The Life of Marie de Medicis, Queen of France, Consort of Henri IV, and Regent of the Kingdom under Louis XIII — Volume 3

Chapter 4

Chapter 44,995 wordsPublic domain

3- Người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá được sử dụng số tiền thu được từ việc định đoạt hàng hoá để thanh toán các khoản mà khách hàng nợ mình và các chi phí có liên quan. Số tiền còn lại phải được chuyển trả cho khách hàng. Kể từ thời điểm đó, người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá hết trách nhiệm đối với hàng hoá hoặc chứng từ đã được định đoạt.

4- Trong trường hợp hàng hoá có dấu hiệu bị hư hỏng, quyền định đoạt hàng hoá của người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá quy định tại khoản 2 Điều này phát sinh ngay khi có bất kỳ khoản nợ nào của khách hàng, với điều kiện người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá đã thông báo cho khách hàng biết về việc định đoạt hàng hoá.

Mục 11:Dịch vụ giám định hàng hóa

Điều 172: Dịch vụ giám định hàng hoá

Giám định hàng hoá là hành vi thương mại do một tổ chức giám định độc lập thực hiện để xác định tình trạng thực tế của hàng hoá theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Điều 173: Các tổ chức giám định hàng hoá

1- Chỉ các tổ chức có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ giám định hàng hoá mới được phép thực hiện dịch vụ giám định và cấp chứng thư giám định hàng hoá.

2- Các tổ chức giám định nước ngoài chỉ được thực hiện dịch vụ giám định hàng hoá tại Việt Nam khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cho phép hoặc được thành lập Chi nhánh tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Điều 174: Nội dung giám định hàng hoá

Giám định hàng hoá gồm giám định về số lượng, chất lượng, quy cách, bao bì, giá trị hàng hoá, tổn thất, an toàn, vệ sinh và các yêu cầu khác.

Điều 175: Giám định hàng hoá theo yêu cầu của các bên

Hàng hoá được giám định theo thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá; trong trường hợp hợp đồng không có quy định thì các bên có quyền lựa chọn tổ chức giám định.

Điều 176: Giám định hàng hoá theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước

Tổ chức giám định hàng hoá có nghĩa vụ thực hiện việc giám định hàng hoá theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước phù hợp với lĩnh vực kinh doanh và được cơ quan yêu cầu giám định trả phí giám định.

Điều 177: Quyền và nghĩa vụ của bên yêu cầu giám định hàng hoá

Bên yêu cầu giám định hàng hoá có những quyền và nghĩa vụ sau đây:

1- Yêu cầu tổ chức giám định thực hiện việc giám định hàng hoá theo nội dung đã thoả thuận;

2- Yêu cầu giám định lại nếu nghi ngờ kết quả giám định; trong trường hợp tổ chức giám định cấp chứng thư giám định sai, thì có quyền đòi tiền phạt;

3- Cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời các tài liệu cần thiết cho tổ chức giám định khi có yêu cầu;

4- Trả phí giám định theo thoả thuận.

Điều 178. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức giám định hàng hoá

Tổ chức giám định hàng hoá có những quyền và nghĩa vụ sau đây:

1- Giám định độc lập, khách quan, kịp thời, chính xác;

2- Cấp chứng thư giám định;

3- Nhận phí giám định theo thoả thuận;

4- Trả tiền phạt trong trường hợp giám định sai theo thoả thuận giữa hai bên, mức phạt không được quá mười lần phí giám định.

Điều 179: Uỷ quyền giám định hàng hoá

Trường hợp các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá thoả thuận thuê tổ chức giám định nước ngoài thực hiện dịch vụ giám định hàng hoá mà tổ chức đó chưa được phép hoạt động tại Việt Nam, thì tổ chức giám định nước ngoài đó được ủy quyền cho tổ chức giám định đã được phép hoạt động tại Việt Nam thực hiện dịch vụ giám định hàng hoá, nhưng phải chịu trách nhiệm về kết quả giám định.

Mục 12: Khuyến mại

Điều 180: Khuyến mại

Khuyến mại là hành vi thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc bán hàng, cung ứng dịch vụ trong phạm vi kinh doanh của thương nhân bằng cách dành những lợi ích nhất định cho khách hàng.

Điều 181: Các hình thức khuyến mại

1- Các hình thức khuyến mại gồm:

A) Đưa hàng mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền;

B) Tặng hàng hoá cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền;

C) Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán, giá cung ứng dịch vụ bình thường trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại;

D) Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng hoặc các hình thức khác để được trúng thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố;

Đ) Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố;

E) Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo vé số dự thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.

