì, thì tự nó sáng suốt. Bởi cái nghĩa ấy cho nên mới lấy câu “chưa có học nuôi con rồi sau mới gả chồng” mà kết luận. Câu ấy là theo cái nghĩa câu trên nói : mẹ nuôi con là bởi lòng tự nhiên yêu con, mà hiểu sự thị dục của nó, chớ không phải có học mới biết yêu con.
Cái nghĩa câu ấy là thế, chớ không phải như Phan tiên sanh đã hiểu : “Chưa học nuôi con” là chưa học cách nuôi con như ta thường hiểu ngày nay. Bởi tiên sanh hiểu như thế, cho nên mới nói là trái với khoa học.
Thiết tưởng rằng phàm đã gọi là triết học, tất có cái nghĩa tinh vi ; hễ sai một li là đi một dặm. Nếu ta nghĩ không kỹ mà vội vàng phán đoán, thì thường hay có sự sai lầm. Huống chi đã nói : “Bất dĩ từ hại ý”, thì ta há lại không nên cẩn thận lắm hay sao ? Cái thuyết của Phan tiên sanh đã không đúng với nghĩa trong sách, mà lại lấy cái thuyết ấy bẻ sách, thì theo cái luật của cô Logique mà tiên sanh đã quen đó, gọi là phạm vào luật nào ?
Cái thuyết “minh minh đức, thân dân, chỉ ư chí thiện” là cái quan kiện của sự học trong Khổng giáo, mà Phan tiên sanh phê bình một cách khinh suất như thế, thì cũng lạ thật ! Tiên sanh nên nghĩ lại xem phê bình như thế, có ích gì cho sự học vấn không. Chắc rằng tiên sanh cứ giữ cái ý kiến của mình mà nói rằng : “Khoa học trọng cái chứng cứ thực nghiệm v.v.” Vậy chớ tiên sanh đã thấy có mấy cái lý thuyết triết học đúng hẳn với sự thực nghiệm chưa ? Khi ta xét một khoa triết học thuần lý thì ta phải xét xem nó có đúng với cái lý mà đã nhận làm chuẩn đích hay không. Nếu có đúng là hạp khoa học rồi ; chớ lại lấy cái triết học thực nghiệm mà xét cái triết học thuần lý, thì xét sao được. Bởi vì mỗi bên theo một phương pháp khác nhau, thì không có thể lấy cái nọ mà xét cái kia được. Nếu lại muốn rằng cái lý thuyết của triết học phải đúng với sự thực nghiệm, thì tôi tưởng không còn gì là triết học nữa. Vậy nói rằng cái thuyết minh minh đức, thân dân, không đúng khoa học là tôi không chịu, vì những nghĩa của tiên sanh hiểu đều sai cả.
2/ Phan tiên sanh nói trong số 54 rằng : “Khổng giáo trái với Tây học, vì cái chủ nghĩa tôn quân trái với chủ nghĩa duy dân.” Trong số 60 tôi chỉ nói cái quân quyền mà không nói đến cái chủ nghĩa duy dân. Nay nhân tiện xin nói thêm mấy lời cho hết ý. Khổng giáo có cái chủ nghĩa quân quyền thật, song chữ quân có cái nghĩa rộng như tôi đã bàn, thì cái chủ nghĩa ấy không phải là chủ nghĩa chuyên chế. Cái thủ đoạn chuyên chế là cái thủ đoạn của bọn đế vương lạm dụng cái quân quyền đó mà thôi.
Khổng giáo đã không có cái chủ nghĩa chuyên chế, thì tất là có cái chủ nghĩa duy dân. Song cái chủ nghĩa duy dân của Khổng giáo không giống cái chủ nghĩa duy dân thời nay. Cái chủ nghĩa duy dân thời nay cốt ở sự bình đẳng, chính nghĩa là bình đẳng trong luật pháp, nhưng nhiều người hiểu là bình đẳng hoàn toàn cả, và cho bọn hạ dân cũng có quyền cai quản, cũng tham dự chánh trị. Cái chủ nghĩa duy dân của Khổng giáo thì chủ ở trật tự, lấy đức, lấy tài, mà phân trên dưới, và nhận có cái bình đẳng ở trong luật pháp, mà không nhận có cái bình đẳng hoàn toàn khắp cả. Cái bình đẳng hoàn toàn ấy, thì ở trong võ trụ thật quả không có, cho nên Khổng giáo không nhận là có. Còn cái bình đẳng ở trong luật pháp, thì xem như lời giả thuyết trong sách Mạnh Tử mà Phan tiên sanh vừa bác trên kia, vua Thuấn làm thiên tử mà cha là Cổ Tẩu có tội, quan tư pháp là Cao Dao cứ bắt trị tội. Phép công chỉ biết có cái lý, chớ không biết có cái thế, như vậy là bình đẳng trong luật pháp.
