Mời Phan Khôi tiên sanh trở về nhà học của ta mà nói chuyện

Part 1

Chapter 15,227 wordsPublic domain (Wikisource)

Mời Phan Khôi tiên sanh trở về nhà học của ta mà nói chuyện  (1930)  của Trần Trọng Kim

- thông tin về bản này . 

Bài đăng trên Phụ nữ tân văn , Sài Gòn, số 71 (25.9.1930) ; số 72 (2.10.1930); số 74 (16.10.1930)

10818 Mời Phan Khôi tiên sanh trở về nhà học của ta mà nói chuyện 1930 Trần Trọng Kim

Trước khi Phan tiên sanh mời tôi đến nhà cô Logique (gọi là cô, vì Logique ở bên Tây là người đàn bà), để nói chuyện với Khổng Tử và Mạnh Tử, tiên sanh có viết một bài cảnh cáo các nhà mà tiên sanh gọi là học phiệt . Trong bài ấy tiên sanh trách những người Nho học có cái thái độ lãnh đạm đối với Khổng giáo, tôi lấy làm phục lắm. Mấy lời tiên sanh trích ở bài tiên sanh đã đăng trong báo Thần chung ra, thì bây giờ tôi mới biết, mà thật là đúng với cái bịnh tình của các nhà Nho học ở nước ta. Thường tôi vẫn lấy điều ấy làm phàn nàn lắm. Thế mới biết cái học của mình xưa nay thiển cận, đến nỗi không có chút gì thấm thía vào đến tủy não cả.

Song trong bài ấy có điều Phan tiên sanh nói về cái thái độ của những người học phiệt, thì không được đủ lẽ, là vì tiên sanh chỉ trách những người ấy khinh người, ai nói gì cũng làm thinh, không thèm đáp lại. Nhưng tiên sanh không xét tự xưa đến nay đã có mấy ai xướng lên vấn đề gì mà nói cho chánh đáng và ôn tồn, để cho những người có ý kiến gì khác cũng muốn đem ra mà bàn chưa ? Số nhiều người mình khi đã cầm bút viết, thì chỉ dùng những dòng khích bác, những lời thô thiển, có khi lại buông lời quá đáng, làm mất cả cái hòa khí trong khi biện luận. Như thế thì tiên sanh bảo người học giả ai còn muốn biện luận nữa ? Đã hay rằng người đi học cần phải phục thiện, song phải biết lời mình nói có thiện, thì người ta mới phục, chớ mình nói những lời sống sượng, ý tứ ngoắt ngoéo, từ đầu chí cuối chỉ thổ lộ ra cái ý cầu thắng thì bảo người ta phục thiện làm sao được ?

Thiết tưởng nói điều phải có nhiều cách nói, nếu mình lấy cái thái độ thanh nhã ôn hòa mà nói, thì ai chẳng muốn nghe. Phàm khi đã bàn đến những điều nghĩa lý, thì ta phải lấy cái nghĩa công chính mà nói chớ không nên để ý vào sự cầu thắng.Vì đã có cái ý cầu thắng, thì tất là động khí, mà đã động khí thì còn bàn thế nào được cái trung chánh của đạo lý nữa ? Thế mà có nhiều người hễ biện luận điều gì là lấy cái tư ý của mình đối với cá nhân, rồi nói những lời như cãi nhau ở ngoài đường, vậy mà trách người ta không đáp lại, chẳng hóa ra không công bình lắm hay sao ? Đây là tôi nói cái thói thường của phần nhiều người như thế, chớ không nói gì đến Phan tiên sanh. Vậy cứ theo ý tôi ta nên trách cả hai bên thì mới phải.

Còn như tiên sanh bảo cho biết rằng sau nầy có những người tài giỏi, học lực chắc chắn, sẽ công bố cái bình dân chủ nghĩa mà đánh đổ cái học thuyết của bọn học phiệt thì tôi lấy làm mong lắm. Nếu được thật như thế, nước ta sẽ có cái hạnh phước lớn lắm vậy. Miễn là khi hai bên đối địch chỉ dùng công lý mà tranh luận, chớ không lấy tư ý mà công kích nhau, thì còn gì có ích lợi cho sự học vấn bằng nữa. Trong nước mà “đạo tịnh hành nhi tương bội” thì hay biết là dường nào ! Chỉ đáng sợ nhứt là cái học tôn nhứt, rồi cứ dùng thế lực mà đè nén mất sự ngôn luận tự do, thì cái học ấy dẫu hay đến đâu rồi cũng hóa ra dở.

