Luat Doanh Nghiep Nha Nuoc Nuoc Cong Hoa Xa Hoi Chu Nghia Viet

Chapter 2

Chapter 24,829 wordsPublic domain

2- Trình thủ trưởng cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp phê duyệt đều lệ doanh nghiệp, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, kế hoạch 5 năm, trừ các doanh nghiệp quan trọng do Thủ tướng quyết định;

3- Trình thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước theo phân cấp của Chính phủ các phương án liên doanh, góp vốn, các dự án đầu tư của doanh nghiệp;

4- Trình Thủ tướng Chính phủ hoặc người được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật tổng giám đốc hoặc giám đốc doanh nghiệp;

5- Trình thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước được Chính phủ phân cấp quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật phó tổng giám đốc hoặc phó giám đốc, kế toán trưởng doanh nghiệp theo đề nghị của tổng giám đốc hoặc giám đốc;

6- Trình thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền để phê duyệt quyết toán tài chính hàng năm của doanh nghiệp;

7- Phê chuẩn phương án sử dụng, bảo toàn, phát triển vốn và phương án sử dụng lợi nhuận sau thuế do tổng giám đốc hoặc giám đốc đề nghị; thông qua quyết toán tài chính hàng năm của doanh nghiệp thành viên (nếu có); thực hiện việc công bố công khai các báo cáo tài chính theo quy định của Chính phủ;

8- Quyết định phương án huy động vốn để hoạt động kinh doanh nhưng không làm thay đổi hình thức sở hữu;

9- Phê chuẩn phương án tổ chức quản lý, tổ chức kinh doanh, biên chế bộ máy quản lý doanh nghiệp, quy hoạch đào tạo lao động và điều lệ của các đơn vị thành viên (nếu có); đề nghị thành lập, tách, nhập, giải thể các đơn vị thành viên (nếu có) theo quy định của pháp luật;

10- Quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật giám đốc các đơn vị thành viên (nếu có) theo đề nghị của tổng giám đốc;

11- Kiểm tra, giám sát tổng giám đốc hoặc giám đốc, các đơn vị thành viên (nếu có) trong việc sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn, thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước, mục tiêu Nhà nước giao cho doanh nghiệp và thực hiện các quyết định khác của Hội đồng quản trị.

Điều 31

1- Hội đồng quản trị gồm chủ tịch, tổng giám đốc hoặc giám đốc và một số thành viên khác. Tuỳ theo quy mô, loại hình doanh nghiệp, Chính phủ quy định số lượng thành viên Hội đồng quản trị.

Hội đồng quản trị có thành viên chuyên trách và thành viên kiêm nhiệm. Chủ tịch Hội đồng quản trị là thành viên chuyên trách.

Chủ tịch Hội đồng quản trị có trách nhiệm tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng quản trị quy định tại Điều 30 của Luật này.

2- Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị do người đề nghị thành lập doanh nghiệp trình Thủ tướng Chính phủ hoặc người được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật. Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị là 5 năm (năm năm). Thành viên Hội đồng quản trị có thể được bổ nhiệm lại. Chủ tịch Hội đồng quản trị không kiêm tổng giám đốc hoặc giám đốc.

3- Hội đồng quản trị sử dụng bộ máy và con dấu của doanh nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ của mình.

Điều 32

Thành viên Hội đồng quản trị phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:

1- Là công dân Việt Nam, thường trú tại Việt Nam ;

2- Có sức khoẻ, có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, liêm khiết, có ý thức chấp hành pháp luật;

3- Có trình độ, có năng lực kinh doanh và tổ chức quản lý doanh nghiệp;

4- Không đồng thời đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạp trong bộ máy Nhà nước;

5- Những người đã là thành viên Hội đồng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc doanh nghiệp đã bị tuyên bố phá sản thì phải tuân theo quy định tại Điều 50 Luật phá sản doanh nghiệp;

6- Chủ tịch Hội đồng quản trị, tổng giám đốc hoặc giám đốc không được thành lập hoặc giữ các chức danh quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và không được có các quan hệ hợp đồng kinh tế với các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần do vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con giữ các chức danh quản lý điều hành.

Vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của những người giữ các chức danh trên không được giữ chức danh kế toán trưởng, thủ quỹ tại cùng doanh nghiệp và doanh nghiệp thành viên (nếu có).

Điều 33

Chế độ làm việc của Hội đồng quản trị:

1- Hội đồng quản trị làm việc theo chế độ tập thể; họp thường kỳ hàng quỹ để xem xét và quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Hội đồng quản trị có thể họp bất thường để giải quyết những vấn đề cấp bách của doanh nghiệp do Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc tổng giám đốc hoặc giám đốc hoặc trên 50% (năm mươi phần trăm) tổng số thành viên Hội đồng quản trị đề nghị;

2- Chủ tịch hoặc thành viên Hội đồng quản trị được chủ tịch uỷ quyền triệu tập và chủ trì cuộc họp;

3- Các cuộc họp của Hội đồng quản trị được coi là hợp lệ khi có ít nhất 2/3 (hai phần ba) tổng số thành viên có mặt; nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị có hiệu lực khi có trên 50% (năm mười phần trăm) tổng số thành viên Hội đồng quản trị biểu quyết tán thành. Thành viên Hội đồng quản trị có quyền bảo lưu ý kiến của mình;

4- Nội dung, kết luận của các cuộc họp của Hội đồng quản trị phải được ghi thành biên bản; nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị có tính bắt buộc thi hành đối với doanh nghiệp.

5- Chi phí hoạt động của Hội đồng quản trị, kể cả tiền lương và phụ cấp, được tính vào quản lý phí của doanh nghiệp. Tổng giám đốc hoặc giám đốc bảo đảm các điều kiện và phương tiện cần thiết cho Hội đồng quản trị làm việc.

Điều 34

Các thành viên chuyên trách của Hội đồng quản trị được xếp lương cơ bản theo ngạch bậc viên chức nhà nước, hưởng lương theo chế độ phân phối tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước do Chính phủ quy định và tiền thưởng tương ứng với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các thành viên kiểm nhiệm của Hội đồng quản trị hưởng phụ cấp trách nhiệm theo quy định của Chính phủ và được tiền thưởng tương ứng với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Điều 35

Các thành viên Hội đồng quản trị phải cùng chịu trách nhiệm trước người ra quyết định bổ nhiệm và pháp luật về các quyết định của Hội đồng quản trị; trường hợp vi phạm điều lệ doanh nghiệp, quyết định vượt thẩm quyền, lạm dụng chức quyền, gây thiệt hai cho doanh nghiệp và Nhà nước thì phải chịu trách nhiệm và bồi thường vật chất đối với các thiệt hại do mình gây ra theo quy định của pháp luật.

Điều 36

1- Hội đồng quản trị thành lập Ban kiểm soát để giúp Hội đồng quản trị kiểm tra, giám sát hoạt động điều hành của tổng giám đốc hoặc giám đốc, bộ máy doanh nghiệp và các đơn vị thành viên (nếu có) trong hoạt động tài chính, chấp hành điều lệ doanh nghiệp, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, chấp hành pháp luật.

2- Ban kiểm soát thực hiện nhiệm vụ do Hội đồng quản trị giao, báo cáo và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị.

3- Chi phí hoạt động, kể cả tiền lương và điều kiện làm việc của Ban kiểm soát do doanh nghiệp bảo đảm.

II- Tổng giám đốc hoặc giám đốc và bộ máy giúp việc

Điều 37

Tổng giám đốc hoặc giám đốc do Thủ tướng Chính phủ hoặc người được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Hội đồng quản trị.

Tổng giám đốc hoặc giám đốc là đại diện pháp nhân của doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị, người ra quyết định bổ nhiệm và pháp luật về điều hành hoạt động của doanh nghiệp. Tổng giám đốc hoặc giám đốc có quyền điều hành cao nhất trong doanh nghiệp.

Phó tổng giám đốc hoặc phó giám đốc giúp tổng giám đốc hoặc giám đốc điều hành doanh nghiệp theo phân công và uỷ quyền của tổng giám đốc hoặc giám đốc, chịu trách nhiệm trước tổng giám đốc hoặc giám đốc về nhiệm vụ được tổng giám đốc hoặc giám đốc phân công và uỷ quyền.

