Part 2
Thỉnh thoảng khi giảng xong một quyển, hoặc giữa khi đương giảng, thầy cũng có chọn một vài nơi khó hiểu mà hỏi bất kỳ trò nào thầy muốn hỏi. Hỏi để xem trò ấy có chăm chỉ mà nghe không, và có hiểu nghĩa lý trong sách không. Vì cớ ấy, người nào chăm học, trước khi nghe sách họ không nói chuyện, không đùa nghịch, để thì giờ mở xem bài sách sắp giảng, phòng lát nữa thầy có hỏi đến mình. Nhưng những người ấy thì lại thường bị bạn đồng học theo mà trêu chọc, chế báng.
Một lần nghe sách phỏng mất ba giờ đồng hồ. Theo tôi bây giờ mà đoán xét lại cái công tác của thầy trò chúng tôi hồi đó, thật chẳng ra chi. Thầy chỉ giảng theo các thuyết của thánh hiền và tiên nho, chữ đâu nghĩa đó, chứ chẳng hề có phát huy thêm được một chút gì. Thế đó mà cũng còn có nhiều người nghe như nghe chẳng lọt vào tai chứ đừng nói ghi vào dạ. Bạn đọc thử nghĩ: Như tôi, đi học với một ông thầy mười năm chẵn, mà cứ hết kinh, truyện, sử, lại kinh, truyện, sử, học đi học lại một bộ sách đến ba bốn lần, thế là học cái gì chứ? Mỗi ngày mất ba giờ đi nghe, rồi đến về nhà mất bao nhiêu giờ ngâm nga nghiền nghĩ nữa, mà tôi nhắm chừng chẳng có sở đắc gì tất cả!
Thường thường hễ giảng xong thầy gấp sách lại, là đứng dậy đi. Một đôi khi cũng có ngồi rốn lại, để hoặc trò nào hỏi gì thì đáp, hoặc thầy có chuyện gì đem nói cho cả trường nghe, nhưng sự ấy họa chăng mới có.
Bấy giờ lại bắt đầu có tiếng rùng rung... rùng rung... nữa. Hằng trăm người đứng lên một lượt ra về. Bỗng dưng mấy anh ngồi trên bộ ván phía chái sát tường lúc đứng dậy, anh nầy dính lấy anh kia, anh kia dính lấy anh nọ, kéo nhau nhùng nhằng nhủng nhẳng, ai nấy trông thấy đến tức cười. Thì ra trong lúc nghe sách, người nào chơi nghịch đã đem vạt áo trò này cột với trò kia, vạt áo trò kia cột với trò nọ, cột đến chín mười người ngồi chung một ván ấy!... Người chơi nghịch ấy là ai, phải chi là trường tiểu lập thì đã đem việc này “thưa thầy” và người ấy sẽ bị truy ra và bị trận đòn dữ dội; nhưng đây là học trò lớn thảy cả, những người bị cột áo dù tức cười, dù phát cáu cũng đứng lại mở lẫn cho nhau rồi ôm sách, xách nón ra về!
TÚ VƯỜN
V
BÀI KỲ VÀ TỊCH THƯỢNG
Theo phép khoa cử: thi Hương thì trường nhất kinh nghĩa, trường nhì thi phú, trường ba văn sách, như tôi có nói ở đoạn trước rồi. Thí sanh nào đậu trường này mới được vào trường khác. Thí sanh nào đậu cả ba trường mà trường nào cũng chỉ được phê “thứ”, thế là sẽ liệt vào hạng tú tài. Còn ai, trong ba trường mà có một giở lên được phê “bình” hay “ưu” thì mới được vào trường tư, gọi là “phúc hạch”. Trường phúc hạch họa mới có người rớt; còn đỗ thì là cử nhân. Văn thể của trường tư gọi là “lược bị”, nghĩa là đủ mỗi thứ một chút: một bài kinh nghĩa, một bài phú ngắn, một bài văn sách ngắn.