Phàm người nào đã có một chút tư tưởng, thì ai cũng muốn tìm cải chân lý cả, nhưng cái chân lý ở trong võ trụ có thiên hình vạn trạng mỗi lúc một khác, thời xưa nó hiện ra thế ấy, thời nay nó biến ra thế nầy, rồi sau đây nó lại biến ra thế khác nữa, ta chưa biết. Ta tìm ra chỉ tìm được cái chân lý tỉ hiệu mà thôi, còn cái chân lý tuyệt đối thì ta càng tìm lại càng không thấy đâu cả. Tuy nhiên hình như nó vẫn có, cho nên ai đã hoài bão một cái chủ nghĩa nào, thì không bao giờ là không tự tin rằng ta đã nắm được nó rồi, ngờ đâu đến khi xét kỹ lại, thì nó vẫn ở đâu, chớ không ở trong tay mình. Bởi thế tôi tưởng nên theo cái học của họ Khổng, cứ lấy cái tâm khuếch nhiên thái công mà suy xét mọi việc, lấy lòng trung chánh mà đối phó với các sự vật, họa may có tới gần đến cái chân lý ấy chăng. Ta thấy thế nào ta tả nó ra thế, người khác thấy thế nào cũng tả ra thế. Hai bên tuy có khi khác nhau, nhưng để chung lại, vẫn là mỗi bên có một phần chân lý. Cái học ấy là cái học tổng hiệp(synthétique) rất đúng với cái tôn chỉ của Khổng giáo.

Nhân tiện đây xin nói để Phan tiên sanh hay rằng tôi xem sách tây thấy trong quyển Le puits de Saint Claire của Anatole France, chương XIII và XIV, bàn về chân lý, có nhiều ý nghĩa rất hay và văn từ lại rõ ràng, có nhiều ý vị lắm. Giá tiên sanh có rảnh, nên lấy mà xem, chắc cũng có lợi.

Đó là mấy lời tôi bàn phiếm với Phan tiên sanh ; nhân gặp nhau ở tờ báo, thì nói chuyện mà thôi, chớ không phải câu chuyện mà tiên sanh mời tôi đến nhà cô Logique để bàn về những điều quan hệ đến Khổng giáo.

Bởi vì Phan tiên sanh đã có lòng tốt mời tôi đi nói chuyện, thì tôi đâu dám từ chối. Nhưng có một điều là nhà cô ấy tôi đã từng được đến nhiều lần rồi. Nhà thật đẹp, đường lối rất phân minh và rất sạch sẽ ; vào trong nhà thì có ngăn nắp, buồng nào ra buồng ấy ; nhưng chỉ phải một tội là đã vào buồng nào, thì các cửa đóng bịt lại, chỉ để mở có một cái cửa sổ. Lúc đầu mới vào còn lạ, thì cũng thích. Sau ngồi lâu nhìn ra ngoài, chỉ thấy ánh sáng có một mặt, còn thì không trông thấy mặt khác có những gì nữa, thành ra chán và mỏi. Người ta bảo rằng đi học phải đến qua nhà cô ấy, rồi sau mới biết rõ mọi việc, cho nên ai cũng phải đến đó một độ. Song mỗi khi tôi ở nhà ấy ra, được trông đông trông tây, thấy mặt nào cũng có cái cảnh lạ, tôi lấy làm thỏa thích lắm. Bởi vậy về sau, lúc nào nghe nói đến nhà cô Logique thì tôi vẫn ngài ngại. Nay Phan tiên sanh lại rủ tôi đến đó nói chuyện, tôi cũng theo đi, nhưng không được vui lòng.

