Khái luận về văn học chữ Hán ở nước ta
Part 2
Cuốn 23, truyện Lê Văn Duyệt, tờ 31, chỗ nói chuyện ông Duyệt để năm chục quan tiền giữa nhà, thình lình mất đi, đi tìm thì thấy “có người lót tiền mà ngồi trên nóc nhà” v.v… mà biên rằng 有 屋 上 者 載 錢 踞 坐 hữu ốc thượng giả tại tiền cứ tọa  thì thật là không có nghĩa. Vì theo văn pháp, khi đặt 有 …. 有 cách ấy thì giữa nó phải có verbe mới được, mà ở đây chẳng có verbe nào hết. Nếu chữa lại: 有 載 錢 踞 坐 於 屋 上 者 hữu tại tiền cứ tọa ư ốc thượng giả  thì có nghĩa hơn.
Cuốn 30, truyện Nguyễn Văn Nhạc, tờ 15, chỗ nói Nhạc nghe Huệ chết, chính mình đem hơn ba trăm liêu thuộc cùng em gái ra thăm, đi đến địa đầu Quảng Ngãi thì  “bị viên đồn trưởng của Huệ ngăn lại” mà biên là  爲 惠 屯 將 阻 之  “vi Huệ đồn tướng trở chi”  cũng lại không trôi nữa. Theo văn pháp, câu này muốn đặt lối actif  thì nói: 惠 屯 將 阻 之  “Huệ đồn tướng trở chi” ; muốn đặt lối passif  thì nói: 爲 惠 屯 將 所 阻 “Vi Huệ đồn tướng sở trở” ,  chứ không ai lại đặt câu bằng lối passif lại còn để chữ  之 chi  là chữ chỉ có thể dùng được trong câu actif mà thôi.
Cuốn 31, truyện Cao Man, tờ 8, chỗ nói ba người em khác mẹ của vua Cao Man chạy sang Xiêm, bầy tôi cũ trong nước “có nhiều kẻ lẻn theo họ” mà biên là: 多 有 潛 往 之 者 “đa hữu tiềm vãng chi giả” cũng không đúng mẹo. Theo văn pháp, 往 vãng  là verbe intransitif , theo sau nó phải để chữ 焉 yên , không được để chữ 之 chi . Thế thì nên chữa lại: 多 有 潛 往 焉 者 đa hữu tiềm vãng yên giả  ; nhưng như thế, đúng mẹo mà chưa đủ nghĩa, vậy phải chữa nữa là: 多 有 潛 往 從 之 者 “đa hữu tiềm vãng tòng chi giả” .
Thôi, không lẽ cứ thế này mà kéo dây ra mãi, chỉ trích ba chỗ cũng là đủ rồi. Nhân tiện, tôi nắm lấy lẽ này làm kết luận:
Hơn một ngàn năm học chữ Hán, vẫn có nhờ nó lập cho ta một nền văn hóa khả quan, nhưng nếu nói ta đã lập nên trên thứ chữ ấy một nền văn hóa xứng đáng thì tôi tưởng rằng chưa chắc. Bởi một thứ chữ mà ta viết hãy còn chưa được nhã thuần, chưa đúng văn pháp, thì làm sao cho thành văn học được?
Tội không tại người mà cũng không tại chữ. Tội tại người nước này mà lại dùng chữ nước kia!
Bởi vậy tôi nói nước ta từ ngày có văn học quốc ngữ là một hạnh phúc ở đâu đưa đến cho chúng ta! Ở người ta, nước mất thì sợ cho chữ cũng theo mà mất; còn mình, trong khi nước mất lại có quốc văn sản xuất và mỗi ngày một thịnh, ấy chẳng phải là điều may mắn lạ?
Nhân chữ Hán suy ra, tôi biết chữ Pháp rồi cũng thế. Cái trạng huống của văn học chữ Pháp ở nước ta mai sau ra thế nào, tôi có thể đoán biết từ hôm nay. Văn của ông Nguyễn Mạnh Tường hay của ông Phạm Duy Khiêm, mãi đến sau đây vài mươi năm rồi người ta sẽ tìm thấy nó pasfrançais cũng như văn cụ Sào Nam đã không được nhã thuần, của các quan Sử quán đời Tự Đức đã sai văn pháp! Thế thì sao người ta còn sính chữ Tây cũng như ngày xưa đã sính chữ Tàu?
Rút lại, một thứ chữ ngoại quốc nào cũng chỉ hành dụng bởi sự nhu cầu của thời đại mà thôi, còn muốn lập nên văn học thì ắt phải là văn tự bản quốc mới được. Vậy chúng ta nên đồng thanh kêu: Hỡi, người Việt Nam, trở về với quốc văn!
PHAN KHÔI
   
Chú thích
- ▲ Tức là bài Văn học chữ Hán của nước ta đăng trên Phụ nữ tân văn , Sài Gòn, số 169 (22. 9. 1932)
- ▲ Nhân đề có chữ kỳ lân nên bài làm mỗi câu có tên một con vật để chọi quy, long, hùng (gấu), lộc (hươu); vì thế mà cho là hay, phục là tài. (nguyên chú)
- ▲ Xem sách Nam hải dị nhân liệt truyện về truyện ba người: Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Thị Điểm . Ở đó có giải rõ nghĩa các câu đối này.
- ▲ Nguyễn Hy Tông tức là Nguyễn Phúc Nguyên (ở ngôi chúa: 1558-1612)
- ▲ Xem Nam hải dị nhân liệt truyện về truyện Đào Duy Từ .
- ▲ Nguyễn Thái Tông tức là Nguyễn Phúc Tần (ở ngôi chúa: 1648-1687)
- ▲ Jeu de mots (chữ Pháp): chơi chữ.
- ▲ Nghĩa là: Mặt trăng sáng và trong, bị đám mây đùa bỡn làm cho tối lại sáng.
- ▲ Bốn câu giữa của bài Cẩm sắt  : ( Trang Sinh hiểu mộng mê hồ điệp, Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên. Thượng hải nguyệt minh châu hữu luy, Lâm Điển nhật hoãn ngọc sinh yêu ). Xin khỏi thích nghĩa, vì khó quá mà lại lôi thôi nữa.
- ▲ Chắc nghĩa thế nào mà thích được!
- ▲ Nghĩa rõ rồi, không cần thích!
- ▲ Thơ của Nguyễn Hương, nghĩa là: học được cái bí quyết sống lâu mà chẳng cầu cho thiên hạ biết mình.
- ▲ Nghĩa là người trong núi tự đi qua đi lại, vì núi sâu nên người ngoài chẳng ai biết.
- ▲ Thơ của Phạm Lam Anh (***), nghĩa là cái khí phẫn uất lồng lên, trời cũng có thể hỏi được; cái người một mình tỉnh đã đi rồi, trong nước trống trơn. Hai mẩu này đều thấy trong sách Đại Nam Triều Biên liệt truyện .
- ▲ Truyền kỳ mạn lục   傳 奇 漫 錄 của Nguyễn Dữ đời Hậu Lê; Vân nang tiểu sử   雲 囊 小 史  có in trong Nam Phong mấy số đầu.