Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1989

Part 2

Chapter 22,550 wordsPublic domain (Wikisource)

Đại biểu Hội đồng nhân dân có thể xin từ chức vì lý do không thể đảm nhiệm được nhiệm vụ đại biểu Hội đồng nhân dân.

Việc chấp nhận đại biểu Hội đồng nhân dân từ chức do Hội đồng nhân dân cùng cấp xét và quyết định.

Điều 41

Đại biểu Hội đồng nhân dân có thể bị cử tri của đơn vị bầu ra mình bãi miễn, nếu không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.

Tuỳ theo mức độ phạm sai lầm, đại biểu Hội đồng nhân dân có thể bị Hội đồng nhân dân bãi miễn hoặc đưa ra để cử tri ở đơn vị bầu ra đại biểu ấy bãi miễn theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân hoặc của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp.

Điều 42

Trong trường hợp khuyết đại biểu Hội đồng nhân dân thì có thể tổ chức bầu cử bổ sung.

Hội đồng Nhà nước quyết định việc bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương.

Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương quyết định việc bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, xã và cấp tương đương.

Đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu bổ sung bắt đầu làm nhiệm vụ từ kỳ họp Hội đồng nhân dân sau cuộc bầu cử bổ sung đến kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khoá sau.

Điều 43

Trong trường hợp đại biểu Hội đồng nhân dân được phân công cùng di chuyển với nhân dân đến một địa phương khác, thì đại biểu đó là thành viên của Hội đồng nhân dân cấp tương đương ở nơi mới đến và làm nhiệm vụ cho đến khi Hội đồng nhân dân nơi đó hết nhiệm kỳ.

Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào vì lý do thuyên chuyển mà không làm công tác và không cư trú ở địa phương thì Hội đồng nhân dân cấp đó quyết định cho thôi chức vụ đại biểu.

Chương VI: Ủy ban nhân dân

Mục 1: nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban nhân dân

Điều 44

Uỷ ban nhân dân cùng với Thường trực Hội đồng nhân dân chuẩn bị các kỳ họp của Hội đồng nhân dân; phối hợp với các Ban của Hội đồng nhân dân xây dựng các đề án trình Hội đồng nhân dân xét và quyết định.

Uỷ ban nhân dân tổ chức và chỉ đạo thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp và các nghị quyết, nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư của các cơ quan Nhà nước cấp trên.

Uỷ ban nhân dân chỉ đạo các ngành, các cấp thuộc quyền mình thực hiện kế hoạch và ngân sách, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giữ vững an ninh, trật tự, an toàn xã hội, củng cố quốc phòng và cải thiện đời sống nhân dân địa phương; đồng thời, bảo đảm sự quản lý thống nhất của Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; cùng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tổ chức và chỉ đạo phong trào thi đua yêu nước xã hội chủ nghĩa.

Điều 45

Giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân được xét và giải quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cùng cấp, trừ những vấn đề quy định tại Điều 21 và Điều 25 của Luật này, và phải trình Hội đồng nhân dân phê chuẩn trong kỳ họp gần nhất.

Điều 46

Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tiếp dân, trực tiếp xét, giải quyết và chỉ đạo các ngành, các cấp thuộc quyền mình xét, giải quyết các khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của nhân dân.

Điều 47

Uỷ ban nhân dân các cấp có quyền ra những quyết định, chỉ thị theo quy định của pháp luật và kiểm tra việc thi hành những quyết định, chỉ thị ấy; đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định không thích đáng của các ngành thuộc quyền mình và của Uỷ ban nhân dân cấp dưới; đình chỉ việc thi hành những nghị quyết không thích đáng của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp, đồng thời đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết đó.

Mục 2: Tổ chức, chế độ làm việc và quan hệ công tác của ủy ban nhân dân

Điều 48

Uỷ ban nhân dân gồm có Chủ tịch, một hoặc nhiều Phó Chủ tịch và các uỷ viên khác.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân là đại biểu Hội đồng nhân dân. Các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân không nhất thiết phải là đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp.

Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương có từ mười một đến mười bảy người.

Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh, thị xã có từ chín đến mười ba người.

Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có từ bảy đến chín người.

Số Phó Chủ tịch của Uỷ ban nhân dân mỗi cấp do Hội đồng bộ trưởng quy định.

Điều 49

Trong kỳ họp đầu tiên của mỗi khoá Hội đồng nhân dân, Hội đồng nhân dân bỏ phiếu kín bầu Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các uỷ viên khác của Uỷ ban nhân dân cấp mình theo danh sách đề cử chức vụ từng người do Chủ toạ kỳ họp và các tổ đại biểu giới thiệu chung; từng đại biểu Hội đồng nhân dân cũng có quyền giới thiệu.

Kết quả bầu cử Uỷ ban nhân dân mỗi cấp phải được Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn; Kết quả bầu cử Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương được Hội đồng bộ trưởng phê chuẩn.

Khi khuyết thành viên của Uỷ ban nhân dân thì Hội đồng nhân dân cùng cấp xét và quyết định bầu bổ sung.

Điều 50

Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và trước Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp; Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và trước Hội đồng bộ trưởng.

Uỷ ban nhân dân làm việc theo chế độ tập thể.

Mỗi thành viên của Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm cá nhân về phần công tác của mình trước Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cùng cấp, và cùng với các thành viên khác chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Uỷ ban nhân dân trước Hội đồng nhân dân cấp mình và trước cấp trên.

Điều 51

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân lãnh đạo và điều hành công tác của Uỷ ban nhân dân; triệu tập và chủ toạ các kỳ họp của Uỷ ban nhân dân; bảo đảm việc chấp hành các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, các quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp mình và các nghị quyết, nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư của các cơ quan Nhà nước cấp trên.