2- Ngoài các hình thức khuyến mại quy định tại khoản 1 Điều này, thương nhân được thực hiện các hình thức khuyến mại khác nếu được cơ quan quản lý Nhà nước về thương mại chấp thuận.

Điều 182: Hàng hoá dùng để khuyến mại

Hàng hoá được thương nhân dùng để tặng, thưởng cho khách hàng, gửi cho khách hàng dùng thử trong hoạt động khuyến mại phải là hàng được phép lưu thông trên thị trường.

Điều 183: Quyền và nghĩa vụ của thương nhân tổ chức hoạt động khuyến mại

1- Thương nhân tổ chức hoạt động khuyến mại có những quyền sau đây:

A) Lựa chọn hình thức, thời gian, địa điểm khuyến mại;

B) Quy định các lợi ích cụ thể mà khách hàng được hưởng;

C) Uỷ quyền cho đại lý thực hiện hoạt động khuyến mại.

2- Thương nhân tổ chức hoạt động khuyến mại có những nghĩa vụ sau đây:

A) Thông báo bằng văn bản về thời gian, hình thức khuyến mại cho cơ quan quản lý Nhà nước về thương mại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi tổ chức khuyến mại trước khi thực hiện việc khuyến mại.

Trong trường hợp áp dụng hình thức khuyến mại quy định tại điểm e khoản 1 Điều 181 của Luật này thì phải được sự chấp thuận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;

B) Thông báo công khai các hình thức và thời gian khuyến mại tại nơi bán hàng, cung ứng dịch vụ;

C) Thực hiện đúng các cam kết với khách hàng.

Điều 184: Bảo đảm bí mật thông tin về chương trình, nội dung khuyến mại

Khi nhận được thông báo về tổ chức khuyến mại của thương nhân, cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phải tuyệt đối giữ bí mật chương trình, nội dung khuyến mại; nếu việc tiết lộ gây thiệt hại cho thương nhân thì bên bị hại có quyền khiếu nại đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Toà án theo quy định của pháp luật.

Điều 185: Các hoạt động khuyến mại bị cấm

Cấm các hoạt động khuyến mại sau đây:

1- Khuyến mại cho hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh, hàng hoá chưa được phép lưu thông;

2- Khuyến mại thiếu trung thực hoặc gây hiểu lầm về hàng hoá, dịch vụ để lừa dối khách hàng;

3- Khuyến mại để tiêu thụ hàng hoá kém chất lượng, làm phương hại tới sản xuất, lợi ích và sức khoẻ con người, làm ảnh hưởng tới cảnh quan môi trường;

4- Khuyến mại tại trường học, bệnh viện, trụ sở của cơ quan, tổ chức và đơn vị vũ trang nhân dân;

5- Khuyến mại các mặt hàng rượu, bia, thuốc lá với các đối tượng trẻ em dưới 16 tuổi;

6- Hứa hẹn tặng phẩm, giải thưởng nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng.

Mục 13: Quảng cáo thương mại

Điều 186: Quảng cáo thương mại

Quảng cáo thương mại là hành vi thương mại của thương nhân nhằm giới thiệu hàng hoá, dịch vụ để xúc tiến thương mại.

Điều 187: Quyền quảng cáo thương mại

Thương nhân có quyền quảng cáo về hoạt động sản xuất, hàng hoá, dịch vụ của mình hoặc thuê tổ chức kinh doanh dịch vụ quảng cáo thực hiện việc quảng cáo thương mại cho mình.

Điều 188: Kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại

1- Kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại là hoạt động thương mại của thương nhân để thực hiện việc quảng cáo thương mại cho các thương nhân khác.

2- Tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, có yêu cầu kinh doanh dịch vụ quảng cáo thì được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

3- Chính phủ quy định các điều kiện kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại.

Điều 189: Sản phẩm quảng cáo thương mại

Sản phẩm quảng cáo thương mại gồm những thông tin bằng hình ảnh, âm thanh, chữ viết, biểu tượng chứa đựng nội dung quảng cáo thương mại.

Điều 190: Phương tiện quảng cáo thương mại

Phương tiện quảng cáo thương mại là các công cụ được sử dụng để giới thiệu các sản phẩm quảng cáo thương mại.