Tôi theo Phan tiên sanh đến đó, lại thấy cái nhà ấy vẫn như cũ. Tiên sanh ngồi nói chuyện sách Luận ngữ và sách Mạnh tử. Tôi nghe tiên sanh nói xong, đứng dậy mời tiên sanh trở về cái nhà học cũ của ta mà nói chuyện cho mát mẻ. Về đến cái nhà ấy, thấy chung quanh cây cối mọc tự nhiên, không có sửa sang gì mấy. Ở trong nhà thì bốn mặt cửa mở toang ra, trông về mặt nào cũng được. Ngồi uống xong chén nước trà thơm của ta, rồi tôi đem những câu chuyện Phan tiên sanh nói lúc nãy mà bàn lại.

1) Phan tiên sanh theo khuôn phép của cô Logique mà chê câu Khổng Tử trả lời cho Mạnh Ý Tử là mô lăng. Nếu lấy câu ấy mà không nghĩ đến cái cách lập giáo của Khổng Tử, thì bẻ như thế có lẽ phải. Nhưng theo cái phương pháp của ngài, thì có hai lối : Một là ai hỏi ngài điều gì, ngài xem người ấy sở trường hay sở đoản về cái gì, rồi ngài liệu mà trả lời để cho hiểu ngay. Hai là “bất nhân, bất khải, bất phi, bất phát. Cữ phất ngung bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục giã”. Nếu theo cái lối trên, thì khi ngài nói hai chữ “vô vi” là đúng vào cái bịnh của Mạnh Ý Tử rồi, cho nên hiểu ngay mà nín lặng. Ngài không phải giảng thêm nữa. Nếu Mạnh Ý Tử là người ngu, nghe hai chữ ấy không hiểu, mà cứ nín lặng, thì trúng vào lối thứ hai, ngài cũng không bảo gì nữa. Ngài đã lập ra phương pháp ấy, thì bao giờ cũng thực tiễn như thế mãi, ấy là hợp với cái lý quán thông trong cái đạo của ngài. Phàn Trì nghe nói điều ấy không hiểu, liền hỏi ngay, cho nên ngài mới giảng rõ cho mà nghe. Vậy trước sau vẫn dùng đúng cái phương pháp của mình là “tuần tuần thiện dụ”, tức là hợp với phép luận lý.

Vì chưng có hai chữ “vô vi” và câu hỏi của Phàn Trì cho nên mới rõ cái phương pháp của Khổng Tử. Nếu hai chữ ấy mà không có nghĩa lý gì, thì chắc hẳn chẳng ai chép lại làm chi. Đã không chép lại, thì biết đâu là có, mà lo không hiểu.

Vậy Phan tiên sanh bẻ chương nầy, là chỉ nệ về một phép luận lý, mà chưa hiểu hết lý đó mà thôi. Như thế là một điều rất nên cẩn thận trong sự học vấn.

2) Phan tiên sanh lấy chương vấn đáp của Đào Ứng và Mạnh Tử mà viện cái lẽ cho Mạnh Tử là mậu vọng, thì tôi e là chính tiên sanh mậu vọng [ 1 ] , chớ không phải là Mạnh Tử. Đây tôi hãy xin để riêng phép luận lý của tiên sanh ra một chỗ, cứ theo cái lý tự nhiên mà xét lời vấn đáp của Đào Ứng và Mạnh Tử xem có hạp lý hay không.

Chuyện thực là Cổ Tẩu không giết người, mà vua Thuấn cũng không phải đến nỗi đem cha đi trốn. Song cái ý của Đào Ứng là đặt ra một chuyện không có, nhưng có thể xảy ra được, để hỏi xem giả sử bậc thánh nhân lâm phải việc lưỡng nan như thế, thì giải quyết ra làm sao. Lưỡng nan là người làm quan phải giữ phép, mà người phạm tội là ông Thái thượng hoàng ; người làm thiên tử là con, mà người phạm tội là cha. Người làm quan và người làm thiên tử ấy lâm phải việc khó xử như thế, thì làm thế nào ? Mạnh Tử lấy cái ý lưỡng toàn mà đáp lại. Lưỡng toàn là người làm quan giữ phép nước, là không được tư, dẫu ông Thái thượng hoàng có phạm tội cũng cứ bắt, ấy là hạp cái nghĩa chí công trong pháp luật. Người làm thiên tử là chí tôn, nhưng thiên tử cũng là người, tất là có cái tình cha con ; cha lâm nạn, thì con phải cứu, đừng có vị cái quyền thế mà bỏ cái bổn phận làm con, ấy là hạp đạo hiếu. Ông Cao Dao làm quan giữ phép, phải làm như thế, mới đến cái cực điểm về sự tận tâm của kẻ nhân thần ; vua Thuấn làm con, phải làm như thế, mới đến cái cực điểm về sự tận tâm của người làm con. Ấy thế là bên nghĩa bên hiếu lưỡng toàn cả.