Kế toán trưởng giúp tổng giám đốc hoặc giám đốc doanh nghiệp chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác kế toán, thống kê của doanh nghiệp và có các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật.

Văn phòng và các bạn (hoặc phòng) chuyên môn, nghiệp vụ có chức năng tham mưu, giúp việc Hội đồng quản trị, tổng giám đốc hoặc giám đốc trong quản lý, điều hành công việc.

Điều 38

Tổng giám đốc hoặc giám đốc doanh nghiệp có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Cùng Chủ tịch Hội đồng quản trị ký nhận vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác để quản lý, sử dụng theo mục tiêu, nhiệm vụ Nhà nước giao cho doanh nghiệp; giao các nguồn lực đã nhận của Nhà nước cho các đơn vị thành viên (nếu có);

2- Sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn theo phương án đã được Hội đồng quản trị phê duyệt;

3- Xây dựng chiến lược phát triển, kế hoạch dài hạn và hàng năm của doanh nghiệp, dự án đầu tư, phương án liên doanh, đề án tổ chức quản lý của doanh nghiệp, quy hoạch đào tạo lao động, phương án phối hợp kinh doanh của các đơn vị thành viên (nếu có) trình Hội đồng quản trị;

4- Xây dựng để trình Hội đồng quản trị phê duyệt các định mức kinh tế kỹ thuật, tiêu chuẩn sản phẩm, đơn giá tiền lương phù hợp với các quy định của Nhà nước;

5- Đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật phó tổng giám đốc hoặc phó giám đốc, kế toán trưởng doanh nghiệp và giám đốc các đơn vị thành viên (nếu có);

6- Quyết định giá mua, giá bán sản phẩm và dịch vụ phù hợp với những quy định của Nhà nước;

7- Kiểm tra các đơn vị thành viên (nếu có) thực hiện các định mức, tiêu chuẩn, đơn giá quy định trong nội bộ doanh nghiệp;

8- Quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật phó giám đốc, kế toán trưởng các đơn vị thành viên (nếu có) theo đề nghị của giám đốc đơn vị thành viên và các trưởng ban, phó trưởng ban hoặc trưởng phòng, phó trưởng phòng chuyên môn, nghiệp vụ và các chức vụ tương đương của doanh nghiệp;

9- Tổ chức điều hành hoạt động của doanh nghiệp nhằm thực hiện các nghị định và quyết định của Hội đồng quản trị;

10- Báo cáo trước Hội đồng quản trị và cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền về kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;

11- Chịu sự kiểm tra, giám sát của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Luật này. Trong trường hợp ý kiến của tổng giám đốc hoặc giám đốc khác với nghị quyết và quyết định của Hội đồng quản trị, tổng giám đốc hoặc giám đốc có quyền bảo lưu ý kiến và kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xử lý; trong thời gian chưa có quyền định xử lý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền vẫn phải chấp hành nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị;

12- Được áp dụng các biện pháp cần thiết trong trường hợp khẩn cấp và phải báo cáo ngay với Hội đồng quản trị và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Mục II:Doanh nghiệp nhà nước không có hội đồng quản trị

Điều 39

1- Giám đốc do người quyết định thành lập doanh nghiệp bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật. Giám đốc là đại diện pháp nhân của doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trước người bổ nhiệm và pháp luật về điều hành hoạt động của doanh nghiệp. Giám đốc có quyền điều hành cao nhất trong doanh nghiệp.

2- Giám đốc phải có tiêu chuẩn và điều kiện như quy định tại Điều 32 của Luật này.

3- Giám đốc được xếp lương cơ bản theo ngạch bậc viên chức nhà nước và hưởng lương, thưởng theo chế độ phân phối tiền lương, tiền thưởng trong doanh nghiệp nhà nước do Chính phủ quy định gắn với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

4- Phó giám đốc giúp giám đốc điều hành doanh nghiệp theo phân công và uỷ quyền của giám đốc, chịu trách nhiệm trước giám đốc về nhiệm vụ được giám đốc phân công và uỷ quyền.

5- Kế toán trưởng giúp giám đốc doanh nghiệp chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác kế toán, thống kê của doanh nghiệp và có các nhiệm vụ quyền hạn theo quy định của pháp luật.

