Luat Bau Cu Ai Bieu Hoi Ong Nhan Dan Nuoc Cong Hoa Xa Hoi Chu N

Chapter 2

Chapter 21,793 wordsPublic domain

Biên bản phải ghi rõ: Số đại biểu Hội đồng nhân dân được ấn định cho đơn vị bầu cử; Số người ứng cử; Tổng số cử tri trong đơn vị bầu cử; Số cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỉ lệ so với tổng số cử tri; Số phiếu phát ra; Số phiếu thu vào; Số phiếu hợp lệ; Số phiếu không hợp lệ; Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử; Danh sách những người trúng cử; Những khiếu nại do Tổ bầu cử đã giải quyết; những khiếu nại do Ban bầu cử giải quyết; những khiếu nại báo cáo lên Hội đồng bầu cử giải quyết.

Biên bản làm thành bốn bản, có chữ ký của Trưởng ban, Phó Trưởng ban và Thư ký ban bầu cử để gửi đến Hội đồng bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp. Đối với cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn thì biên bản được gửi đến Hội đồng bầu cử, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.

Điều 52

Những người ứng cử được quá nửa số phiếu hợp lệ và được nhiều phiếu hơn thì trúng cử. Trong trường hợp có nhiều người được số phiếu bằng nhau và đạt quá nửa số phiếu hợp lệ thì Hội đồng bầu cử xét, quyết định người trúng cử theo đề nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và của Ban bầu cử ở đơn vị bầu cử đó.

Mục 3:Việc bầu cử thêm và bầu cử lại

Điều 53

Trong cuộc bầu cử đầu tiên, nếu số người trúng cử chưa đủ hai phần ba số đại biểu đã quy định cho đơn vị bầu cử thì Ban bầu cử phải ghi rõ vào biên bản xác định kết quả bầu cử và báo cáo ngay cho Hội đồng bầu cử quyết định ngày bầu cử thêm số đại biểu còn thiếu. Việc bầu cử thêm phải được tiến hành chậm nhất là mười lăm ngày sau ngày bầu cử đầu tiên.

Trong cuộc bầu cử thêm, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người đã ứng cử lần đầu nhưng không trúng cử. Nếu bầu cử thêm mà vẫn chưa đủ số đại biểu thì không tổ chức bầu cử thêm lần thứ hai.

Điều 54

Ở đơn vị bầu cử nào, nếu số cử tri đi bầu chưa được quá nửa số cử tri ghi trong danh sách thì Ban bầu cử phải ghi rõ vào biên bản và báo cáo ngay cho Hội đồng bầu cử. Hội đồng bầu cử quyết định ngày bầu cử lại, chậm nhất là mười lăm ngày sau ngày bầu cử đầu tiên.

Trong cuộc bầu cử lại, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người đã ứng cử lần đầu. Nếu bầu cử lại mà số cử tri đi bầu vẫn chưa được quá nửa số cử tri ghi trong danh sách thì không tổ chức bầu cử lại lần thứ hai.

Điều 55

Uỷ ban thường vụ Quốc hội huỷ bỏ cuộc bầu cử ở đơn vị bầu cử có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng theo đề nghị của Chính phủ và quyết định ngày bầu cử lại ở đơn vị bầu cử đó.

Điều 56

Việc bầu cử thêm hoặc bầu cử lại căn cứ vào danh sách cử tri đã lập trong cuộc bầu cử đầu tiên và theo quy định của Luật này.

Mục 4:Tổng kết bầu cử

Điều 57

Sau khi nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử và giải quyết những khiếu nại, Hội đồng bầu cử làm biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị hành chính của mình.

Biên bản tổng kết phải ghi rõ: Tổng số đại biểu ấn định cho Hội đồng nhân dân cấp đó; Tổng số người ứng cử; Số lượng đơn vị bầu cử, khu vực bỏ phiếu; Tổng số cử tri; Số cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ so với tổng số cử tri; Số phiếu phát ra; Số phiếu thu vào; Số phiếu hợp lệ; Số phiếu không hợp lệ; Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử; Danh sách những người trúng cử; Những việc quan trọng đã xảy ra và cách giải quyết.

Biên bản làm thành sáu bản, có chữ ký của Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Thư ký Hội đồng bầu cử để gửi Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và cấp trên trực tiếp. Biên bản bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được gửi đến Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Điều 58

Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử, chậm nhất: Năm ngày sau ngày bầu cử đối với cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn; Bảy ngày sau ngày bầu cử đối với cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện miền xuôi, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Mười ngày sau ngày bầu cử đối với cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện miền núi và hải đảo, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; mười lăm ngày đối với các tỉnh miền núi.

Chương VIII:Việc bầu cử bổ sung đại biểu hội đồng nhân dân

Điều 59

Trong nhiệm kỳ, nếu đơn vị bầu cử nào khuyết đại biểu Hội đồng nhân dân thì có thể tổ chức bầu cử bổ sung theo thể thức bầu cử được quy định tại Luật này.

Điều 60

Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định việc bầu cử bổ sung và công bố ngày bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định việc bầu cử bổ sung và công bố ngày bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn.

Ngày bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân phải được công bố chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày bầu cử.

Điều 61

Chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào thì Uỷ ban nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp ấy thành lập Hội đồng bầu cử bổ sung từ ba đến năm người và chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày bầu cử bổ sung, thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử bổ sung một Ban bầu cử bổ sung từ ba đến năm người gồm đại diện các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội.

Hội đồng bầu cử bổ sung và Ban bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn do Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thành lập. Số lượng thành viên, thành phần, thời gian thành lập Hội đồng bầu cử bổ sung và Ban bầu cử bổ sung theo quy định tại Điều này.

Hội đồng bầu cử bổ sung bầu Chủ tịch và Thư ký.

Ban bầu cử bổ sung bầu Trưởng ban và Thư ký.

Điều 62

Chậm nhất là mười ngày trước ngày bầu cử bổ sung, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử bổ sung từ năm đến bảy người gồm đại diện các tổ chức xã hội và tập thể cử tri.

Tổ bầu cử bổ sung bầu Tổ trưởng, Tổ phó và Thư ký.

Điều 63

Các tổ chức phụ trách bầu cử bổ sung thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức phụ trách bầu cử quy định tại Luật này.

Điều 64

Danh sách cử tri do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn lập và niêm yết chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày bầu cử bổ sung.

Điều 65

Chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào thì Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp ấy tổ chức hội nghị hiệp thương để lựa chọn, giới thiệu, lập danh sách người ứng cử.

Danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị khuyết đại biểu do Hội đồng bầu cử bổ sung công bố chậm nhất là mười ngày trước ngày bầu cử.

Điều 66

Những khiếu nại, tố cáo về công tác bầu cử bổ sung được giải quyết theo quy định của Luật này.

Chương IX:Xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về bầu cử

Điều 67

Người dùng các thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại việc bầu cử, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân của công dân; người có trách nhiệm trong công tác bầu cử mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu bầu hoặc dùng thủ đoạn khác làm sai lệch kết quả bầu cử, thì tuỳ mức độ mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 68

Mọi người có quyền tố cáo những việc làm trái pháp luật trong bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Người cản trở hoặc trả thù người tố cáo thì tuỳ mức độ mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Chương X:Điều khoản thi hành

Điều 69

Luật này thay thế Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ngày 30 tháng 6 năm 1989.

Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ.

Điều 70

Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật này. ---- Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ năm thông qua ngày 21 tháng 6 năm 1994.

Thể loại:Luật pháp Việt Nam