Ông Viên Mai chê ông Đào Ứng hỏi bậy và ông Mạnh Tử trả lời bậy, là tại ông Viên Mai không hiểu rõ cái ý trong câu hỏi và câu trả lời của Đào Ứng và Mạnh Tử, cốt lấy một chuyện không có để hỏi xem nếu có như thế, thì hai bậc thánh nhân làm vua, làm quan, xử trí ra làm sao. Cũng như người nghĩ ra một bài tính đố, rồi đem ra cho người ta, xem giải quyết thế nào. Có lẽ nào lại bảo bài tính đố ấy không có thiệt, thì không được ra mà cũng không trả lời. Vậy mà Phan tiên sanh lại không xét kỹ, rồi đem phép luận lý ở đâu ra mà cắt nghĩa sở dĩ tại sao mà bậy ; thế cũng đáng lấy làm kỳ thiệt !

Giả sử Đào Ứng có hỏi rằng vua Thuấn làm thiên tử mà Cổ Tẩu giết người là tại làm sao ? Thế mà Mạnh Tử lại trả lời như đã chép trong sách, thì mới bẻ là trái phép luận lý được. Đằng nầy câu hỏi của người ta có ý rõ ràng, và câu trả lời cũng phân minh như thế, mà Phan tiên sanh bẻ là bậy và cho là không thành lập, thì thật tôi không hiểu cái phép luận lý của tiên sanh. Có lẽ, vì cô Logique có nhan sắc làm cho tiên sanh quẩn đi chăng ?

Trong câu vấn đáp của Đào Ứng và Mạnh Tử có ý nói về đạo lý, cốt xem có hạp lý hay không, chớ không nói có làm được hay không làm được. Đáng lẽ lý đã thuận, là việc làm được, nhưng vì người đời có mấy ai chịu theo lý đâu. Đó là cái khốn nạn của nhân loại, cứ nói lý thì biết là phải, mà đến lúc làm, thì lý đi một đường, việc làm đi một nẻo, bởi thế cho nên mới thành ra bao nhiêu sự bất nghĩa bất nhân !

Trong khi Mạnh Tử đang giảng cái nghĩa của người làm quan phải thế nào mới hết chức vụ, mà Phan tiên sanh lại nói : Bắt thế nào được ông Thái thượng hoàng. Nói như thế, thì còn bàn lý làm sao được nữa ? Việc ông Thái thượng hoàng có tội mà cứ bắt, là thuộc về phần lý, việc người có tội là ông Thái thượng hoàng, không bắt được, là thuộc về phần thế. Phép là phép công của thiên hạ, người phạm phép là phải trị tội, dẫu là ông Thái thượng hoàng cũng mặc, có vậy mới là công. Còn trị tội được hay không là cái thế nó làm ngăn trở, đó là một lẽ khác. Bởi cái thế mà làm cho cái lý không thực hành được, là việc trái đạo. Vì trái đạo cho nên mới có chuyên chế, có hà khốc. Như vậy mà Phan tiên sanh lại nói là : “tình không thuận, lý không trôi”, là nghĩa gì ?