6- Văn phòng và các phòng chuyên môn, nghiệp vụ có chức năng tham mưu, giúp việc cho giám đốc trong quản lý, điều hành công việc.

Điều 40

Giám đốc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Khoản 6 và 8 Điều 38 của Luật này và các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

1- Nhận vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác do Nhà nước giao để quản lý, sử dụng theo mục tiêu nhiệm vụ Nhà nước giao cho doanh nghiệp; sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn;

2- Xây dựng chiến lược phát triển, kế hoạch dài hạn và hàng năm của doanh nghiệp, phương án đầu tư, liên doanh, đề án tổ chức quản lý của doanh nghiệp trình cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền;

3- Tổ chức điều hành hoạt động của doanh nghiệp;

4- Ban hành các định mức kinh tế - kỹ thuật, tiêu chuẩn sản phẩm, đơn giá tiền lương phù hợp với quy định của Nhà nước;

5- Trình người quyết định thành lập doanh nghiệp bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật phó giám đốc, kế toán trưởng;

6- Báo cáo cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về kết quả hoạt động, kinh doanh của doanh nghiệp;

7- Chịu sự kiểm tra, giám sát của tổ chức giám sát do Chính phủ quy định và của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Luật này.

Mục III:Tập thể người lao động trong doanh nghiệp nhà nước

Điều 41

Đại hội công nhân viên chức là hình thức trực tiếp để người lao động doanh nghiệp nhà nước tham gia quản lý doanh nghiệp nhà nước. Đại hội công nhân viên chức thực hiện các quyền sau đây:

1- Tham gia thảo luận xây dựng thoả ước lao động tập thể để người đại diện tập thể lao động thương lượng và ký kết với tổng giám đốc hoặc giám đốc doanh nghiệp;

2- Thảo luận và thông qua quy chế sử dụng các quỹ có liên quan trực tiếp đến lợi ích của người lao động trong doanh nghiệp;

3- Thảo luận và góp ý kiến về quy hoạch, kế hoạch, đánh giá hiệu quả quản lý sản xuất kinh doanh, đề xuất các biện pháp bảo hộ lao động, cải thiện điều kiện làm việc, đời sống vật chất và tinh thần, vệ sinh môi trường, đào tạo và đào tạo lại người lao động của doanh nghiệp;

4- Giới thiệu người tham gia Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát.

Điều 42

Tổng liên đoàn lao động Việt Nam hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của Đại hội công nhân viên chức trong doanh nghiệp nhà nước.

Chương VI:Tổng công ty nhà nước

Điều 43

1- Tổng công ty nhà nước được thành lập và hoạt động trên cơ sở liên kết của nhiều đơn vị thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, cung ứng, tiêu thụ, dịch vụ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị, hoạt động trong một hoặc một số chuyên ngành kinh tế - kỹ thuật chính, nhằm tăng cường khả năng kinh doanh của các đơn vị thành viên và thực hiện các nhiệm vụ của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.

2- Tổng công ty nhà nước là tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản và có các quỹ tập trung theo quy định của Chính phủ, được Nhà nước giao quản lý vốn, tài nguyên, đất đai và các nguồn lực khác, có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực được giao, thực hiện quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp nhà nước như quy định tại Chương II của Luật này.

3- Tuỳ theo quy mô và vị trí quan trọng, tổng công ty nhà nước có hoặc không có công ty tài chính là doanh nghiệp thành viên.

Điều 44

1- Tổng công ty nhà nước có thể có các loại đơn vị thành viên sau đây:

a) Đơn vị hạch toán độc lập;

b) Đơn vị hạch toán phụ thuộc;

c) Đơn vị sự nghiệp.

2- Đơn vị thành viên của tổng công ty nhà nước có con dấu, được mở tài khoản tại ngân hàng phù hợp với phương thức hạch toán của tổng công ty nhà nước. Đơn vị thành viên hạch toán độc lập có điều lệ riêng do Hội đồng quản trị tổng công ty phê chuẩn phù hợp với các quy định của Luật này và điều lệ tổng công ty nhà nước.

3- Chế độ tài chính và hạch toán của tổng công ty nhà nước do Chính phủ quy định.

