Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1983
Part 2
Hội đồng bộ trưởng quyết định việc bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, huyện và cấp tương đương.
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương quyết định việc bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường và thị trấn.
Đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu bổ sung làm nhiệm vụ bắt đầu từ kỳ họp Hội đồng nhân dân sau cuộc bầu cử bổ sung đến kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khoá sau.
Điều 45
Trong trường hợp đại biểu Hội đồng nhân dân được phân công cùng di chuyển với nhân dân đến một địa phương khác, thì đại biểu đó là thành viên của Hội đồng nhân dân cấp tương đương ở nơi mới đến và làm nhiệm vụ cho đến khi Hội đồng nhân dân nơi đó hết nhiệm kỳ.
=
=
Điều 46
Uỷ ban nhân dân chuẩn bị các kỳ họp của Hội đồng nhân dân ; phối hợp với các Ban chuyên trách của Hội đồng nhân dân xây dựng các đề án trình Hội đồng nhân dân xét và quyết định.
Uỷ ban nhân dân tổ chức và chỉ đạo thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp và các nghị quyết, nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư của các cơ quan Nhà nước cấp trên.
Uỷ ban nhân dân chỉ đạo các ngành, các cấp thuộc quyền mình thực hiện kế hoạch và ngân sách, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giữ vững an ninh, trật tự, an toàn xã hội, củng cố quốc phòng và cải thiện đời sống nhân dân địa phương ; đồng thời, bảo đảm sự quản lý thống nhất của Nhà nước từ trung ương đến cơ sở ; cùng các đoàn thể nhân dân tổ chức và chỉ đạo phong trào thi đua yêu nước xã hội chủ nghĩa.
Điều 47
Giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân được xét và giải quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cùng cấp, trừ những vấn đề ghi ở Điều 24 của Luật này, và phải báo cáo trình Hội đồng nhân dân phê chuẩn trong kỳ họp gần nhất.
Điều 48
Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tiếp dân, trực tiếp xét, giải quyết và chỉ đạo các ngành, các cấp thuộc quyền mình xét, giải quyết các khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của nhân dân.
Điều 49
Uỷ ban nhân dân các cấp có quyền ra những quyết định, chỉ thị theo quy định của pháp luật và kiểm tra việc thi hành những quyết định, chỉ thị ấy ; đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định không thích đáng của các ngành thuộc quyền mình và của Uỷ ban nhân dân cấp dưới ; đình chỉ việc thi hành những nghị quyết không thích đáng của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp, đồng thời, đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết đó.
=
Điều 50
Uỷ ban nhân dân gồm có Chủ tịch, một hoặc nhiều Phó Chủ tịch, Uỷ viên thư ký và các Uỷ viên khác.
Thành viên của Uỷ ban nhân dân phải là đại biểu Hội đồng nhân dân.
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương có từ mười một đến mười bảy người.
Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận có từ chín đến mười ba người.
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có từ bảy đến chín người.
Số Phó Chủ tịch của Uỷ ban nhân dân mỗi cấp do Hội đồng bộ trưởng quy định.
Điều 51
Trong kỳ họp đầu tiên của mỗi khoá Hội đồng nhân dân, Hội đồng nhân dân bỏ phiếu kín bầu Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Uỷ viên thư ký và các Uỷ viên khác của Uỷ ban nhân dân cấp mình theo danh sách đề cử chức vụ từng người do Đoàn Chủ tịch kỳ họp và các tổ đại biểu giới thiệu chung ; từng đại biểu Hội đồng nhân dân cũng có quyền giới thiệu.
Kết quả bầu cử Uỷ ban nhân dân mỗi cấp phải được Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn ; kết quả bầu cử Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương phải được Hội đồng bộ trưởng phê chuẩn.
Khi khuyết thành viên của Uỷ ban nhân dân thì Hội đồng nhân dân cùng cấp xét và quyết định bầu bổ sung.
Điều 52
Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và trước Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp ; Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và trước Hội đồng bộ trưởng.
Uỷ ban nhân dân làm việc theo chế độ tập thể.
Mỗi thành viên của Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm cá nhân về phần công tác của mình trước Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cùng cấp, và cùng với các thành viên khác chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Uỷ ban nhân dân trước Hội đồng nhân dân cấp mình và trước cấp trên.
Điều 53
Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Uỷ viên thư ký hợp thành bộ phận thường trực Uỷ ban nhân dân.
Thường trực Uỷ ban nhân dân có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây :
1- Bảo đảm việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân và các quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân.
2- Căn cứ vào quyết định của Uỷ ban nhân dân, giữa hai kỳ họp của Uỷ ban, giải quyết những vấn đề thuộc quyền hạn của Uỷ ban và báo cáo với Uỷ ban trong kỳ họp gần nhất của Uỷ ban.
3- Chuẩn bị các kỳ họp của Uỷ ban nhân dân ; đưa ra Uỷ ban nhân dân thảo luận những vấn đề thuộc nội dung các kỳ họp của Hội đồng nhân dân.
Điều 54
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân lãnh đạo và điều hành công tác của Uỷ ban nhân dân ; triệu tập và chủ toạ các kỳ họp của Uỷ ban nhân dân ; bảo đảm việc chấp hành các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, các quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp mình và các nghị quyết, nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư của các cơ quan Nhà nước cấp trên.
Điều 55
Uỷ ban nhân dân các cấp mỗi tháng họp ít nhất một lần.