Mạnh Tử nói “Vua Thuấn phải xem bỏ thiên hạ như bỏ chiếc giép hư”, có phải là Mạnh Tử bảo vua Thuấn khinh thiên hạ như chiếc giép hư đâu. Chỗ nầy Phan tiên sanh xem cũng không rõ nghĩa. Ý Mạnh Tử nói quyền cai trị thiên hạ là quý thật, nhưng đến khi phải làm việc nghĩa, thì bỏ cái quyền chí tôn ấy như bỏ cái của đáng vứt đi vậy. Đối với việc nước, thì dẫu mình làm thiên tử mặc lòng, cha phạm tội, mình không có cái lý cấm được người làm quan giữ phép mà bắt cha. Nhưng đối với tình làm con, thì cha có tội là con phải cứu cha, dẫu quyền thế to đến đâu cũng phải bỏ. Bởi vì theo cái tôn chỉ Nho giáo, thì người làm chủ thiên hạ là phải có hiếu có nghĩa mới được, chớ đã tham danh tham lợi mà bất hiếu bất nghĩa thì sao cho xứng đáng. Vậy nên Mạnh Tử nói ở chỗ khác rằng : “Ngô vị văn uổng kỷ nhi chánh nhân giả giã, huống nhục kỷ dĩ chánh thiên hạ giả hồ ? Thánh nhân chi hạnh bất đồng giã, hoặc viễn, hoặc cận, hoặc khứ, hoặc bất khứ, quy thiết kỳ thân nhi dĩ hỹ”, chánh là cái nghĩa ấy vậy.

Phan tiên sanh lại bẻ rằng : “Trốn thì trốn đi đâu mà Cao Dao không bắt được”. Ý của Mạnh Tử là nói cái lẽ đương nhiên phải như thế, còn trốn được hay không là việc khác. Nếu trốn không được, đành chịu phải bắt với cha, ấy là trọn cái nghĩa của mình rồi. Thánh nhân chỉ dạy người ta làm việc nghĩa mà thôi, sự thành bại là ở cái mịnh [ 2 ] , được thế nào hay thế, miễn là ta làm được việc nghĩa là được. Vả chăng là câu chuyện đặt ra như thế, để dạy người ta về đường đạo lý nên làm thế nào, mà vấn đề của Đào Ứng và Mạnh Tử là một chương có nghĩa lý lắm, ta nên suy nghĩ cho chín, để hiểu cho hết lẽ. Thế mà Phan tiên sanh lại nói nên bỏ đi, thì thật tôi không biết cái học của tiên sanh thế nào, mà có những ý kiến lạ như vậy.

3) Phan tiên sanh lấy chương Vạn Chương hỏi Mạnh Tử về việc vua Nghiêu có lấy thiên hạ cho vua Thuấn được không, mà bẻ là Mạnh Tử luận lý có điều mậu vọng, thì lại càng khó hiểu nữa. Vạn Chương và Mạnh Tử là hai người học theo tôn chỉ của Nho giáo. Mà cái tôn chỉ ấy cho thiên hạ là của chung của thiên hạ, chớ không phải của riêng gì ai cả. Người làm thiên tử là người Trời chỉ trao cho cái quyền bính để giữ thiên hạ mà thôi. Ý Vạn Chương muốn hỏi cho rõ có phải là thiên tử có thể lấy thiên hạ làm của tư một mình mình, rồi đem cho người khác được hay không. Cho nên mới hỏi rằng : “Vua Nghiêu lấy thiên hạ cho vua Thuấn có không ?” Mạnh Tử hiểu rõ ý ấy, trả lời ngay rằng “Không” và lại giảng thêm cho rõ hơn nữa rằng : “Thiên tử không có thể lấy thiên hạ mà cho người được”. Cứ cái lý tự nhiên mà hiểu, thì câu trả lời ấy ăn với câu hỏi lắm, không có cái gì là “biến canh luận điểm” như Phan tiên sanh nói hết cả. Thế mà theo phép luận lý của tiên sanh thì câu trả lời ấy lại phạm vào cái luật “biến canh luận điểm”! Lạ thật ! Câu hỏi có chữ “hữu chư” nghĩa là “có không” hay là “việc ấy có không” ; câu trả lời rằng “phủ”, nghĩa là “không”. Phan quân luận lý quanh quẩn thế nào mà rồi lại nói : “Theo đúng luận lý học thì chỗ nầy Mạnh Tử phải trả lời việc ấy là có hay không cái đã, rồi nói gì hãy nói”. Vậy thì tiên sanh bảo chữ “phủ” trong câu trả lời của Mạnh Tử nghĩa là gì ? Trước tiên sanh bẻ Mạnh Tử là phạm phép luận lý, thế thì bây giờ người ta bẻ tiên sanh phạm vào phép gì trong luận lý học ?

Vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn ; cứ thường tình, thế là vua Nghiêu lấy thiên hạ cho vua Thuấn thật. Nhưng theo cái tôn chỉ của Nho giáo, thì thiên hạ là của Trời, tức là của chung cả thiên hạ, vua Nghiêu chỉ nhường cái quyền trị thiên hạ cho vua Thuấn mà thôi song Trời không cho, tức là thiên hạ không thuận, thì vua Nghiêu có nhường cũng không được. Vì thiên hạ thuận theo vua Thuấn, thế là Trời cho vua Thuấn, chớ không phải là vua Nghiêu cho vua Thuấn. Lý ấy hợp với cái tôn chỉ của Nho giáo, cho nên Mạnh Tử mới giảng thêm nữa cho Vạn Chương hiểu rõ cái nghĩa ấy.

Chương ấy có ý nghĩa liên tiếp và sâu xa lắm. Thế mà Phan tiên sanh lại bảo : “Một chương ấy không cứ cái lý thuyết ra sao, chỉ duy một điều là không án nhập vào câu hỏi ban đầu, đã cho là mậu vọng”. Có lẽ là Phan tiên sanh giỏi nghề luận lý, có những ý kiến cao xa, tôi xin thú thật là không hiểu được lời tiên sanh bàn.

4) Trong bốn điều của Phan tiên sanh bàn ở số báo 63 có một điều bác Khổng Tử và ba điều bác Mạnh Tử. Điều sau cùng tiên sanh cho những lời Mạnh Tử công kích cái học của Hứa Tử là mậu vọng.

Nguyên là Trần Tương nói cái đạo của Hứa Hành về sự “tịnh canh” xong rồi, nói đến cái giá ở chợ, mà trong lời Trần Tương thì giá nhứt định về cái “lượng” (quantité) tức là cái dài, ngắn, nặng, nhẹ, lớn, nhỏ mà thôi, chớ không nói đến cái “phẩm” (qualité), tức là cái tinh, thô, xấu, tốt, khéo, vụng của mọi vật. Phàm việc gì cũng phải gồm có cả lượng và phẩm, thế mà cái thuyết của Hứa Tử chỉ nói đến cái lượng chớ không nói đến cái phẩm, ấy là một cái sở đoản. Mạnh Tử biết cái sở đoản ấy trong cái học của họ Hứa, bèn lấy cái sở đoản ấy mà bác đi. Trong khi hai người biện luận một điều gì mà một người thấy cái sở đoản của người kia, thì có thể nhân đó mà cãi lại, không cần phải nhắc lại những điều người kia nói mà mình đã cho là phải rồi. Bởi vậy Mạnh Tử nói ngay câu : “Phù vật chi bất tề, vật chi tinh giã v.v” Câu ấy chỉ cái phẩm của vật là rõ lắm. Ý cả câu ấy là : Cứ theo cái lượng mà bán giá nhứt định đã vậy, còn cái phẩm thì mỗi vật một khác, cái nầy hơn gấp mấy lần cái kia. Dầu cái lượng tuy đông nhưng cái phẩm có đồng đâu, mà đánh một giá được. Cái ý ấy đến câu “Ti nhi đồng chi, thị loạn thiên hạ giã” là hết. Song Mạnh Tử lại muốn nói rõ tại làm sao mà loạn, và lấy ngay câu “cự lũ tiểu lũ đồng giá” của Trần Tương mà làm thí dụ cái phẩm không thể đồng nhau được.

Trong câu “Cự lũ tiểu lũ đồng giá, nhân khởi vi chi tai ?”, có hai mạng đề. Mạng đề trên là : “cự lũ tiêu lũ đồng giá”, mạng đề dưới là : “nhân khởi vi chi tai”. Hai mạng đề ấy tương thành với nhau mà có một cái nghĩa riêng. Vì ở trong cái mạng đề dưới có hai chữ trợ từ : khởi và tai, cho nên câu ấy có cái nghĩa giả thiết (conditionnel) như thế nầy : “Phỏng sử giép lớn giép nhỏ mà bán đồng một giá, thì còn có ai làm giép lớn nữa không ?” Bởi câu ấy có cái nghĩa giả thiết và lại có cái ý hỏi đằng sau như thế, thì tất là trong câu ấy có ngụ cái ý : Vậy giép tốt giép xấu mà bán đồng giá thì không ai làm giép to nữa ! Sau cùng Mạnh Tử theo cái ý hiểu ngầm ấy mà kết thúc bằng câu : “Theo cái đạo của Hứa Tử, thành ra bảo nhau mà làm điều giả dối, sao có thể trị được quốc gia ?” Nếu ta không xét kỹ cái nghĩa giả thiết ở trên kia, thì thành hiểu lầm ngay.