Bởi thí thức như thế cho nên các trường tư cũng cứ theo như thế mà luyện tập cho sĩ tử. Đại để trường nào cũng tập làm bài một tháng ba kỳ, có ngày nhất định. Như trường tôi thì luôn mười năm lấy những ngày mồng một, mười một, hâm mốt mỗi tháng, không hề thay đổi. Ngày mồng một thì tập trường nhất: đề ra bảy bài kinh nghĩa, năm kinh hai truyện, nhưng mỗi quyển chỉ làm một kinh một truyện là đủ; còn ai có sức dư làm nhiều hơn, gọi là “kiêm trị”, càng hay. Sự đó cũng là chiếu theo thể thức ở trường thi. Ngày mười một thì tập trường nhì: đề ra một bài thi thất ngôn luật, một bài phú sáu vận, phải làm cả hai. Ngày hâm mốt thì tập trường ba: đề ra một bài văn sách dài, phần trước hỏi trong kinh sử, gọi là phần “cổ”; phần sau hỏi về thời sự, gọi là phần “kim”. Tiếng là thời sự, chứ kỳ thực, người ra đề không hề dám đả động một tý gì đến việc chánh trị triều đình cả; lúc trong trường thi đã vậy mà lúc ở nhà tập cũng vậy, người ta chỉ chiếu lệ ca tụng nhà vua mà thôi. Đại khái một trăm cái đề văn sách, cái nào về phần kinh cũng hỏi: “Hoàng thượng ta có tư bẩm thông minh, có đức tánh hiếu đễ; từ ngày lên ngôi đến nay, mọi việc đều sửa trị, muôn dân được an vui; bây giờ muốn trong nước càng thái bình hơn, thì nên làm thế nào cho được?"
Tôi còn nhớ vào những năm Đinh Dậu, Mậu Tuất, Thành Thái cửu và thập niên, mấy tỉnh chặng giữa Trung Kỳ mất mùa, đói kém, người ta chết đầy đường. Ngay ở Huế, quan phải làm trại kề chợ Đông Ba, nấu cháo mà phát chẩn hàng năm sáu tháng. Thế mà trong hai bài văn sách cả khoa Hương, khoa Hội hai năm ấy, người ta cũng cứ nói cái giọng “mọi việc đều sửa trị, trăm họ được an vui” mới nực cười cho! Nhờ cách học và thi ấy mà lúc bấy giờ có những ông cử ông tú không biết người Tây đến ở xứ ta làm gì, cũng không hay rằng nước ta bị bảo hộ nữa, dù trong đám họ có kẻ đã chính mắt trông thấy cuộc Kinh thành thất thủ!
Mỗi một kỳ bài nghỉ hai ngày. Rồi đến những ngày mồng ba, mười ba, hâm ba, mỗi trò phải nộp bài mình và lại bắt đầu nghe sách. Như thế, tính ra mỗi tháng được nghỉ sáu ngày, nhưng nghỉ để làm bài vậy.
Làm bài như thế gọi là “bài kỳ”, được đem về nhà thong thả. Còn có làm ngay ở trường trọn một ngày thì gọi là “tịch thượng” hay “nhựt lực”. Sự nầy tùy mỗi trường mà khác. Trường tôi thì cứ ba tháng làm nhựt lực một lần, mà một lần chiếm trọn ba ngày bài kỳ đã định trong một tháng. Nghĩa là trọn ngày mồng một làm trường nhất, trọn ngày mười một làm trường nhì, trọn ngày hâm mốt làm trường ba, mà đều làm tại trường cả. Có khi vì cớ học trò đông quá, trường không đủ chỗ cho họ ngồi, thầy cũng có cho phép đem về nhà trọ mà làm.
Trong thời kỳ còn đi học, tôi không lấy gì làm vui bằng gặp ngày “tịch thượng”.
Sáng sớm, ai nấy đều đã tới trường đông đủ cả. Mỗi người mang viết, mực, giấy nháp, quyển vở và yên, trắp theo. Yên, trắp dùng để đặt quyển lên mà viết trong khi làm bài xong. Cây viết họ thường giắt bên tai, một đầu lọt trong nép khăn, một đầu thọc ra ngay má.
Bữa nay thì kẻ đứng người ngồi, lộn xộn, không được tịnh túc như ngày thường nghe sách. Vì trước khi ra đề, ai ai cũng dộn dực muốn biết là đề gì, nên đi lại, xầm xì bán tán với nhau.
