Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992

Part 2

Chapter 2919 wordsPublic domain (Wikisource)

Biên bản ghi thành bốn bản có chữ ký của Chủ tịch, Thư ký Uỷ ban bầu cử: một bản gửi lên Hội đồng bầu cử; một bản gửi cho Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tương đương; hai bản gửi cho Thường trực Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cùng cấp chậm nhất là bảy ngày sau ngày bầu cử.

Điều 58

Sau khi nhận và kiểm tra biên bản của tất cả các ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử và giải quyết các khiếu nại nếu có, Hội đồng bầu cử lập biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước.

Biên bản tổng kết phải ghi rõ: Tổng số đại biểu Quốc hội được bầu; Tổng số người ứng cử; Tổng số cử tri; Tổng số cử tri đã đi bầu, tỷ lệ so với tổng số cử tri; Số phiếu hợp lệ; Số phiếu không hợp lệ; Danh sách những người trúng cử và số phiếu bầu cho mỗi người; Những việc quan trọng đã xảy ra và cách giải quyết.

Biên bản làm thành bốn bản có chữ ký của Chủ tịch, Tổng thư ký Hội đồng bầu cử: một bản gửi Uỷ ban thường vụ Quốc hội; một bản gửi Chính phủ; một bản trình Quốc hội và một bản lưu trữ.

Chương VIII:Việc bầu cử bổ sung đại biểu quốc hội

Điều 59

Trong nhiệm kỳ, nếu đơn vị bầu cử nào khuyết đại biểu Quốc hội, thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thể quyết định việc bầu cử bổ sung đại biểu cho đơn vị đó. Uỷ ban thường vụ Quốc hội lập Uỷ ban bầu cử bổ sung từ ba đến năm người, gồm đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số đoàn thể nhân dân, do Phó Chủ tịch Quốc hội làm Chủ tịch.

Điều 60

Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định ngày bầu cử bổ sung và công bố chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày bầu cử; nếu thời gian còn lại của nhiệm kỳ Quốc hội dưới hai năm, thì không tổ chức bầu cử bổ sung.

Điều 61

Danh sách cử tri do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn lập phải được công bố chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày bầu cử bổ sung.

Điều 62

Chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày bầu cử bổ sung, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp thành lập ở đơn vị bầu cử Ban bầu cử bổ sung từ ba đến năm người, trong đó có đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số đoàn thể nhân dân ở địa phương.

Ban bầu cử bổ sung bầu ra Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và một Thư ký.

Điều 63

Chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày bầu cử bổ sung, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu Tổ bầu cử bổ sung từ năm đến bảy người, trong đó có đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số đoàn thể nhân dân ở cơ sở.

Tổ bầu cử bổ sung bầu ra Tổ trưởng, một Phó Tổ trưởng và một Thư ký.

Điều 64

Quyền hạn và nhiệm vụ của Uỷ ban bầu cử bổ sung, Ban bầu cử bổ sung, Tổ bầu cử bổ sung và thể thức bỏ phiếu bầu cử bổ sung cũng theo những quy định về Hội đồng bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử và về trình tự bầu cử, xác định kết quả bầu cử quy định tại Luật này.

Điều 65

Danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị khuyết đại biểu được công bố chậm nhất là mười ngày trước ngày bầu cử.

Điều 66

Khiếu nại về công tác của Tổ bầu cử bổ sung do Ban bầu cử bổ sung giải quyết. Khiếu nại về công tác của Ban bầu cử bổ sung do Uỷ ban bầu cử bổ sung giải quyết.

Chương IX:Xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về bầu cử

Điều 67

Người dùng các thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại việc bầu cử, ứng cử đại biểu Quốc hội của công dân, người có trách nhiệm trong công tác bầu cử phạm tội giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu hoặc dùng mọi thủ đoạn khác để làm sai lạc kết quả bầu cử, thì tuỳ mức độ mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 68

Mọi người có quyền tố cáo những việc làm trái pháp luật trong lúc bầu cử đại biểu Quốc hội; người cản trở hoặc trả thù người tố cáo, thì tuỳ mức độ mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Chương X:Điều khoản thi hành

Điều 69

Luật này thay thế Luật bầu cử đại biểu Quốc hội ngày 18 tháng 12 năm 1980.

Điều 70

Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật này. ---- Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 15 tháng 4 năm 1992.

Thể loại:Luật pháp Việt Nam