Cái nghĩa chương ấy là thế, mà các học giả xưa nay đều hiểu như thế cả. Nay Phan tiên sanh không để ý vào nghĩa lý, chỉ nhứt thiết lấy văn từ mà bỏ mất cái tinh thần, thì còn hiểu làm sao được đạo của thánh hiền nữa ? Cái học của Nho giáo cốt ở cái tinh thần. Kẻ học giả xét điều gì phải hiểu cho rõ hết các ý nghĩa. Các ý nghĩa mà hạp lý, thì dầu văn từ có không rõ cũng “bất dĩ từ hại ý”. Đó là cũng do cái văn từ của Tàu khó viết cho đúng hết ý mà thành ra. Bởi vậy Mạnh Tử đã nói : “Tận tín thư bất như vô thư”, chính là ngài bảo mình đừng nệ về văn từ ở trong sách. Một đôi khi ta xem sách, thấy có chữ tối nghĩa, hoặc sai lầm, ta cũng đừng lấy làm nệ mà bỏ mất nghĩa lý. Mạnh Tử đã dặn ta rằng : “Bất dĩ văn hại từ, bất dĩ từ hại ý. Dĩ ý nghịch chi, thị vi đắc chi”. Là cốt để răn ta đừng nệ về văn, về từ, mà làm mất cái ý nghĩa trong những điều rất hay về đạo lý.

Khi tôi bàn cái thống hệ của Nho giáo, tôi nói ở trang 15, sách Nho giáo rằng : “Muốn tìm cái thống hệ của Nho giáo, thì phải dùng trực giác mà xem, phải lấy ý mà hội, thì thấy rõ cái mối liên lạc trong các đoạn tư tưởng, tuy về phần hình thức thì lỏng lẻo, rời rạc, nhưng về phần tinh thần, thì suốt từ đầu đến cuối chỉ là một mà thôi”. Vậy muốn tìm cho rõ các ý nghĩa trong những lời giáo hối của Khổng Mạnh cũng phải như thế, mới thấy rõ được. Cái phương pháp luận lý học có cần cho sự tri thức của người ta lắm, bởi vì nó dẫn đường chỉ nẻo cho ta tìm cái phải cái hay. Song nó dạy ta biết thế mà thôi, chớ một mình nó không đủ làm cho ta biết đến chỗ tinh vi, thâm viễn của chân lý được. Ngay trong Tây học, những người hiền triết như Pascal đã nói : “Ta biết cái chân lý, không những là bởi lý trí, mà còn bởi cái tâm nữa”. (Nous connaissons la vérité, non seulement par la raison, mais encore par le coeur). Vậy cái biết của tâm cũng cần lắm, cho nên Nho giáo chú trọng ở sự giữ cho cái tâm hư và tĩnh, không để nó bị tế tắc ở chỗ nào, thì mới “tinh nghĩa nhập thần” và mới biết rõ những điều cao. Nên chi ta phải chú ý vào trực giác, là cái biết rất nhanh, rất sáng của tâm. Nhờ có trực giác, thì ta mới đạt tới cái chân lý, thường hay ẩn khuất khó biết rõ được.

Phan tiên sanh chỉ thiên về một mặt lý trí, muốn chuyên dùng mấy cái quy tắc của luận lý học, không nghĩ gì đến cái tâm và các nghĩa lý khác, nhứt nhứt thu cả vào một cái khuôn nhứt định, rồi đem cái đạo uyên bác của thánh hiền vào cái khuôn ấy mà xét, thì tài nào không lầm được. Cái học của thánh hiền có nhiều điều tinh vi, hễ ta vô ý, sai mất một hào ly là lầm đến ngàn dặm. Nếu ta không thận trọng, không đem cái tâm công chánh, hư, tĩnh, mà cân nhắc điều phải điều trái, thì thành ra ta làm hại đạo, và lại làm thiệt thòi cho sự học vấn. Tôi biết Phan tiên sanh nhiệt tâm về sự học vấn, cho nên tôi lấy tình thiệt mà trung cáo, xin tiên sanh nghĩ lại, đừng để kẻ học giả chê mình là người nông nổi. Khổng Tử dạy rằng : “quân tử ư kỳ ngôn, vô sở cầu nhi dĩ hỹ”. Ta nên nhớ câu ấy mà giữ mình trong khi biện luận, có lẽ cũng đỡ được nhiều sự sai lầm vậy.