Điều 52

Uỷ ban nhân dân các cấp mỗi tháng họp ít nhất một lần.

Các quyết định của Uỷ ban nhân dân phải được quá nửa tổng số thành viên Uỷ ban biểu quyết tán thành.

Điều 53

Chủ tịch Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương, huyện, quận và cấp tương đương được mời dự các kỳ họp của Uỷ ban nhân dân cùng cấp.

Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và những người phụ trách chính các đoàn thể nhân dân khác trong Mặt trận ở địa phương được mời dự các kỳ họp của Uỷ ban nhân dân cùng cấp khi bàn đến các vấn đề quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh và quốc phòng ở địa phương.

Uỷ ban nhân dân các cấp tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong Mặt trận tổ chức và động viên nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội.

Mục 3: Cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh ủy ban nhân dân

Điều 54

Uỷ ban nhân dân thành lập hoặc bãi bỏ các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân, theo quy định của Hội đồng bộ trưởng.

Điều 55

Các cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý Nhà nước ở địa phương và bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở.

Điều 56

Các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Uỷ ban nhân dân cấp mình, đồng thời, chịu sự chỉ đạo của cơ quan chuyên môn cấp trên.

Thủ trưởng cơ quan chuyên môn chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban nhân dân, báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cấp mình khi cần thiết; đồng thời, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác với cơ quan chuyên môn cấp trên.

Chương VII: những bảo đảm cho việc thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của hội đồng nhân dân

Điều 57

Hội đồng Nhà nước giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp nhằm bảo đảm cho Hội đồng nhân dân các cấp làm tròn trách nhiệm là cơ quan đại biểu cho nhân dân địa phương.

Khi cần thiết, Hội đồng Nhà nước ra nghị quyết để hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp.

Điều 58

Hội đồng bộ trưởng có trách nhiệm bảo đảm cho Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương; lãnh đạo Uỷ ban nhân dân các cấp làm tròn trách nhiệm của cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương.

Kinh phí hoạt động của Hội đồng nhân dân do Hội đồng nhân dân quyết định và ghi trong ngân sách địa phương theo quy định của Hội đồng Nhà nước.

Điều 59

Khi thực hiện nhiệm vụ, đại biểu Hội đồng nhân dân được bảo đảm các điều kiện cần thiết, do Hội đồng Nhà nước quy định.

Uỷ ban nhân dân các cấp, các cơ quan và nhân viên Nhà nước ở địa phương, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các đại biểu Hội đồng nhân dân và các Ban của Hội đồng nhân dân, như cung cấp tư liệu, thông tin, bảo đảm nơi tiếp xúc với cử tri, các phương tiện đi lại theo tiêu chuẩn.

Những người cản trở đại biểu Hội đồng nhân dân và các Ban của Hội đồng nhân dân thi hành nhiệm vụ sẽ bị xử lý theo pháp luật.

Điều 60

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong Mặt trận giúp đỡ đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp làm nhiệm vụ đại biểu; tạo điều kiện cho đại biểu tiếp xúc với cử tri, thu thập ý kiến, nguyện vọng của nhân dân; kiến nghị những vấn đề cần thiết với Hội đồng nhân dân. Mỗi năm hai lần thường trực Hội đồng nhân dân thông báo cho Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp về hoạt động của Hội đồng nhân dân.

Chương VIII: những quy định về tổ chức trong trường hợp thay đổi cấp hoặc địa giới của các đơn vị hành chính và trong trường hợp đặc biệt

Điều 61

Trong trường hợp sát nhập nhiều đơn vị hành chính thành một đơn vị hành chính mới, Hội đồng nhân dân của các đơn vị hành chính cũ nhập lại thành Hội đồng nhân dân của các đơn vị hành chính mới và hoạt động cho đến khi hết nhiệm kỳ.

Hội đồng nhân dân của đơn vị hành chính mới bầu ra Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân mới.

Điều 62

Trong trường hợp chia một đơn vị hành chính thành nhiều đơn vị hành chính mới, các đại biểu Hội đồng nhân dân đã được bầu trong địa hạt đơn vị hành chính mới nào thì hợp thành Hội đồng nhân dân của đơn vị hành chính ấy, và tiếp tục hoạt động cho đến khi hết nhiệm kỳ. Nếu cần bầu thêm đại biểu thì tiến hành theo quy định tại Điều 42 của Luật này.

Hội đồng nhân dân của đơn vị hành chính mới bầu ra Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân mới.

Điều 63

Trong trường hợp một đơn vị hành chính thay đổi cấp thì Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tiếp tục hoạt động với cương vị của cấp mới cho đến khi hết nhiệm kỳ.

Điều 64

Trong trường hợp một đơn vị hành chính mới được thành lập thì Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp chỉ định Uỷ ban nhân dân lâm thời để đảm nhiệm công tác cho đến khi bầu ra Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân; đối với đơn vị hành chính tương đương cấp tỉnh thì Hội đồng bộ trưởng chỉ định Uỷ ban nhân dân lâm thời.

Điều 65

Trong trường hợp Hội đồng nhân dân bị giải tán hoặc trong trường hợp đặc biệt khác, Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp chỉ định Uỷ ban nhân dân lâm thời để đảm nhiệm công tác cho đến khi bầu ra Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân; đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương thì Hội đồng bộ trưởng chỉ định Uỷ ban nhân dân lâm thời.

Chương IX: Điều khoản cuối cùng

Điều 66

Luật này thay thế Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày 30 tháng 6 năm 1983.

Những quy định trước đây trái với luật này đều bãi bỏ.

Điều 67

Hội đồng Nhà nước, Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Luật này. ---- Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1989.

Thể loại:Luật pháp Việt Nam