Khổng giáo vẫn lấy dân làm trọng, cho thiên hạ là của chung của thiên hạ. Theo lý công nhiên thì vua Nghiêu làm thiên tử không có thể đem thiên hạ cho vua Thuấn được, chỉ có thiên hạ theo ai là người ấy được. Ấy là hạp với cái tôn chỉ duy dân lắm. Song vì trong thiên hạ số người dở và người ngu nhiều hơn số người hiền và giỏi, cho nên phải theo hiền ngu, giỏi dở mà đặt ra trật tự trên dưới để người có đức, có tài, cầm quyền chánh trị mà giữ gìn muôn dân. Bất kỳ người dòng dõi vua quan hay con nhà thứ dân, hễ ai có đức có tài là được ra cầm quyền chánh trị. Người cầm quyền chánh trị phải nuôi dân, phải làm cho dân giàu, phải dạy dân. Dân là trọng, vua là khinh. Vua làm điều tàn bạo, dân có quyền trừ bỏ đi. Đó là cái chủ nghĩa duy dân của Khổng giáo, mà tôi cho là chánh đáng hơn cả. Bởi vậy tôi không đồng ý với Phan tiên sanh, vì tôi dám chắc rằng Khổng giáo không trái với chủ nghĩa duy dân. Xin tiên sanh hiểu cho rằng đây tôi chỉ nói cái nghĩa duy dân mà thôi, chớ không nói đến cái chánh thể duy dân vì nó là một việc khác.
Tôi nói như vậy, có lẽ Phan tiên sanh lại bẻ rằng : Từ xưa đến nay người mình vẫn học Khổng giáo sao không thấy thi hành cái chủ nghĩa ấy bao giờ ? Xin thưa rằng : Cái chánh thể của xã hội ta tự xưa đến nay tuy có chuyên chế, nhưng vẫn có một phần theo chủ nghĩa duy dân, là thường vẫn lấy những người có đức, có tài, trong dân ra làm quan tư. Vả lại ta cũng nên biết rằng xưa nay người học Khổng giáo thì nhiều, nhưng theo Khổng giáo mà làm thì ít. Thường những người làm vua làm quan chỉ mượn cái đạo của thánh hiền làm cái bình phong để che cái quyền lợi, chớ đã thật lúc nào chịu thi hành đạo của thánh hiền đâu. Vậy nên hòn ngọc tuy là quý, nhưng không ai biết dùng, thì dẫu quý đến đâu cũng không làm gì được. Nay ta biết nó là ngọc, thì cứ nói, ai dùng nó thì dùng, không dùng thì thôi, chớ bảo nó là đá, thì tôi không chịu.
3/ Phan tiên sanh nói rằng Khổng giáo làm ngại trở cho khoa học, là vì chỉ nói cái lẽ đương nhiên, chớ không nói cái lẽ sở dĩ nhiên. Trước kia tiên sanh chỉ nói thế, chớ không nói rõ ở chỗ nào, cho nên tôi chỉ cắt nghĩa tại làm sao mà thôi. Nay tiên sanh đã viện chứng rõ ràng, thì xin theo cái chứng ấy mà bàn lại. Tiên sanh lấy câu Khổng Tử trả lời cho Diệp Công hỏi về việc chánh, mà bảo : “Ngài chỉ nói về quả mà không nói về nhân ; bảo nên làm như thế, mà không bảo cho biết cái phương thế làm thế nào. Ấy là trái với khoa học.”