Phương tiện quảng cáo thương mại gồm:

1- Các phương tiện thông tin đại chúng;

2- Các phương tiện truyền tin;

3- Các loại ấn phẩm;

4- Các loại bảng, biển, băng, pa-nô, áp phích;

5- Các phương tiện quảng cáo thương mại khác.

Điều 191: Bảo hộ sản phẩm quảng cáo thương mại và hoạt động quảng cáo thương mại hợp pháp

1- Thương nhân có quyền đăng ký quyền sở hữu công nghiệp đối với sản phẩm quảng cáo thương mại do mình sáng tạo ra theo quy định của pháp luật và được Nhà nước bảo hộ.

2- Nhà nước bảo hộ và tạo điều kiện thuận lợi đối với các thương nhân hoạt động quảng cáo thương mại hợp pháp.

Điều 192: Các quảng cáo thương mại bị cấm

Các quảng cáo thương mại bị cấm gồm:

1- Quảng cáo hàng hoá, dịch vụ mà Nhà nước cấm kinh doanh hoặc cấm quảng cáo;

2- Quảng cáo sản phẩm, hàng hoá chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép kinh doanh trên thị trường Việt Nam tại thời điểm quảng cáo;

3- Lợi dụng quảng cáo thương mại gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, cá nhân và các thương nhân khác;

4- Quảng cáo có sử dụng hình ảnh, hành động, âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng trái với truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam và trái với quy định của pháp luật;

5- Quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của thương nhân khác hoặc bắt chước sản phẩm quảng cáo của một thương nhân khác, gây nhầm lẫn cho khách hàng;

6- Quảng cáo sai với sự thật của hàng hoá, dịch vụ về một trong các nội dung sau: quy cách, chất lượng, giá cả, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành.

Điều 193: Sử dụng phương tiện quảng cáo thương mại

1- Việc sử dụng các phương tiện quảng cáo thương mại quy định tại Điều 190 của Luật này phải tuân thủ các quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam.

2- Việc sử dụng các phương tiện quảng cáo thương mại phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

A) Tuân thủ quy hoạch về quảng cáo; không gây ảnh hưởng xấu đến cảnh quan, môi trường, trật tự an toàn giao thông, an toàn xã hội;

B) Đúng với mức độ, thời lượng, thời điểm quy định đối với từng loại phương tiện thông tin đại chúng.

Điều 194: Quảng cáo thương mại của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam

1- Thương nhân nước ngoài được phép hoạt động thương mại tại Việt Nam được quảng cáo về hoạt động sản xuất, hàng hoá, dịch vụ của mình tại Việt Nam phù hợp với các quy định của Luật này.

2- Thương nhân nước ngoài chưa được phép hoạt động thương mại tại Việt Nam muốn quảng cáo về hoạt động sản xuất, hàng hoá, dịch vụ của mình tại Việt Nam phải thuê tổ chức kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại Việt Nam thực hiện.

Điều 195: Hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại

1- Việc thuê dịch vụ quảng cáo thương mại phải được xác lập bằng hợp đồng;

2- Hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại phải được lập thành văn bản với những nội dung chủ yếu sau đây:

A) Tên, địa chỉ các bên ký kết hợp đồng;

B) Sản phẩm quảng cáo thương mại;

C) Phương thức, phương tiện quảng cáo thương mại;

D) Thời gian, phạm vi quảng cáo thương mại;

Đ) Phí dịch vụ, các chi phí khác có liên quan.

Điều 196: Quyền và nghĩa vụ của bên thuê quảng cáo thương mại

Bên thuê quảng cáo thương mại có những quyền và nghĩa vụ sau đây:

1- Lựa chọn hình thức, nội dung, phương tiện, phạm vi và thời hạn quảng cáo thương mại;

2- Cung cấp thông tin trung thực, chính xác về hoạt động sản xuất, hàng hoá, dịch vụ thương mại và chịu trách nhiệm về các thông tin này;

3- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại;

4- Trả phí dịch vụ quảng cáo theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Điều 197: Quyền và nghĩa vụ của bên làm dịch vụ quảng cáo thương mại

Bên làm dịch vụ quảng cáo thương mại có những quyền và nghĩa vụ sau đây:

1- Ký kết hợp đồng với bên thuê quảng cáo thương mại phù hợp với giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép sử dụng phương tiện quảng cáo;

2- Yêu cầu bên thuê quảng cáo thương mại cung cấp thông tin quảng cáo trung thực, chính xác và theo đúng thời hạn của hợp đồng;

3- Thực hiện dịch vụ quảng cáo thương mại theo thoả thuận trong hợp đồng;

4- Được nhập khẩu vật tư, nguyên liệu và các sản phẩm quảng cáo thương mại cần thiết cho hoạt động dịch vụ quảng cáo của mình theo quy định của pháp luật;

5- Nhận phí dịch vụ quảng cáo theo thoả thuận trong hợp đồng.