Điều 45

Các đơn vị thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty nhà nước có quyền và nghĩa vụ quy định tại Chương II của Luật này, trừ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 7, Khoản 1 Điều 10 và chịu sự ràng buộc về quyền lợi và nghĩa vụ với tổng công ty nhà nước như sau:

1- Nhận, bảo toàn và phát triển vốn, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực do tổng công ty giao; thực hiện quyết định của tổng công ty về điều chỉnh vốn và các nguồn lực phù hợp với nhiệm vụ của doanh nghiệp trong tổng công ty;

2- Được chủ động kinh doanh trên cơ sở phương án phối hợp kế hoạch kinh doanh chung của tổng công ty;

3- Trích nộp để hình thành các quỹ tập trung của tổng công ty theo quy định của điều lệ tổng công ty;

4- Được tổng công ty uỷ quyền ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế với khách hàng trong và ngoài nước theo quyết định của tổng công ty;

5- Được tổng công ty giao tổ chức thực hiện các dự án đầu tư phát triển theo kế hoạch của tổng công ty trên cơ sở sử dụng các nguồn lực do tổng công ty giao;

6- Có quyền đề nghị tổng công ty xem xét quyết định hoặc được tổng công ty uỷ quyền quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể, sáp nhập các đơn vị trực thuộc và quyết định bộ máy quản lý của các đơn vị trực thuộc.

Điều 46

Đơn vị hạch toán phụ thuộc tổng công ty nhà nước được ký kết hợp đồng kinh tế theo phân cấp của tổng công ty, được chủ động thực hiện các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính, tổ chức và nhân sự theo sự phân cấp hoặc uỷ quyền của tổng công ty.

Điều 47

Đơn vị sự nghiệp thực hiện chế độ lấy thu bù chi, được tạo nguồn thu từ thực hiện dịch vụ, hợp đồng nghiên cứu khoa học và đào tạo với các đơn vị trong và ngoài tổng công ty nhà nước.

Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp thực hiện theo quy chế do Hội đồng quản trị tổng công ty phê chuẩn.

Điều 48

Căn cứ các quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp nhà nước tại Chương III của Luật này, Chính phủ quy định việc thành lập, tổ chức lại, giải thể tổng công ty và các doanh nghiệp thành viên của tổng công ty.

Chương VIII:Quản lý phần vốn của nhà nước ở các doanh nghiệp

Mục I:Quản lý phần vốn góp của nhà nước ở các doanh nghiệp khác

Điều 49

Hội đồng quản trị hoặc giám đốc (đối với doanh nghiệp không có Hội đồng quản trị) nhận vốn của Nhà nước để góp vào các doanh nghiệp khác có quyền và nghĩa vụ sau đây:

1- Xây dựng phương án góp vốn trình thủ trưởng cơ quan nhà nước theo phân cấp của Chính phủ;

2- Cử, bãi miễn, khen thưởng, kỷ luật người trực tiếp quản lý phần vốn góp của Nhà nước ở các doanh nghiệp;

3- Giám sát, kiểm tra việc sử dụng vốn góp của Nhà nước, chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn của Nhà nước; thu lợi nhuận từ phần vốn góp của Nhà nước ở các doanh nghiệp.

Điều 50

Quyền và nghĩa vụ của người trực tiếp quản lý phần vốn góp của Nhà nước ở các doanh nghiệp:

1- Tham gia vào Bộ máy quản lý, điều hành ở doanh nghiệp theo điều lệ doanh nghiệp;

2- Theo dõi và giám sát tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước;

3- Thực hiện chế độ báo cáo và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc (đối với doanh nghiệp không có Hội đồng quản trị) về phần vốn góp của Nhà nước ở các doanh nghiệp.

Mục II:Quản lý cổ phần chi phối và cổ phần đặc biệt của nhà nước

Điều 51

Chính phủ thực hiện quyền sở hữu cổ phần chi phối và cổ phần đặc biệt của Nhà nước trong một số doanh nghiệp quan trọng nhằm hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện định hướng của Nhà nước. Chính phủ quyết định cụ thể các doanh nghiệp mà Nhà nước cần nắm giữ cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt.

Điều 52

1- Doanh nghiệp có cổ phần chi phối và doanh nghiệp có cổ phần đặc biệt của Nhà nước được thành lập, tổ chức và đăng ký theo pháp luật hiện hành.