Ta phải biết rằng sách Luận ngữ là sách chép những câu chuyện người ta hỏi Khổng Tử cái gì, Ngài đáp lại thế nào, hoặc là những lời Ngài nói có ý nghĩa sâu xa. Trong sách ấy có nhiều câu nghĩ lâu thấm thía mới biết là hay. Cho nên người ta nói cái học của Ngài là cái học hàm súc. Vậy những lời của Ngài nói trong sách Luận ngữ không phải là chỉ để giảng dạy một cái lý thuyết nào, mà bảo đã dạy, sao lại không nói cho có đầu có đuôi, để người ta biết các lẽ. Nay Phan tiên sanh lấy những câu vấn đáp vắn tắt trong lúc nói chuyện mà bẻ, thì tôi cho là không phải. Song đã bẻ, thì tôi cứ lấy cái hiểu của tôi mà đáp lại.
Cái lối dạy của Khổng Tử là cứ đối chứng lập phương chớ không nhứt định theo một cách thức nào. Những điều ấy tôi đã nói ở chương Mạnh Ý tử hỏi hiếu rồi, không cần phải nói lại nữa. Ngài biết Diệp Công ở nước Sở chỉ dùng sức mạnh mà trị nước, không biết cái gốc việc chánh trị là ở sự được lòng người, cho nên khi Diệp Công hỏi việc chánh, ngài trả lời rằng : “Kẻ ở gần thì mến, kẻ ở xa thì đến.” Nghĩa là việc chánh cốt là ở được lòng người, chớ không nên làm mất lòng người. Ngài nói thế mà Diệp Công nín lặng, là vì đã biết Ngài chê chánh sách của mình rồi, cho nên không hỏi lại nữa. Còn cái phương thế làm thế nào, là hiểu ngay phải theo nhân chánh mà thu phục lòng người. Nếu Diệp Công không hiểu mà không hỏi lại, thì Ngài cũng thôi, không bảo nữa. Lối ấy chính hạp lối “cử nhứt ngung” của Ngài.
Vì câu trả lời ấy khó hiểu cho người đời sau, cho nên trong sách người ta chú thích là : “Kẻ ở gần chịu cái ơn mà mến, kẻ ở xa nghe tiếng mà đến.”. Những ý ấy ở ngoài lời nói, phải lấy ý mà hiểu mới được. Nếu cứ theo như Phan tiên sanh là khi nói cái quả, phải nói rõ cái nhân, thì ngay trong Tây học, những sách như Les Pensées của Pascal, hay là Le jardin d’ Epicure của Anatole France, có nhiều chỗ lại khó hơn những lời của Khổng Tử, tất là phải bỏ đi hết.
Sự giáo hối có mấy lối : có lối giảng diễn đủ mọi lẽ, học giả nghe là hiểu ngay ; có lối chỉ gợi ra cái cốt yếu, để cho người ta phải nghĩ mà hiểu lấy. Mỗi người theo một lối, ai thích lối nào theo lối ấy, miễn là lối nào cũng cần có cái chủ ý ám hạp với đạo lý thì thôi. Dẫu có muốn theo khoa học nữa, thì khoa học nào cũng chỉ cần có cái phương pháp, chớ không phải bao giờ cũng chỉ theo một phương pháp. Nay Phan tiên sanh chỉ dùng một phương pháp muốn điều gì đã nói cái lẽ đương nhiên là phải nói cái lẽ sở dĩ nhiên, và bắt bao nhiêu học thuyết cũng phải như thế cả, thì thật là tiên sanh có một cách hiểu sự học vấn rất lạ, xưa nay chưa ai nghĩ đến ! Cứ như ý tôi, thì câu Khổng Tử trả lời cho Diệp Công, tuy hơi khó một chút, nhưng có ý nghĩa ta nên biết lắm.