Mục 14: Trưng bày giới thiệu hàng hóa

Điều 198: Trưng bày giới thiệu hàng hoá

Trưng bày giới thiệu hàng hoá là hành vi thương mại của thương nhân dùng hàng hoá để giới thiệu, quảng cáo với khách hàng về sản phẩm, hàng hoá của mình nhằm xúc tiến thương mại.

Điều 199: Các hình thức trưng bày giới thiệu hàng hoá

1- Mở phòng trưng bày giới thiệu hàng hoá.

2- Tổ chức giới thiệu hàng hoá dưới các hình thức tại các trung tâm thương mại, hội chợ triển lãm thương mại hoặc trong các hoạt động giải trí, thể thao, văn hoá, nghệ thuật.

3- Tổ chức hội nghị, hội thảo có trưng bày giới thiệu hàng hoá.

Điều 200: Điều kiện đối với hàng hoá trưng bày giới thiệu

1- Hàng hoá trưng bày giới thiệu là những hàng mẫu đại diện cho hàng hoá của thương nhân, gồm hàng đã lưu thông, hàng mới sản xuất được phép lưu thông trên thị trường.

2- Hàng hoá trưng bày giới thiệu phải bảo đảm các tiêu chuẩn chất lượng, môi trường và không phương hại đến an ninh, trật tự an toàn xã hội và truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam.

3- Hàng hoá trưng bày giới thiệu phải có nhãn sản phẩm ghi rõ tên sản phẩm, tên cơ sở sản xuất, nơi sản xuất, số đăng ký chất lượng, các đặc tính và cách sử dụng của hàng hoá, thời gian sản xuất, thời hạn sử dụng, thời hạn bảo hành nếu có.

Điều 201: Điều kiện đối với hàng hoá sản xuất tại nước ngoài

Hàng hoá sản xuất tại nước ngoài đưa vào trưng bày giới thiệu tại Việt Nam, ngoài việc áp dụng quy định tại Điều 200 của Luật này còn phải có các điều kiện sau đây:

1- Là loại hàng được phép nhập khẩu vào Việt Nam;

2- Đối với hàng tạm nhập khẩu để trưng bày giới thiệu thì phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cho phép về mặt hàng, số lượng, mẫu mã, chủng loại và thời hạn. Khi kết thúc việc trưng bày giới thiệu, toàn bộ hàng hoá, phương tiện đã tạm nhập khẩu phải được tái xuất khẩu; nếu tiêu thụ tại Việt Nam thì phải được Bộ thương mại Việt Nam chấp thuận và phải chấp hành các quy định của pháp luật Việt Nam.

Điều 202: Quyền trưng bày giới thiệu hàng hoá và kinh doanh dịch vụ trưng bày giới thiệu hàng hoá

1- Thương nhân có quyền trưng bày giới thiệu hàng hoá, lựa chọn các hình thức trưng bày giới thiệu phù hợp; tự mình tổ chức hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ trưng bày giới thiệu hàng hoá để trưng bày giới thiệu hàng hoá của mình.

2- Các cơ sở hoạt động giải trí, thể thao, văn hoá, nghệ thuật có địa điểm, phương tiện thích hợp có thể được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép cho thuê địa điểm, phương tiện để trưng bày giới thiệu hàng hoá; nếu trực tiếp làm dịch vụ tổ chức trưng bày giới thiệu hàng hoá thì phải đăng ký kinh doanh như đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ trưng bày giới thiệu hàng hoá.

Điều 203: Quyền trưng bày giới thiệu hàng hoá của thương nhân nước ngoài

1- Thương nhân nước ngoài được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam được đưa hàng hoá theo quy định tại Điều 201 của Luật này vào Việt Nam để trưng bày giới thiệu tại các hội chợ, triển lãm thương mại tổ chức tại Việt Nam.

2- Thương nhân nước ngoài trưng bày giới thiệu hàng hoá tại Việt Nam có thể thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ trưng bày giới thiệu hàng hoá của Việt Nam thực hiện.

