Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1989
Part 2
Biên bản làm thành sáu bản, có chữ ký của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và Thư ký Hội đồng bầu cử; một bản gửi Thường trực Hội đồng nhân dân, một bản gửi Uỷ ban nhân dân, một bản gửi Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp bầu Hội đồng nhân dân; một bản gửi Thường trực Hội đồng nhân dân, một bản gửi Uỷ ban nhân dân, một bản gửi Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực tiếp; nếu là cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương thì một bản gửi Thường trực Hội đồng nhân dân, Một bản gửi Uỷ ban nhân dân, một bản gửi Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, Một bản gửi Hội đồng Nhà nước, một bản gửi Hội đồng bộ trưởng, một bản gửi Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đối với cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn, thì biên bản làm thành năm bản.
Điều 55
Hội đồng Nhà nước quyết định huỷ bỏ cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị nào có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Hội đồng Nhà nước ấn định ngày bầu cử lại ở đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ấy.
Điều 56
Trong thời gian từ ngày công bố kết quả bầu cử đến kỳ họp đầu tiên của Hội đồng nhân dân khoá mới, nếu khuyết đại biểu, thì Hội đồng bầu cử cùng cấp với Hội đồng nhân dân lấy người có số phiếu cao nhất trong số những người được quá nửa số phiếu hợp lệ nhưng không trúng cử ở đơn vị bầu cử đại biểu bị khuyết, để bổ sung.
Chương VIII: Việc bầu cử bổ sung đại biểu hội đồng nhân dân các cấp
Điều 57
Trong nhiệm kỳ, trường hợp khuyết đại biểu Hội đồng nhân dân thì có thể được tổ chức bầu bổ sung theo Luật định.
Việc bầu bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân tiến hành theo thể thức bầu cử được quy định trong Luật này.
Ngày bầu cử bổ sung phải được công bố chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày bầu cử.
Điều 58
Chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào thì Uỷ ban nhân dân và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp ấy có trách nhiệm thành lập Hội đồng bầu cử bổ sung từ ba đến năm người để phụ trách việc bầu cử bổ sung ở địa phương, và chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày bầu cử, thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử bổ sung một ban bầu cử từ ba đến năm người gồm đại diện các tổ chức xã hội.
Hội đồng bầu cử bổ sung bầu Chủ tịch và Thư ký.
Ban bầu cử bổ sung bầu Trưởng ban và Thư ký.
Điều 59
Chậm nhất là mười ngày trước ngày bầu cử bổ sung, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc có trách nhiệm thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử bổ sung từ năm đến bảy người gồm đại diện các tổ chức xã hội ở cơ sở.
Tổ bầu cử bổ sung bầu Tổ trưởng, Tổ Phó và Thư ký.
Điều 60
Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng bầu cử bổ sung, Ban bầu cử bổ sung, Tổ bầu cử bổ sung, theo những quy định đối với Hội đồng bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử quy định tại luật này.
Điều 61
Danh sách cử tri do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn lập và công bố chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày bầu cử bổ sung.
Điều 62
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc ở địa phương phải tổ chức Hội nghị hiệp thương để lập danh sách những người ứng cử chậm nhất là mười ngày trước ngày bầu cử bổ sung. Hội đồng bầu cử bổ sung phải công bố danh sách đó chậm nhất là bảy ngày trước ngày bầu cử bổ sung.
Chương IX: Việc bãi miễn đại biểu hội đồng nhân dân các cấp
Điều 63
Tuỳ theo mức độ phạm sai lầm, đại biểu Hội đồng nhân dân có thể bị Hội đồng nhân dân bãi miễn hoặc đưa ra để cử tri ở đơn vị bầu ra đại biểu ấy bãi miễn, theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân hoặc của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp.
Điều 64
Việc bãi miễn một đại biểu Hội đồng nhân dân hoặc việc đưa một đại biểu Hội đồng nhân dân ra để cử tri bãi miễn, phải được ít nhất là hai phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành.
Hội đồng nhân dân bãi miễn đại biểu thì phải thông báo rộng rãi cho nhân dân biết.
Điều 65
Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp ấn định ngày cử tri bỏ phiếu bãi miễn. Nếu bãi miễn đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương thì Hội đồng bộ trưởng ấn định ngày bỏ phiếu bãi miễn.
Ngày cử tri bỏ phiếu bãi miễn phải được công bố chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày bỏ phiếu. Thể thức tổ chức để cử tri bỏ phiếu bãi miễn do Hội đồng bộ trưởng quy định.
Điều 66
Phải có quá nửa tổng số cử tri trong đơn vị bầu cử bỏ phiếu bãi miễn thì việc bãi miễn đại biểu Hội đồng nhân dân mới có giá trị.
Chương X: Việc xử lý những vi phạm luật bầu cử
Điều 67
Người nào có hành vi sau đây thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý kỷ Luật, xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự:
A) Lừa gạt, mua chuộc hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở việc thực hiện quyền bầu cử của công dân;
B) Có trách nhiệm trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử hoặc bãi miễn mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử hoặc bãi miễn đại biểu Hội đồng nhân dân.
Chương XI: Điều khoản cuối cùng
Điều 68
Luật này thay thế Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ngày 26 tháng 12 năm 1983.
Những quy định trước đây trái với Luật này đều bị bãi bỏ.
Điều 69
Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Luật này. ---- Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1989.
Thể loại:Luật pháp Việt Nam