Các quyết định của Uỷ ban nhân dân phải được quá nửa tổng số thành viên Uỷ ban biểu quyết tán thành.
Điều 56
Thư ký Liên hiệp Công đoàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương, huyện, quận và cấp tương đương được mời dự các kỳ họp của Uỷ ban nhân dân cùng cấp.
Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và những người phụ trách chính các đoàn thể nhân dân khác trong Mặt trận ở địa phương được mời dự các kỳ họp của Uỷ ban nhân dân cùng cấp, khi cần thiết.
Uỷ ban nhân dân các cấp tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong Mặt trận tổ chức và động viên nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội.
=
Điều 57
Uỷ ban nhân dân thành lập hoặc bãi bỏ các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân, theo quy định của Hội đồng bộ trưởng.
Điều 58
Các cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý Nhà nước ở địa phương và bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở.
Điều 59
Các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Uỷ ban nhân dân cấp mình, đồng thời, chịu sự chỉ đạo của cơ quan chuyên môn cấp trên.
Thủ trưởng cơ quan chuyên môn chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban nhân dân, báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cấp mình khi cần thiết ; đồng thời, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác với cơ quan chuyên môn cấp trên.
=
Điều 60
Hội đồng Nhà nước giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp nhằm bảo đảm cho Hội đồng nhân dân các cấp làm tròn trách nhiệm là cơ quan đại biểu cho nhân dân địa phương.
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương báo cáo về tình hình hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp ở địa phương, theo quy định của Hội đồng Nhà nước.
Khi cần thiết, Hội đồng Nhà nước ra nghị quyết để hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp.
Điều 61
Hội đồng bộ trưởng có trách nhiệm bảo đảm cho Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương ; lãnh đạo Uỷ ban nhân dân các cấp làm tròn trách nhiệm của cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương.
Hội đồng bộ trưởng chỉ đạo Uỷ ban nhân dân các cấp đưa ra Hội đồng nhân dân xét và quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cùng cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các đại biểu Hội đồng nhân dân và các Ban của Hội đồng nhân dân.
Điều 62
Hội đồng nhân dân quyết định những biện pháp cần thiết nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Điều 63
Khi thực hiện nhiệm vụ, đại biểu Hội đồng nhân dân được bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần, do Hội đồng bộ trưởng quy định.
Uỷ ban nhân dân các cấp, các cơ quan và nhân viên Nhà nước ở địa phương, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các đại biểu Hội đồng nhân dân và các Ban của Hội đồng nhân dân, như cung cấp tư liệu, thông tin, bảo đảm nơi tiếp xúc với cử tri, các phương tiện đi lại theo tiêu chuẩn.
Những người cản trở đại biểu Hội đồng nhân dân và các Ban của Hội đồng nhân dân thi hành nhiệm vụ sẽ bị xử lý theo pháp luật.
Điều 64
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong Mặt trận giúp đỡ đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp làm nhiệm vụ đại biểu ; tạo điều kiện cho đại biểu tiếp xúc với cử tri và thu thập ý kiến, nguyện vọng của nhân dân. Mỗi năm hai lần, Uỷ ban nhân dân thông báo cho Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp về hoạt động của Hội đồng nhân dân.
=
Điều 65
Trong trường hợp sáp nhập nhiều đơn vị hành chính thành một đơn vị hành chính mới, Hội đồng nhân dân của các đơn vị hành chính cũ nhập lại thành Hội đồng nhân dân của đơn vị hành chính mới và hoạt động cho đến khi hết nhiệm kỳ.
Hội đồng nhân dân của đơn vị hành chính mới bầu ra Uỷ ban nhân dân mới.
Điều 66
Trong trường hợp chia một đơn vị hành chính thành nhiều đơn vị hành chính mới, các đại biểu Hội đồng nhân dân đã được bầu trong địa hạt đơn vị hành chính mới nào thì hợp thành Hội đồng nhân dân của đơn vị hành chính ấy, và tiếp tục hoạt động cho đến khi hết nhiệm kỳ. Nếu cần bầu thêm đại biểu thì tiến hành theo Điều 44 của Luật này.
Hội đồng nhân dân của đơn vị hành chính mới bầu ra Uỷ ban nhân dân mới.
Điều 67
Trong trường hợp một đơn vị hành chính thay đổi cấp thì Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tiếp tục hoạt động với cương vị của cấp mới cho đến khi hết nhiệm kỳ.
Điều 68
Trong trường hợp một đơn vị hành chính mới được thành lập thì Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp chỉ định Uỷ ban nhân dân lâm thời để đảm nhiệm công tác cho đến khi bầu ra Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ; đối với đơn vị hành chính tương đương cấp tỉnh thì Hội đồng bộ trưởng chỉ định Uỷ ban nhân dân lâm thời.
Điều 69
Trong trường hợp Hội đồng nhân dân bị giải tán hoặc trong trường hợp đặc biệt khác, Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp chỉ định Uỷ ban nhân dân lâm thời để đảm nhiệm công tác cho đến khi bầu ra Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ; đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương thì Hội đồng bộ trưởng chỉ định Uỷ ban nhân dân lâm thời.
=
Điều 70
Hội đồng Nhà nước, Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Luật này.
Điều 71
Luật này thay thế Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp ngày 27 tháng 10 năm 1962. Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ. ---- Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII, kỳ họp thứ 5, thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1983.
Thể loại:Luật Việt Nam