Điều 204: Các trường hợp cấm trưng bày giới thiệu hàng hoá

Cấm trưng bày giới thiệu hàng hoá trong những trường hợp sau đây:

1- Trưng bày giới thiệu hàng hoá chưa được phép lưu thông;

2- Tổ chức trưng bày giới thiệu hàng hoá hoặc sử dụng các phương tiện trưng bày giới thiệu hàng hoá làm phương hại đến an ninh, trật tự công cộng, cảnh quan, môi trường, sức khoẻ con người;

3- Trưng bày giới thiệu hàng hoá hoặc sử dụng hình thức, phương tiện trưng bày giới thiệu trái với truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam;

4- Trưng bày giới thiệu hàng hoá làm lộ bí mật quốc gia;

5- Trưng bày hàng hoá của người khác để so sánh với hàng hoá của mình;

6- Trưng bày giới thiệu mẫu hàng hoá không đúng với hàng hoá đang kinh doanh về quy cách, chất lượng, giá cả, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, thời hạn bảo hành và các tiêu chuẩn khác.

Điều 205: Hợp đồng dịch vụ trưng bày giới thiệu hàng hoá

1- Việc thuê dịch vụ trưng bày giới thiệu hàng hoá phải được xác lập bằng hợp đồng.

2- Hợp đồng dịch vụ trưng bày giới thiệu hàng hoá phải được lập thành văn bản với những nội dung chủ yếu sau đây:

A) Tên, địa chỉ bên thuê dịch vụ và bên làm dịch vụ trưng bày giới thiệu hàng hoá;

B) Hàng hoá trưng bày giới thiệu;

C) Nội dung, hình thức, địa điểm, thời gian trưng bày giới thiệu hàng hoá;

D) Phí dịch vụ, các chi phí khác.

Điều 206: Quyền và nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ trưng bày giới thiệu hàng hoá

Bên thuê dịch vụ trưng bày giới thiệu hàng hoá có những quyền và nghĩa vụ sau đây:

1- Yêu cầu bên làm dịch vụ trưng bày giới thiệu hàng hoá thực hiện thoả thuận trong hợp đồng;

2- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng trưng bày giới thiệu hàng hoá;

3- Cung cấp đầy đủ hàng hoá trưng bày giới thiệu hoặc phương tiện cho bên làm dịch vụ theo thoả thuận trong hợp đồng;

4- Cung cấp thông tin về hàng hoá trưng bày giới thiệu, phương tiện cần thiết khác theo thoả thuận trong hợp đồng;

5- Trả phí dịch vụ và các chi phí khác theo hợp đồng.

Điều 207: Quyền và nghĩa vụ của bên làm dịch vụ trưng bày giới thiệu hàng hoá

Bên làm dịch vụ trưng bày giới thiệu hàng hoá có những quyền và nghĩa vụ sau đây:

1- Yêu cầu bên thuê dịch vụ cung cấp hàng hoá trưng bày giới thiệu theo thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng;

2- Yêu cầu bên thuê dịch vụ cung cấp thông tin về hàng hoá trưng bày giới thiệu và các phương tiện cần thiết khác theo thoả thuận;

3- Nhận phí dịch vụ và các chi phí khác theo hợp đồng;

4- Thực hiện việc trưng bày giới thiệu hàng hoá theo thoả thuận trong hợp đồng;

5- Không được chuyển giao hoặc thuê người khác thực hiện dịch vụ nếu không có sự chấp thuận của bên thuê dịch vụ; trong trường hợp chuyển giao nghĩa vụ thực hiện hợp đồng cho người khác thì vẫn phải chịu trách nhiệm với bên thuê dịch vụ trưng bày giới thiệu hàng hoá;

6- Bảo quản hàng hoá trưng bày giới thiệu, các tài liệu, phương tiện được giao trong thời gian thực hiện hợp đồng; khi kết thúc việc trưng bày giới thiệu hàng hoá, phải giao lại đầy đủ hàng hoá, tài liệu, phương tiện trưng bày giới thiệu cho bên thuê dịch vụ, nếu gây thiệt hại cho bên thuê thì phải bồi thường.

Mục 15:Hội chợ, triển lãm thương mại

Điều 208: Hội chợ, triển lãm thương mại

1- Hội chợ thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại tập trung trong một thời gian và địa điểm nhất định, trong đó tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh được trưng bày hàng hoá của mình nhằm mục đích tiếp thị, ký kết hợp đồng mua bán hàng.