Trên kia đã bàn xong những điều Phan tiên sanh nói về Khổng Tử và Mạnh Tử, nay tôi xin cùng với tiên sanh bàn lại mấy điều trong sách Nho giáo mà tiên sanh đã nói ở báo Phụ nữ số 54 và 64. Phan tiên sanh có trách rằng những điều tôi đã trả lời đăng ở số 60 không được đúng vào những điều của tiên sanh đã xướng lên. Tôi xét lại quả thật có mấy chỗ tôi viết vội không xem lại cẩn thận cho nên thành ra không đúng. Vậy tôi xin chịu lỗi. Còn chỗ khác có sai là sai lặt vặt, chớ cái đại ý của toàn thể cũng không sai mấy.

Tôi đáp lại Phan tiên sanh tất cả là sáu điều : Một điều nói về cái thuyết hữu thần hay vô thần của Khổng giáo thì xong rồi, không phải nói đến nữa. Còn một điều Phan tiên sanh nói nên bỏ hai chữ vô cực, đừng nói ở cái học thuyết của Khổng Tử, để đến khi bàn đến Tống nho sẽ nói. Tiên sanh bảo như thế có lý hơn, tôi xin nghe, để khi nào tái bản quyển Nho giáo thứ nhứt, tôi xin sửa lại, thế là hai điều ấy đã êm rồi.

Còn bốn điều nữa, thì cái vấn đề bây giờ rõ rệt hơn trước và chúng ta đã trao đổi ý kiến với nhau rồi, thì nay cách giải quyết có lẽ dễ hơn.

I. Lương tri và trực giác. – Phan tiên sanh nói rằng lý trí không phải là trí xuyên tạc. Điều ấy tôi nghĩ lại, thì tiên sanh nói phải. Tôi sở dĩ lầm về chỗ ấy là vì tôi nghĩ đối với cái lý trí của người ta thường dùng, hay có cái ý xuyên tạc, chớ không dùng cái lý ngay chánh, cho nên tôi nhận lầm cái lý trí là cái trí xuyên tạc. Nay tiên sanh có lòng tốt chỉ bảo cho, thì tôi hiểu là tôi lầm. Vậy xin có lời cảm tạ. Nếu các nhà học giả được nhiều người như Phan tiên sanh, thì sự học của ta chắc có phần chóng lắm vậy.

Duy chỉ có chữ xuyên tạc mà Phan tiên sanh nói là hơi giống như xiên xỏ thì không phải. Chữ xuyên tuy có nghĩa đen là soi thủng qua, chữ tạc là đào sâu xuống, nhưng cứ theo nghĩa phổ thông cả hai chữ dùng liền với nhau là nói ngoắt ngoéo, thiên lệch, không ngay thẳng. Còn tiếng xiên xỏ thì có nghĩa xấu lắm, không thể dùng mà nói về đạo lý được. Tiên sanh cũng chỉ nói hơi giống mà thôi, song dầu nói hơi giống cũng không dùng được.

Còn chữ lương tri mà tiên sanh bảo không phải là trực giác, thì tôi vẫn chưa chịu. Trước khi nói tại làm sao mà tôi bảo lương tri là trực giác, tôi hãy xin nói cái ý của Phan tiên sanh là thế nào. Cứ như Phan tiên sanh thì lương tri là cái biết rất rộng, bao hàm cả nhân nghĩa lễ trí tín, cùng trực giác và lý trí. Vậy trực giác chỉ là một phần nội dung của lương tri chớ không phải là lương tri. Lương tri và trực đều là cái biết, nhưng cái biết của lương tri rộng hơn, mà cái biết của trực giác là “cách nhận thức mọi việc của nhà triết học mà thôi”.