2- Việc giải quyết các vấn đề quan trọng sau đây phải được sự nhất trí của người đại diện chủ sở hữu cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt của Nhà nước theo thoả thuận trong điều lệ doanh nghiệp:

a) Quyết định chiến lược, kế hoạch 5 năm và hàng năm của doanh nghiệp;

b) Đầu tư liên doanh, chuyển đổi hình thức tổ chức của doanh nghiệp;

c) Bổ nhiệm các chức danh quản lý chủ chốt của doanh nghiệp.

Điều 53

Người đại diện chủ sở hữu cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt của Nhà nước có quyền và nghĩa vụ sau đây:

1- Cử, bãi miễn, khen thưởng, kỷ luật người trực tiếp quản lý cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt của Nhà nước ở doanh nghiệp;

2- Giao nhiệm vụ hàng năm và phê duyệt phương hướng, mục tiêu, biện pháp sử dụng quyền của cổ phần chi phối và quyền của cổ phần đặc biệt của Nhà nước cho người trực tiếp quản lý cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt ở doanh nghiệp;

3- Theo dõi, giám sát việc sử dụng cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt của Nhà nước; yêu cầu người trực tiếp quản lý cổ phần ở doanh nghiệp báo cáo về việc sử dụng cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt của Nhà nước, chịu trách nhiệm về việc sử dụng cổ phần của Nhà nước để định hướng doanh nghiệp phục vụ mục tiêu của Nhà nước.

Điều 54

Người trực tiếp quản lý cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt của Nhà nước ở doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 50 của Luật này và các quy định sau đây:

1- Xây dựng phương hướng, biện pháp trình người đại diện chủ sở hữu cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt của Nhà nước về việc sử dụng cổ phần của Nhà nước để định hướng doanh nghiệp phục vụ mục tiêu của Nhà nước;

2- Tham gia quyết định các biện pháp quản lý, điều hành của doanh nghiệp theo hướng sử dụng cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt đã được người đại diện chủ sở hữu cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt của Nhà nước phê duyệt;

3- Thực hiện chế độ báo cáo và chịu trách nhiệm trước người đại diện chủ sở hữu cổ phần chi phối và cổ phần đặc biệt của Nhà nước.

Chương VIII:Xử lý vi phạm

Điều 55

1- Doanh nghiệp Nhà nước có hành vi vi phạm dưới đây thì tuỳ theo mức độ vi phạm mà bị đình chỉ hoạt động, áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật:

a) Không đăng ký kinh doanh, kinh doanh không đúng ngành, nghề đã đăng ký hoặc không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép;

b) Không thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu do Nhà nước quy định;

c) Vi phạm nghiêm trọng các quy định khác của Luật này.

2. Tổ chức kinh tế hoạt động dưới danh nghĩa doanh nghiệp Nhà nước mà không có quyết định thành lập thì bị đình chỉ hoạt động và bị tịch thu tài sản nộp vào ngân sách Nhà nước.

Điều 56

Tổ chức, cá nhân nào có hành vi vi phạm dưới đây thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính, bồi thường thiệt hại hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật:

1- Thành lập doanh nghiệp Nhà nước không theo quy định của Luật này;

2- Không thực hiện đúng trách nhiệm, quyền hạn được chủ sở hữu doanh nghiệp Nhà nước uỷ quyền;

3- Quyết định sai gây thiệt hại tài sản của doanh nghiệp;

4- Can thiệp vào công việc thuộc thẩm quyền của doanh nghiệp; sách nhiễu doanh nghiệp, yêu cầu doanh nghiệp cung cấp các nguồn lực không được pháp luật quy định;

5- Vi phạm các quy định khác của Luật này.

Chương IX:Điều khoản thi hành

Điều 57

Luật này có hiệu lực từ ngày công bố.

Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ.

Doanh nghiệp nhà nước được thành lập và đăng ký kinh doanh theo quy định hiện hành của Chính phủ cho đến ngày Luật này có hiệu lực không phải thực hiện thủ tục thành lập, đăng ký kinh doanh lại theo quy định của Luật này.

Điều 58

Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật này. ---- Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá IX, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 20 tháng 04 năm 1995.

Thể loại:Luật pháp Việt Nam