4/ Đó là nói cái nghĩa rộng của khoa học, còn đối với cái nghĩa hẹp của khoa học, thì Phan tiên sanh nói rằng : “… còn mình chưa có khoa học, mà lại cần có, thì thế nào cũng phải đeo đuổi theo mới đặng. Mình ưng đi xe hỏa cho mau, thắp đèn điện cho sáng, v.v”. Nào tôi có bảo không nên theo khoa học ở đâu, mà tiên sanh phàn nàn như thế. Tôi đã nói ở số báo 60 : “Nay ta ở vào thời đại có khoa học, và cần có khoa học, thì ta theo khoa học nhưng theo khoa học mà không bỏ mất tâm học, thì tâm với trí có thể điều hòa được với nhau.”. Nói như thế, có điều gì là bảo không nên theo khoa học ? Tôi muốn tỏ cái ý rằng khoa học tuy có nhiều điều hay, nhưng khi ta khuynh hướng về nó thái quá, thì cũng có điều không hay. Muốn cho rõ cái ý ấy, tôi mới đem cái ý chán nản về khoa học của mấy người thức giả bên Tây, để ta hiểu rằng những người ấy mà chán nản, tất là khoa học cũng có điều bất tiện.
Nếu nói rằng những người ấy là số ít, còn số nhiều thì cũng cho khoa học là hoàn toàn hay cả thì việc đó đã cố nhiên đi rồi. Thường những tư tưởng cao xa là ở bọn người số ít, chớ bọn người số nhiều là chỉ biết được cái thiển cận trước mặt mà thôi. Vậy nên về đường tư tưởng và tri thức, ta không nên quá tin ở số nhiều người. Tôi vẫn biết ai cũng thích “phóng ô tô, đứng trong một chỗ diễn đàn rực rỡ, dưới chân lót mã nhục, trên đầu đèn điện v.v.” Nhưng tựu trung lại không có người cho những cái đó không phải là cái sanh thú của người ở đời hay sao ? Như Phan tiên sanh thì cho người ấy là người quái lạ, nhưng biết đâu người ấy lại không cho bọn mình là lũ cuồng dại. Xét cho cùng kỳ lý, thì đã chắc là ai phải : người ấy hay là bọn ta đây ? Nhưng mà thôi, nếu bàn như thế, thì viết cả quyển sách cũng không xong, mà không khéo tiên sanh lại cho là nói dông dài vô ích.
Nói rút lại, tôi không phản đối khoa học, song tôi chỉ muốn khoa học của Tây đi đôi với tâm học của ta. Được như thế thì tôi tưởng hay hơn cả.
Tôi vừa mới viết chữ biết đâu chắc là Phan tiên sanh đã lắc đầu rồi. Đó chẳng qua là tôi theo cái cách tư tưởng của tôi trong khi nghị luận. Hễ điều gì tôi biết chắc chắn, thì tôi nói quả quyết, điều gì tôi biết chưa được rõ lắm, hay là không chắc, thì tôi dùng chữ biết đâu để tỏ cái thái độ hồ nghi của tôi. Có lẽ tôi với Phan tiên sanh khác nhau ở chỗ đó. Tiên sanh nói điều gì là nói quả quyết, mà tôi thì tùy có điều quả quyết, có điều không quả quyết được, cho nên phải hồ nghi. Hai ta tuy không đồng, nhưng vẫn hòa được. Cũng như tiên sanh thì thích đến nhà cô Logique, mà tôi lại ưa nói chuyện ở nhà ta, thế mà ta vẫn theo chủ nghĩa hòa nhi bất đồng, kể cũng đã có phần hay lắm rồi.
Phan tiên sanh đã có lòng tốt cho tôi được dự cuộc bàn chuyện thánh hiền và chuyện khoa học, thật là một sự may mắn cho tôi lắm. Tôi cứ tình thật, đem cái sở kiến của tôi mà trình với tiên sanh. Phải trái thế nào đã có công luận quyết định.
Sau đây xin cảm tạ Phan tiên sanh đã cho tôi được cái dịp để tỏ chút lòng đối với Khổng giáo và Khoa học. Rồi ra có dịp nào khác nữa ta sẽ lại nói chuyện. [ 3 ]
TRẦN TRỌNG KIM
   
Chú thích
- ▲ Mậu vọng  : dối trá, sai lầm (H.T.Paulus Của)
- ▲ Mịnh  : có lẽ cũng là mệnh
- ▲ Sau này Trần Trọng Kim đem in hai bài thảo luận với Phan Khôi về Khổng giáo làm phụ lục trong sách Nho giáo (tái bản) của ông. Văn bản đưa vào sách có đôi chỗ khác biệt, như là nhuận sắc lại câu chữ so với bản đăng Phụ nữ tân văn