Đề viết trên một tờ giấy bạch mà thứ giấy đại, bằng chữ chơn phương hàng sáu, rồi dán trên một tấm bảng cót nho nhỏ. Một người trong nhà thầy cầm tấm bảng đi ra, đứng lên ván, treo vào cái đinh đầu cột cao quá với. Tức thì người ta bu lại như kiến, đứng dưới nhìn lên mà chép theo vào trong tờ giấy nháp của mình.
Thường thường, những ngày “nhựt lực”, thầy không ra mặt, như có ý để học trò được tự do đứng ngồi, khỏi phải thấy mình mà ké né.
Rồi thì trên các dãy ván, đến ngoài hè, ngoài vườn, bên những bụi chuối, đâu đâu cũng có người ngồi. Họ bắt đầu cùng nhau bàn luận về cái đề mục cho thật chín, rồi mới khởi sự làm bài.
Nhiều anh trong miệng thì hầm hầm, hừ hừ, cái đầu thì lắc qua lắc lại hay gục lên gục xuống, ấy là có thói quen mỗi khi nghĩ bài thì làm như thế. Trong lúc ấy họ cũng hay hút thuốc, hoặc thuốc quấn giấy, hoặc thuốc quấn nguyên lá như điếu xì gà. Một người xuống nhà dưới, kiếm một khúc dây dừa đứt, đem vô bếp đốt một đầu, rồi đem lên để dành thắp thuốc, vì bấy giờ còn hiếm diêm.
Nếu trong khi ấy mà có người ở một nước nào xa lạ đến xem, họ sẽ thấy mà không hiểu làm cái gì lạ thế: hàng mấy trăm người ngồi chung một chỗ mà người nào cũng cằm cằm cùng cục, tịnh không nói một tiếng nào!
Trưa rồi. Người nào ở gần thì chạy về ăn cơm. Còn ở xa thì có kẻ mang cơm đến. Một số người muốn cho tiện, lúc sáng ăn cơm đi, có ép mang theo một gói, bây giờ mở ra ăn. Giữa bữa ăn, người ta vẫn không chịu bỏ dở câu văn đương nghĩ, quăng đũa, cầm viết, thảo lia thảo lịa cho xong.
Xế qua, ai nấy khởi sự viết tinh vào quyển mình cho đến chiều thì đem nộp. Đến tối, ăn cơm hôm rồi mới đem nộp, tức là “ngoại hạn”, thầy không thâu nữa. Nhưng qua trường ba, bài văn sách khi nào cũng dài, thì được phép đốt đèn lên mà viết; có lúc thầy rộng lượng cho kéo dài cái kỳ hạn nộp quyển đến sáng hôm sau.
Ba kỳ nhựt lực xong ba trường, cũng có định một ngày nữa làm lược bị, tức là trường tư. Thế rồi xâu bốn kỳ lại mà chia thứ lớp ai đứng cao, ai đứng thấp và dán tên trên bảng, sau khi thầy chấm đi chấm lại hai lần.
Bài kỳ vậy mà nhựt lực cũng vậy, hễ thầy chấm xong, đến ngày phát quyển ra cho học trò là có bình văn. Cuộc bình văn cũng vui lắm.
Sáng hôm ấy, khi học trò tới đã đông, thầy giao ra những quyển được phê “ưu, bình” cho xem. Những người học còn kém, thường đem bút giấy theo mà biên những quyển ấy. Bài nào được trọn thì họ biên trọn; còn bài được một vài đoạn hoặc dăm ba câu, họ cũng không bỏ qua. Những bài biên lấy đó, họ đem về để dành, phòng sau có gặp những đề trùng hay tương tợ thì họ sẽ “ăn cắp”.
Hôm bình văn, thầy ra ngồi đàng hoàng như những ngày nghe sách. Trong những quyển bình ưu ấy, thầy chọn một vài quyển trổi hơn rồi bảo trò nào tốt giọng đọc lên. Dứt một đoạn, thầy cắt nghĩa cho nghe đoạn ấy tại sao mà được; và trong đó có điều gì đáng nói, thầy cũng nói nhân thể. Có khi thầy cho phép học trò chỉ trích những bài mà chính thầy đã phê “bình” phê “ưu”. Người nào có bài được đọc thì tự nhiên là ngày ấy không khỏi làm ra hãnh diện với anh em.
Một trường tư thục lớn như trường thầy tôi, xong bốn kỳ nhựt lực rồi mà ai đậu đầu, thật cũng có danh giá lớn lắm, không kém chi đứng đầu một kỳ hạch ở tỉnh mà người ta thường gọi là “đỗ đầu xứ". Tôi học trong mười năm mà chỉ được đậu đầu có một lần vào năm tôi 24 tuổi. Tôi lấy nhà tôi cũng tại lần đậu đầu ấy; vì sau khi ấy ông nhạc tôi kêu tôi mà gả con gái cho liền, tức là người vợ tôi bây giờ.
Cụ Thượng Phạm Liệu, bấy giờ giỏi nhất trường, hay đậu đầu lắm. Tiếng dậy cả một vùng, đến nỗi trong dân truyền nhau câu hát:
Nhất là Phạm Liệu Trừng Giang;
Nhì là lão Tuấn La Nang nhiều tiền.
Làng La Nang ở kế cận làng Nông Sơn. Lão Tuấn người ở làng ấy mà chẳng phải giàu gì cho lắm, vốn liếng chừng đôi ba ngàn quan tiền mà thôi. Chẳng biết người đặt ra câu ấy do tình thật hay là có ý nhạo ngầm!
TÚ VƯỜN
VI
BẤY GIỜ...
Năm nay tôi lên 60 tuổi rồi, tôi còn phải chen lộn trong cái xã hội bây giờ để mà sống, rồi khi viết ra cái ký ức lục này cho người ta xem, tôi tình cờ nhớ lại cái tình trạng bấy giờ, vào khoảng đời học trò của tôi, tôi thấy như ở một thế giới khác hay trong giấc chiêm bao.
Mới hơn 30 năm mà chung quanh tôi cái gì cũng đổi khác cả, từ vật chất đến tinh thần.
Hôm qua, tôi ở chơi nhà một ông bạn già giàu có, thấy nói vừa mua cái măng-đa 200 đồng gởi cho thằng con học ở Hà Nội, trong số ấy, 120 để trả tiền cơm sáu tháng nay, còn 80 để may đồ mặc mùa lạnh.
Bạn đọc phải cho phép tôi ghen nó. Hồi đó tôi đi học, mỗi tháng, bà nội tôi chỉ gởi cho nhà trọ hai ang gạo với ba quan tiền. Tính đổ đồng ra giá bạc ngày nay, chừng trên một đồng bạc. Còn mặc thì một cái áo dài đen, hai cái áo dài trắng thay đổi nhau, quần được ba cái: hết thảy đều bằng vải, mà thứ vải bông ta làm ra ấy. Khăn đen thường bịt chỉ có một chiếc cho nên hôm nào được nghỉ ở nhà mới dám giặt nó mà thôi.
Thầy đối với chúng tôi như chẳng thèm kể đến công dạy dỗ. Mỗi một năm hai lễ tết, đoan dương và chánh đán, trò nào đi bao nhiêu thì đi, thầy chẳng hề nói ít nói nhiều. Thường thường là ba quan tiền với một quả nếp hay quả gạo. Con nhà giàu đi tết hậu hơn: sáu quan tiền hay một đồng bạc cùng với phẩm vật đáng giá, như là rượu, bún, trà. Còn có bao nhiêu trò vì nghèo quá, mỗi lễ tết chỉ đem đầu tới lạy thầy mà trừ. Những trò ấy có khi chạy ra một vài quan đem đến rồi thầy cũng cho lại. Vì vậy nên một trường lớn như trường thầy tôi mà mỗi lễ tết, thầy thâu vào không đầy một trăm bạc.
Bấy giờ sự sinh hoạt còn giản dị chất phác như vậy đó, đáng lấy làm lạ là sao trong việc thi cử, cái thói hối lộ lại mỗi ngày một nẩy nở thêm ra. Trước còn chưa mấy; từ khoa Giáp Ngọ, Thành Thái lục niên giở đi, các học quan (Đốc học, Giáo thọ, Huấn đạo) bắt đầu ăn của đút của học trò, thi cử thì khoa nào quan trường cũng có mang tiếng, cho đến khoa Bính Ngọ, Thành Thái thứ 18, các quan chủ khảo trường Thừa bị kiện thì đã quá lắm vậy.
Những chứng cứ về việc ấy nếu kể ra cho hết thì nhiều lắm, đây thử nhắc lại một bài ca trù truyền tụng nhất lúc bấy giờ:
Tự cổ văn chương bằng chỉ thượng,
Vu kim nghĩa lý vấn nang trung.
Bảng trong trời chi thiếu mặt hổ long?
Đèn sách nọ không gia công mà cũng đặng!
Xin cho biết mực đen giấy trắng,
Tròm trèm ba chữ cũng dư thi.
Sẵn bạc nhà cắp lấy ra đi,
Vào thí viện, quyển làm chi chẳng tốt?
Vậy có câu rằng:
Cử nọ hai mươi hốt, [ 3 ]
Tú kia bát thập nguyên,
Ấy là phận, ấy là duyên,
 mà phong thổ âm công chi cũng đó,
Khi rước về, võng điều chấu đỏ,
Về đến nhà hỏi mụ sướng hay không?
Mụ rằng: Tôi cũng như ông!
Bài ca trù nầy truyền tụng đâu vào hồi khoa Ngọ, Thành Thái năm thứ sáu, cho nên mới có cái giá tú tài tám chục đồng. Chứ về sau thì càng ngày càng mắc, lo cho được cái tú tài cũng phải mất ba trăm đồng là ít.
Các học quan ăn tiền học trò chỉ ở kỳ hạch thi. Lệ thường, hễ năm sau đến khoa thì năm nay mỗi tỉnh mở một kỳ hạch. Người nào trúng kỳ hạch ấy mới kể là thí sanh và sang năm mới đi thi được. Bởi vậy, những trò dốt mà muốn đỗ phải lo với các ông Đốc học hay Giáo, Huấn. Các ông nầy họ tính cũng khéo lắm: cứ mỗi phủ, huyện, nhằm số thí sanh được bao nhiêu thì họ lấy già nửa phần danh sĩ sung vào; còn non nửa, họ chia tay nhau mà bán cho những kẻ bằng lòng bỏ tiền ra: thường thì một chục đồng, khi đắt đỏ lắm thì hai chục.
Từ Quảng Bình trở vô, mỗi tỉnh có lệ bổ học sanh. Cái lệ ấy từ trước là cái đặc ân để khuyến khích học trò mấy tỉnh đàng trong, mà từ bấy giờ là cái dịp để làm giàu cho mấy ông Đốc học, ông nào có bụng xấu. Như tỉnh Quảng Nam, theo lệ được mười tám học sinh, thì ông Đốc học bổ vào chừng mười người học giỏi, còn tám người thì ông chọn con nhà giàu, lấy mỗi người vài trăm bỏ túi.
Cái học khoa cử đã không ra chi rồi, mà trong cái không ra chi ấy lại còn có điều dơ bẩn đê hèn là cái thói hối lộ nữa, thì thật là đáng chán.
Ở trong hoàn cảnh ấy lâu ngày, nó đào tạo cho sĩ phu một cái đức tánh thông thường là: vô sỉ. Ban đầu còn ít, những kẻ đem tiền ra lo để mà đậu, khi về với làng nước hoặc ngồi giữa đám anh em còn có ý rụt rè lấy làm thẹn. Chứ đến sau, nhiều người làm như thế rồi, họ coi là sự công nhiên, họ cầm cũng như bỏ tiền ra quyên cái bá hộ hay cửu phẩm, vẫn nghênh ngang lên mặt giữa công chúng, không ngượng nghịu gì. Thậm chí có kẻ học giỏi mà nhà giàu, cũng đành bỏ tiền ra lo cho đậu đi, vì nghĩ rằng nếu cậy một sức học của mình thì không chắc.
Đó mới nói về phần “tiền”, còn về phần “thế” nữa. Thế tức là con cháu các quan.
Từ khoa Bính Ngọ giở đi cho đến các khoa dưới triều Duy Tân và triều Khải Định, một trường Thừa Thiên, khoa nào con cháu các quan đậu cũng nhiều. Thuở trước, làm quan lớn tại triều, có con thi đậu, dù có thực học đi nữa là các ngài cũng còn có ý tị hiềm. Nhưng bây giờ thì không. Các ông Thượng, ông Tham, ông nào có con cháu bao nhiêu thì kéo ra mà cho đỗ hết, như tuồng sợ rồi đây không còn thi nữa. Những người ấy ngày nay cũng đã nối dõi mà làm lên chức lớn rồi.
Tôi mà nói đến sự tình tệ trong khoa cử, những người biết tôi chắc cho tôi vì “nóng mũi” mà nói, vì mình thi hoài không đỗ mà đi bươi xấu chuyện họ để hả hơi. Ai ngờ cho tôi như thế thì tôi cũng xin vâng. Vì tôi đã là một kẻ đứng đơn với bọn Dương Thưởng kiện sự “thủ sĩ bất công” hồi khoa Ngọ, tôi đã làm cho mấy ông quan trường bị giáng bị cách thì tôi còn có sợ gì mà chối? Nhưng, tình thực, tôi viết đoạn nầy là do một ý khác.
Cũng từ khoa Ngọ, quan trường bị kiện đó mà rồi sau mỗi đến khoa thi, bên chính phủ Bảo hộ mới có phái quan dự vào. Thành ra, việc khảo thí là việc Nam triều được tự chủ lấy bấy lâu mà từ nay cũng bắt đầu bị can thiệp. Rõ thật là đáng tức!
Bởi vậy, trong đoạn này, tôi chỉ có ý cho bạn đọc biết các quan Nam triều từ hồi có Bảo hộ đến sau, càng ngày làm cho cái oai vọng của Triều đình càng sa sút. Việc thi cử cũng như mọi việc khác, các ngài cứ rủ nhau mà “phá bĩnh” hết thảy cho đến không còn gì nữa mới thôi!...
TÚ VƯỜN
VII
SẮP TỚI KHOA…
Theo chế độ học đường ngày nay, mỗi năm thi một lần, người nào rớt được phép thi một lần nữa, thành thử các thí sinh có thể nghĩ rằng năm nầy không đậu còn năm khác, lần trước có hỏng còn lần sau, rồi họ coi cái khoa thi không lấy làm hệ trọng cho lắm. Chứ thuở trước, theo chế độ khoa cử, ba năm mới có một khoa; cho nên mỗi lần sắp tới khoa, trong đám sĩ tử, hiện ra cái vẻ nhộn nhàng một cách đặc biệt.
Khoa hương mở vào những năm tý, mẹo, ngọ, dậu. Các trường ở Bắc Kỳ thi nhằm mùa đông, ở Trung Kỳ thi nhằm đầu mùa hạ, tháng tư. Người ta cố ý chọn nhằm mùa tạnh nắng. Những học trò ở các tỉnh thi tại trường thừa phải dự bị việc thi cử từ tháng tám năm trước đến tháng giêng tháng hai năm sau. Sự dự bị có hai điều này rất quan yếu: hạch thi và đầu tuyển.
Hạch thi nghĩa là hạch qua cả học trò trong tỉnh một lượt, ai có đậu kỳ hạch ấy mới được ghi tên vào sổ ứng thí và sang năm mới được đi thi. Cuộc hạch nầy do các quan tỉnh và quan đốc học chủ trương, thường mở ra trong tháng tám năm trước.
Ở tỉnh tôi thuở đó, mỗi lần hạch thi có đến năm bảy ngàn học trò ứng hạch, cho nên ngày ấy ở chỗ tỉnh thành cũng rộn rịp tưng bừng như những ngày thi ở Huế. Người nào muốn ứng hạch kỳ nầy trước phải do lý trưởng khai tên tại quan. Xong rồi, đầu quyển tại các trường huấn, giáo. Đến trước ngày hạch một vài ngày, các quan huấn, giáo đệ quyển đến nạp ở tỉnh. Những quyển ấy người ta cũng rọc phách và đánh dấu hiệu như quyển trường thi. Như ngày rằm tháng tám hạch, thì nội ngày 14, học trò các nơi đã lần lượt tụ về tỉnh, đến chiều tối đông đủ cả. Hôm ấy các hàng quán mở thêm ra, cho đến những người ở quanh đó bình thường làm ăn nghề khác mà đến mấy ngày này cũng đổ ra làm nghề bán rượu bán cơm.
Mỗi lần hạch, người ta cũng chảy về tỉnh đông như thế, cũng làm cho quan tỉnh phải gia ý việc canh phòng hơn hồi bình nhật. Chiều hôm ấy đã có mượn lính tập dưới tòa lên gác. Còn tối lại, lính giản cứ xách dùi xách mõ đi trên bốn bờ thành, khắc canh cẩn thận. Chốc chốc lại có ống vọi trên thành truyền ra: “Ai ở đâu ở đó, đừng làm ồn, quan lớn quở!” Ống vọi mặc ống vọi, quan lớn mặc quan lớn, chứ tối hôm nay là một tối đặc biệt, đặc biệt cho bọn “nhất quỷ nhì ma”. Vào mùa nầy, chỉ sợ có trời mưa chứ nếu trời không mưa mà lại có trăng thì thôi, tha hồ cho anh em nghịch ngợm. Họ uống rượu, họ ghẹo các cô bán quán. Họ kéo nhau đi tốp năm người tốp mười người, hò la trần rĩ, đố ai mà cấm cho được. Chỉ có thầy nào hơi lớn tuổi, làm ra đạo mạo, thì mới chịu ở yên trong quán mà thử thách chữ nghĩa với nhau.
Cửa thành đóng từ lúc chiều rồi đóng luôn. Lúc gần sáng, luận canh tư, trừ cửa tiền ra, còn ba cửa kia, mỗi cửa có một ông học quan coi việc xướng tên phát quyển cho học trò vào. Sáng thiệt mặt thì vào vừa hết.
Có những nhà kho, xưa kia là nơi chứa lúa chứa tiền của hàng tỉnh, mà từ lúc quân ta không còn thâu thuế nữa thì nó bỏ trống, bây giờ đem làm chỗ cho học trò ngồi làm bài hạch. Tại đó nền bằng đất, vậy nên mỗi người phải mang theo một manh chiếu để mà ngồi – ngồi từ sáng cho đến chiều, gần tối mới ra. Cái kho chứa một lúc được dăm bảy ngàn người, cũng đủ biết nó rộng là dường nào, trước kia đã chứa bao nhiêu tiền và thóc.
Các quan hội lại đông đủ. Đề ra. Ấy là “lược bị” mỗi thứ một ít, như có nói ở một đoạn trước.
Học trò bắt đầu làm bài. Người nào học giỏi, văn nhanh, thì làm cho mình rồi, còn làm gà cho kẻ khác. Từ chiều hôm qua, hai người ấy họ đã mưu mẹo với nhau: khi vào ngồi chung một chỗ. Mỗi quyển gà như thế, đậu thì năm đồng, mà không đậu, cũng lấy công phu một vài đồng.
Trưa lại, người ta cho những gánh hàng rong đem vào bán. Rồi nhân đó, bài gà ở ngoài cũng thừa cơ lọt vào. Vì một kỳ hạch như thế, thiếu chi các thầy cử thầy tú, nằm nhà ngứa nghề không chịu được, cũng đến nấp ngoài quán, xổ bụng chữ để kiếm ít nhiều. Những lính gác tại chỗ, thường là kẻ đem đề ra, đem bài vào cho họ.
Mãn ngày là xong kỳ hạch. Sĩ tử ai về nhà nấy, mươi hôm sau đến coi bảng.
Nói vậy chứ cũng có kẻ không chịu về. Họ ở lại để năn nỉ, đút lót, xin xỏ cùng các quan có quyền trong việc ấy. Ấy là những kẻ học kém mà cố sang năm đi thi để cho dễ hỏi vợ. Sự vận động của họ phần nhiều là thành công, vì các quan giáo chức “khó” lắm, chỉ có ngày nầy là ngày mùa của các ngài.
Ngày treo bảng. Hôm nay người ta chỉ nóng muốn biết ai là đầu xứ. Đầu xứ tức là người đỗ đầu kỳ hạch nầy. Ở tỉnh tôi, đã lâu rồi, hễ người nào đậu đầu kỳ hạch nầy thì năm sau cũng đỗ cử nhân. 
Những người nào có tên trên bảng, tức là hạch đậu, qua giêng hai phải lo đầu quyển.
Đầu quyển, một việc coi không chi mà thật là rắc rối. Thuở trước, học trò thi sợ nhất là việc đầu quyển. Nó không gì khó lắm, chỉ người ta vẽ chuyện để kiếm tiền, hễ có tiền thì là dễ.
Quyển đóng bằng thứ giấy tốt, dày và trắng, gọi là “giấy thi”. Mỗi cái quyển phải đóng 10 tờ giấy, mà mỗi người là hai cái quyển, vì họ phỏng định cho người nào cũng vào đến trường ba cả. Nhưng có đâu. Phần nhiều là hỏng trường nhất và trường nhì, như thế rồi những cái quyển trắng thừa ra ấy, về sau các quan trường đem chia với nhau. Cho nên mỗi một ông quan đi chấm trường về, ông nào cũng có bợ được một mớ quyển ấy, tùy quan lớn hay nhỏ mà được chia nhiều hay ít.
Quyển đầu tại trường Đốc. Một người thuộc viên của quan Đốc kêu bằng “Tự thừa” coi việc nầy. Quyển đem đến, Tự thừa đưa lên mặt trời mà xem từng tờ. Xét tờ nào có tỳ một chút cũng bất đi. [ 4 ] Đến cái tên và những chữ đề trước mặt quyển mới càng làm lôi thôi nữa. Số là, dưới chữ họ và tên to, có song cước mấy hàng chữ nhỏ, là niên canh quán chỉ và cung khai tam đại. Họ có lập ra một câu luật sẵn: “niên tằng cung canh, tuế cố”. Nghĩa là trong mấy hàng song cước ấy, chữ “niên” phải viết ngang với chữ “canh”, chữ “tuế” phải viết ngang với chữ “cố”. Cái quyển nào viết không đúng luật ấy, họ không nhận cho.
Mà tôi đố anh, dẫu anh có làu thông cái luật ấy rồi, anh tự đề lấy, dầu có đúng đến đâu là người ta cũng kiếm cách mà bắt bẻ anh cho được mới nghe. Thế rồi, âu là chi, thua buồn, [ 5 ]  anh phải bỏ ra một vài quan tiền, thuê người ta đề hộ, là trôi việc hơn hết.
Mỗi một người nộp quyển phải nộp kèm theo một quan tiền. Quan tiền ấy không rõ để tiêu về việc gì, thấy nói về phần quan Đốc thâu. Còn ngoài ra, có kiếm thêm được nhiều ít, đó là riêng Tự thừa chấm mút.
Lúc tôi còn đi thi, gặp mỗi lần đầu quyển là tôi phản đối “quan tiền lệ” đó một cách kịch liệt lắm. Giữa công đường, tôi cứ hỏi to lên rằng: “Quan tiền nầy là quan tiền gì?” Rồi Tự thừa lại bấm tôi mà bảo nói nho nhỏ. Nhờ đó nên quyển tôi đưa vào, người ta cứ thâu, chớ không hạch nhột gì hết.
Phải chi tôi biết nhà nước Bảo hộ sau nầy cứ mỗi lần thi tú tài bắt bắt nạp 5$00, thi cao đẳng tiểu học bắt nạp 3$00, cho đến thi tiểu học cũng bắt nạp 0$50, thì thôi, hồi đó tôi đã vui lòng mà bỏ một quan vào túi người ta!
(còn nữa)
TÚ VƯỜN
   
Chú thích
- ▲ Ông Nguyễn Khắc Hiếu có câu: Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng . Nghĩa là phá bỏ cái nghề nghiệp học chữ Hán để đi thi, không theo nữa, mà theo nghề văn quốc ngữ để kiếm ăn. Chắc tác giả chỉ vào câu ấy của ông Hiếu. – Tòa soạn chú (nguyên chú)
- ▲ dôi dối: chưa rõ nghĩa; có lẽ là một từ thuộc phương ngữ Quảng Nam nhưng chưa được ghi nhận trong các từ điển phương ngữ; trong văn cảnh cụ thể thì “một thí sanh dôi dối” ý nói một thí sinh sức học trung bình, hoặc hơi kém chăng?
- ▲ Hốt là một nén, 10 lượng (nguyên chú)
- ▲ bất: bỏ đi (H. T. Paulus Của: sđd.)
- ▲ thua buồn: buồn vì mỏi mệt, mất công;  rủn lòng, thối chí (H. T. Paulus Của: sđd.)