2- Triển lãm thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại thông qua việc trưng bày hàng hoá, tài liệu về hàng hoá để giới thiệu, quảng cáo nhằm mở rộng và thúc đẩy việc tiêu thụ hàng hoá.

3- Các hội chợ, triển lãm thương mại phải xác định rõ chủ đề, quy mô, thời gian, địa điểm tiến hành, danh mục hàng hoá, tài liệu về hàng hoá, tên, địa chỉ các tổ chức, cá nhân tham gia.

Điều 209: Tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam

Tất cả các hội chợ, triển lãm thương mại tổ chức tại Việt Nam, kể cả hội chợ, triển lãm thương mại do các thương nhân nước ngoài tổ chức, phải được Bộ thương mại Việt Nam cho phép.

Điều 210: Quyền tổ chức hoặc tham gia hội chợ, triển lãm thương mại

1- Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam được quyền tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở trong nước và nước ngoài để xúc tiến thương mại.

2- Tổ chức, cá nhân tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại ở trong nước và nước ngoài phải thành lập Ban tổ chức theo quy định được ghi trong giấy phép do Bộ thương mại cấp.

3- Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam có thể ký hợp đồng thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại thực hiện việc tổ chức tham gia hội chợ, triển lãm thương mại.

Điều 211: Tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài

Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam khi tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài phải được sự chấp thuận của Bộ thương mại Việt Nam, phải tuân thủ pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước sở tại.

Điều 212: Hàng cấm bán tại hội chợ, triển lãm thương mại

Hàng cấm bán tại hội chợ, triển lãm thương mại là những hàng chưa có đăng ký chất lượng, nhãn hiệu.

Điều 213: Đăng ký tham gia hội chợ, triển lãm thương mại

Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tham gia hội chợ, triển lãm thương mại phải đăng ký với Ban tổ chức của từng hội chợ, triển lãm thương mại.

Điều 214: Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam

Tổ chức, cá nhân tham gia hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam có những quyền và nghĩa vụ sau đây:

1- Trưng bày hàng hoá, tài liệu về hàng hoá của mình tại hội chợ, triển lãm thương mại theo danh mục đã đăng ký tham gia;

2- Giao dịch, ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá theo quy định của pháp luật;

3- Bán hàng tại hội chợ, triển lãm thương mại như đã đăng ký tham gia hội chợ, triển lãm thương mại; sau khi bán hàng tại hội chợ, triển lãm thương mại phải kê khai nộp thuế theo quy định của pháp luật;

4- Tuân thủ các quy định về tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam.

Điều 215: Quyền và nghĩa vụ của thương nhân nước ngoài tham gia hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam

Thương nhân nước ngoài tham gia hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam có những quyền và nghĩa vụ sau đây:

1- Được tạm nhập khẩu miễn thuế hàng hoá và tài liệu về hàng hoá để trưng bày tại hội chợ, triển lãm thương mại và phải tái xuất khẩu trong thời hạn không quá ba mươi ngày, kể từ ngày kết thúc hội chợ, triển lãm thương mại;

2- Phải tuân thủ các quy định về tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam;

3- Phải hoàn thành thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật Việt Nam đối với hàng hoá, tài liệu về hàng hoá tạm nhập khẩu để tham gia hội chợ, triển lãm thương mại;

4- Chỉ được bán hàng trưng bày tại hội chợ, triển lãm thương mại khi được phép của Bộ thương mại Việt Nam và phải nộp các loại thuế theo quy định của pháp luật Việt Nam;

5- Khi dùng hàng hoá sử dụng vào mục đích hội chợ, triển lãm làm quà tặng, phải được phép của Bộ thương mại Việt Nam và phải nộp thuế theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Điều 216: Quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài

Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài có những quyền và nghĩa vụ sau đây:

1- Được tạm xuất khẩu miễn thuế hàng hoá và tài liệu về hàng hoá để trưng bày tại hội chợ, triển lãm thương mại;

2- Phải tuân thủ các quy định về việc tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài;

3- Trong trường hợp bán hàng trưng bày tại hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài, phải kê khai và nộp thuế xuất khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam;

4- Khi dùng hàng hoá sử dụng vào mục đích hội chợ, triển lãm làm quà tặng phải được phép của Bộ thương mại Việt Nam và phải nộp thuế theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Điều 217: Kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại

1- Kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại là hoạt động thương mại của thương nhân để tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại.

2- Tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại.

3- Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại.

Điều 218: Quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại