Part 1
← Hồi ức lục
Đi học đi thi  (1937)  của Phan Khôi  
Các bài đăng trong mục " Đi học đi thi " trên Sông Hương, Huế, số 23 (9 Janvier 1937), trang 2; số 24 (16 Janvier 1937), trang 6; số 25 (23 Janvier 1937), trang 3; số 26 (30 Janvier 1937), trang 3; số 28 (20 Février 1937), trang 3; số 30 (13  Mars 1937), tr. 3; số 32 (27 Mars 1937), trang 5.
23652 Đi học đi thi 1937 Phan Khôi
KÝ ỨC LỤC CỦA MỘT VỊ LÃO NHO
I
Tôi, con nhà thế nho. Ông nội tôi đậu bảy khoa tú tài thuở Thiệu Trị, Tự Đức. Ông thân tôi cũng đậu tú tài hồi Tự Đức, rồi sau đỗ cử nhân, xuất chính đến tri huyện thì về nghỉ ở nhà. Bởi vậy, tôi sanh ra chỉ biết có một việc học. Mà học là để thi đỗ, có làm quan được thì làm, không cũng chiếm một tên trên bảng để noi dấu thơ hương.
Đó là một cái chí hướng rất sai lầm, một cái kỳ vọng rất hèn mạt của những người đi học mà về sau tôi mới biết ra. Nhưng lúc bấy giờ, cái lúc đương ham chuộng khoa danh, chẳng những một mình tôi mà ai cũng vậy, cho nên tôi chẳng cần giấu giếm làm gì mà khai thật ra cho bạn đọc biết, cũng khai thật luôn cái điều thất vọng của tôi nữa.
Tôi từ nhỏ có tư bẩm thông minh lạ. Lên 13 tuổi đã “cụ thể tam trường”: Nghĩa là về lối văn khoa cử, kinh nghĩa ở trường nhất, thi phú trường nhì, văn sách trường ba, tôi đều làm được cả trong tuổi ấy. Ông nội tôi và ông thân tôi đều để hy vọng vào tôi nhiều lắm.
Ông nội tôi sống cho đến năm tôi 16 tuổi, đi thi khoa đầu, hỏng trường nhất rồi người mới mất. Những năm trước đó, nhiều lần ông tôi ôm tôi vào lòng, hôn trên đầu tôi mà nói rằng: “Cháu ơi! Cháu cố mà trả thù cho ông, là cái thù ở chốn khoa trường! Học như ông mà bảy lần thi chỉ vớ được bảy cái tú tài, tệ, không dính được một chút cử nhân, há chẳng phải là một điều cay lắm nhỉ? Còn thầy cháu, ba khoa thi hội, cũng không kiếm ra cái tiến sĩ hay phó bảng! Sao mà nhà ta bạc phước thế? Này cháu, cháu gắng lên, cháu hãy làm cho cả ông và thầy cháu lại gan, kẻo tức lắm!”.
Có một lần, nghe ông tôi nói với tôi như thế, bà nội tôi mỉm cười mà rằng: “Ông khéo lẫn lắm! Cái việc đến hai người lớn làm đã chẳng được, lại đem phó thác cho một đứa bé con!...”. Nhưng ông tôi vẫn làm thinh không trả lời gì cả, hình như không để ý đến câu nói của bà tôi.
Những lời đình huấn đinh ninh ấy ghi vào dạ tôi cho đến ngày bỏ khoa cử, đầu tôi cũng đã bạc hoa râm, không còn đi thi được nữa mới chịu phai. Mà cơ khổ, cái thù của ông tôi, tôi đã chẳng trả được, rút cục lại công danh sự nghiệp của tôi cũng chẳng có gì!
Vì thế, nên tôi đã bảo là cái chí hướng sai lầm, cái kỳ vọng hèn mạt. Đường đường một đấng nam nhi, đôi ba mươi năm dùi mài kinh sử, chỉ có một cái mục đích thi đỗ, mà đỗ không được là cái già đến, cái chết đến, hết cả hy vọng một đời người! Sự sai lầm ấy đã làm hại biết bao kẻ thanh niên vào lớp trước, mà tôi là một.
Nói cho đáng thì tôi cũng có dính được một chút tú tài chứ không phải không. Nhưng cái tú tài ấy vào với nhà tôi mà ăn thua gì? Nói có vong linh ông nội tôi, dưới suối vàng, chắc người cho rằng thằng cháu người đã chẳng trả thù được cho người, lại còn gây thêm cho nhà người một lớp thù nữa, mà hiểm thay cái thù ấy lại không còn mong có ngày nào trả được hết!
Tôi đi thi cả thảy năm khoa. Một khoa hỏng trường nhất, một khoa đỗ, ba khoa vào trường ba rồi trượt cả. Nhưng cái khoa đỗ ấy, với tôi thì tôi cũng kể như hỏng, vì cái chí của tôi là muốn đậu đến chi chi nữa kia. Thế thành ra tôi là người cả đời chỉ phải hỏng thi.
Bây giờ tôi cũng chẳng thèm nhớ là năm nào, đâu vào khoảng Duy Tân hay Khải Định gì đó, thí thức đổi, ai ngoài 40 tuổi không được thi nữa, mà tôi bấy giờ đã gần năm mươi rồi, mới đành yên phận ở nhà, không còn có hy vọng tranh khôi đoạt giáp. Rồi vì cảnh nhà nghèo ngặt, tôi mới phải đi học sư phạm, làm tòng sư, nhờ đó mà tôi mới biết quốc ngữ, hôm nay mới có thể học chuyện mình lại trên báo với bà con.
Nhân đó mà tôi nghĩ tiếc mãi, phải chi tôi biết “phá nghiệp” [ 1 ] (tôi dùng chữ của ông Nguyễn Khắc Hiếu ) sớm thì hay. Giá tôi đi học quốc ngữ, chữ Tây hồi còn nhỏ, hay là hồi 20 tuổi, thì tôi chắc cái kết quả đời tôi cũng không đến như bây giờ.
Tôi cho cái sự phá nghiệp của một người học trò thanh niên là sự cần có. Tiện đây tôi nhắc lại một chuyện mà chúng tôi đã trải qua trước đây ba mươi năm.
Lúc đó, vào cuối triều Thành Thái, năm 1905-1906, trong nước có phong trào mới, nhóm lên bởi những cái tin Nhật thắng Nga và Trung Hoa có cuộc chánh biến. Sĩ phu bấy giờ có một mớ đã chán khoa cử và khoa cử cũng sắp đổi rồi đến bãi.
Ông Nguyễn Bá Trác , một người bạn học với tôi, thua tôi bốn tuổi. Lúc đó, ông cũng đã đỗ tú tài như tôi rồi. Tôi thì đương rèn tập để thi khoa sắp tới, nhưng ông thình lình đến rủ tôi bỏ học. Tôi ngạc nhiên, hỏi ông vì cớ gì bỏ học và bỏ học để làm gì, thì ông nói lung tung những là “Âu phong Á võ”... chi chi. Tôi biện bác với ông mấy lần, rốt lại, tôi cho ông là điên, chẳng thèm nói với và cũng chẳng thèm nghe ông nữa. Bấy giờ, chúng tôi kêu ông Trác là “ông Tú tân thơ”, thấy mặt ông ở đâu thì tránh đi ở đó.
Thế mà đến năm sau, khoa Ngọ, ông Trác lại đỗ cử nhân, còn tôi vẫn rớt! Tình thực ông ta đi thi khoa nầy thế nào, tôi biết rõ lắm. Ông đi chẳng phải mong đậu mà cốt chỉ làm bài thuê kiếm tiền. Cũng chẳng kiếm tiền cho mình mà là kiếm để góp vào đảng ông Ấm Hàm hầu có đưa người đi Nhật Bản. Ông kiếm được năm trăm đồng hết thảy, lại đậu cử nhân cho mình là khác. Còn tôi muốn đậu lại không đậu được, mà kể sức học hồi đó có lẽ ông còn kém tôi, mới tức cho!
Ông Trác cũng nhờ có phá nghiệp mà bây giờ mới nên người “ra hồn” như thế đó. Ấy không phải tôi thấy ông làm Tổng đốc mà hâm mộ. Tôi nhận cái sự thành công của sự phá nghiệp của ông không ở làm Tổng đốc. Giá ông không làm Tổng đốc là bây giờ cái địa vị của ông cũng còn hơn cái “tú tài vườn” của tôi xa lắm. Mà sở dĩ được như thế là nhờ ông phá nghiệp.
Chẳng những một mình ông Trác mà còn mấy người khác nữa. Tôi coi những người đồng thời với tôi, một trạc tuổi với tôi, hoặc kém tuổi, hễ người nào biết phá nghiệp thì bây giờ đều có địa vị khá cả. Còn không biết phá nghiệp, cứ theo lề lối thường, như tôi, sẽ ôm lấy cái “tú tài vườn” mà chết; hơn nữa, ra làm quan đôi chục năm, thăng được cái hàm đường, rồi cũng về ôm lấy cái “quan vườn” mà chết, đâu có được lừng lẫy tự do như những người kia?
Phá nghiệp đi! Tôi khuyên các bạn thanh niên.
Các anh bây giờ cũng khủng hoảng như chúng tôi đã khủng hoảng vào hồi cuối Thành Thái, đầu Duy Tân. Hãy soi lấy cái gương trên kia, các anh cũng phá nghiệp đi thì mai sau mới khá. Anh nào ở ngày nay mà cứ mài đít ở ghế nhà trường để lấy cho được cái bằng cấp thì cũng dại như tôi ôm lều ôm chiếu mãi mấy khoa để lấy được cái tú tài vườn!
Tôi nghĩ con người ta là giống ngu vô cùng. Mà hình như hễ có học nhiều chừng nào, càng ngu nhiều chừng ấy. Một việc không đáng làm, sao lại cứ làm mà không biết, đợi đến sau lâu rồi mới biết? Không những một mình tôi, phần đông người như thế cả, mà thời đại nào cũng như thế cả!
TÚ VƯỜN
II
Tôi lên mười tuổi thì vừa gặp cái biến kinh thành thất thủ. Cũng như các tỉnh khác, văn thân tỉnh tôi (Quảng Nam) nổi lên chống với Triều đình và Bảo hộ. Họ tự xưng là Nghĩa hội. Cái loạn Nghĩa hội trước sau không đầy ba năm mà bấy giờ tưởng chừng như lâu lắm, vì người ta ai cũng lấy làm chán nản.
Lúc đó, ông nội tôi đã ngoài sáu mươi tuổi, còn thầy tôi chưa được bốn mươi. Cả nhà chúng tôi đã phải “chạy giặc” nhiều phen. Tôi tuy còn nhỏ chứ tinh lắm, những lời kẻ lớn bàn luận với nhau về việc đời, tôi nghe hiểu hết và nhớ mãi đến bây giờ.
Thấy có nhiều ông Tú ra làm quan với nghĩa hội, ông thì làm Tán tương, ông thì làm Tán lý, ông thì làm Thương biện, hình như ông nội tôi cũng muốn ra làm với họ. Nhưng thầy tôi can, không cho. Tôi còn nhớ thầy tôi nói với ông tôi rằng Tây tài lắm, đánh với họ không lại đâu, hễ làm liều thì chết oan mạng. Ông tôi ban đầu còn chưa chịu nghe, sau thầy tôi can mãi, nhiều khi đến nói mà vừa lạy vừa khóc, ông tôi mới thôi.
Thầy tôi hồi đó cũng đỗ cử nhân rồi. Một nhà cả cha lẫn con đều ở trong hàng văn thân mà lại không chịu dự vào việc nghĩa, tất nhiên là bị người ta nghi kỵ và có khi đến giết hại cũng nên. Bởi vậy, ông tôi và thầy tôi cứ phải đem nhau đi trốn. Mà đi đâu cũng cho tôi đi theo với.
Có một lần, chúng tôi ở trong một chiếc ghe, đậu bên gành núi. Đương đêm, vừa mưa vừa gió, trời tối đen như mực, ông tôi thức dậy, đốt đèn ngồi một mình rồi không biết vì nghĩ thế nào mà ông tôi khóc oà lên. Trong lúc khóc, ông tôi kể lể nhiều lắm: Chốc lại kêu Hoàng thượng, chốc lại kêu Phu tử. Thầy tôi cũng trở dậy, lại ngồi cạnh ông tôi, nhưng không nói gì cả, cứ để mặc cho ông tôi khóc. Không bao lâu thì trời sáng, thầy tôi ra ngoài đốc thúc trai bạn chèo ghe đi chỗ khác.
Về sau, tôi mới đoán ra rằng lúc đó ông tôi kêu Hoàng thượng là chỉ đức Hàm Nghi, còn Phu tử là đức Khổng Tử. Đức Hàm Nghi bấy giờ bỏ kinh thành mà chạy, chẳng biết chết sống thế nào, vì nghĩa vua tôi, nên ông tôi nhớ đến ngài mà khóc. Nhưng làm sao lại kêu đức Khổng Tử? Một lần khác, có câu chuyện khác đã cắt nghĩa chỗ khó hiểu ấy cho tôi.
Một lần khác, vào ngày rằm tháng tám là ngày mà hằng năm có tế thu đình ở Văn Miếu hàng huyện. Ông tôi, thầy tôi, mấy người nhà nữa với tôi đương ở trong một cái nhà tranh của người bà con đóng dưới chân hòn núi Đức Ky, là nơi hẻo lánh ít ai đi tới. Ông tôi bảo tôi rằng: “Nhà tư không được phép tế thánh. Nhưng lễ cũng cho tùy thời biến thông. Hiện nay, gặp buổi loạn ly, Văn Miếu hàng huyện không tế được, thì ta nên tạm dùng lễ bạc tế ngài ở đây, không nên bỏ”. Thế rồi, người nhà giết một con gà, nấu một cỗ xôi, dọn lên cho ông tôi tế thánh trong cái nhà ấy.
Tế lúc nửa đêm mà ông tôi cũng bắt tôi dậy hầu cho kỳ được. Năm ấy, tôi đã 12 tuổi. Trong mấy năm chạy giặc, ông tôi vẫn dạy tôi học luôn, nên bấy giờ tôi đã biết hơn trước. Đêm nay, ông tôi lại khóc, đại ý là thương cho thánh đạo suy vong và cũng rất ái ngại cho cái tương lai của con cháu.
Ông tôi nói:
‒ Hễ nước mất thì đạo cũng mất. Tây họ lấy nước mình rồi họ đem đạo của họ tới. Rày về sau, không ai còn thờ Đức Thánh nữa. Văn Miếu e rồi cũng sẽ bị phá. Lục kinh e rồi cũng sẽ bị đốt. Thi cử cũng sẽ không còn. Ôi! Thi cử mà không còn thì lũ này (chỉ tôi) mới làm sao mà ngóc đầu lên được?...
Cứ nói mỗi câu là ông tôi lại thở dài. Lúc nào cảm động quá, ông tôi khóc nức nở, nước mắt ra lênh láng. Nhưng thầy tôi thì khác, vẫn cứ tỏ ra cái thái độ thản nhiên. Sau tôi mới biết rằng, về những sự đó, thầy tôi không có đồng một ý kiến với ông tôi, nhưng vì sợ trái ý cha nên thầy tôi cứ làm thinh mà không phản đối. Cho đến sau khi loạn yên, thầy tôi “thưa đơn tòng chánh” và ra làm quan là cũng bởi cực chẳng đã mà phải vâng lời ông tôi, nếu không thì ông tôi giận.
Tôi nói đến điều trên đây để bạn đọc thấy rằng theo lối gia đình cũ của ta trong đó có một sự rất độc ác. Một người con dù có học thức thông thái đến đâu, nếu còn có cha, và nếu có ý kiến không giống với cha, là cũng phải dẹp cái học thức thông thái ấy lại. Sách dạy rằng: “Phụ tại tư vi tử”. Nghĩa là: cha còn phải giữ cái địa vị làm con. Làm con khác với làm người. Nhiều khi làm con không phải là làm người! Thành thử trước mặt những người cha có học thức, chẳng cứ cái học thức ấy thế nào, thường thường cái tư cách làm người của những người con phải bị chôn đi. Thương hại cho thầy tôi, suốt một đời ở vào cái hoàn cảnh đó!
Sau ông tôi quá vãng không mấy năm thì thầy tôi cũng quá vãng, cho nên tôi chẳng được biết nhiều về thầy tôi. Tuy vậy, tôi dò thấy thầy tôi là một người thông hiểu việc đời, có tư tưởng mới và rất không ưa cái học khoa cử. Tiếc thay, con người và tư tưởng của thầy tôi bị ông tôi phủ lên mà không bày tỏ ra được; thành thử chẳng những người ngoài, mà chính con trong nhà là tôi đây cũng toàn chịu ảnh hưởng của ông tôi mà chẳng có của thầy tôi một chút gọi là!
Trong năm Hợi, ông Hường Hiệu, thủ đảng Nghĩa hội ở Quảng Nam bị bắt giải ra Kinh, triều đình xử án chém rồi đem đầu về bêu tại Vĩnh Điện ba ngày. Những tướng tá của ông đều lần lượt ra hàng cả. Ở Quảng Nghĩa thì ông Nguyễn Thân đã cử binh ra lấy lại tỉnh, chém cử Đình, tú Tân từ năm trước kia rồi. Thế là trong xứ không còn có giặc giã gì nữa, đâu đó bình yên.
Bấy giờ trong tỉnh tôi mới bắt đầu vâng phục hiệu lệnh của vua Đồng Khánh. Vào cỡ tháng bảy, tiếp được trát quan sứ; qua năm sau, năm Mậu Tý, triều đình sẽ mở khoa thi Hương, và hai trường Bình Định - Thừa Thiên hiệp thí tại trường Thừa Thiên.
Nghe tin ấy, ông tôi mừng ra mặt, nói chuyện vui vẻ, cười luôn cả ngày. Nhiều lần, thầy tôi nhắc cho ông tôi nhớ rằng nước bị bảo hộ, tức là nước mất. Nhưng ông tôi át đi, bảo là “nói lếu”; theo ý người thì vua còn tức là nước còn, và chẳng những thế, thi cử còn tức là thánh đạo còn.
Ông tôi nằng nặc đòi đi thi để mang tôi cùng đi với, dù bấy giờ người đã gần bảy chục tuổi. Nhưng thầy tôi van lơn hoài, ông tôi mới chịu ở nhà. Thật ra thì ông tôi cũng vẫn biết cái sức học của tôi còn non nớt lắm, đi thi không có hy vọng gì, nên mới nhất định từ đây cho tôi đi học ở một trường lớn để đợi tới khóa sau.
TÚ VƯỜN
III
THẦY CỬ TÂN KHOA
Khoa hương Mậu Tý, Đồng Khánh năm thứ ba, hai trường Thừa Thiên Bình Định thi chung tại trường Thừa, gọi là “Thừa Bình hiệp thí”, lấy đỗ đến 50 cử nhân, 150 tú tài, làm cho sĩ phu rất là mãn nguyện, dư luận rất là thỏa thiếp. Họ đua nhau ca tụng ông vua mới vẽ mày vẽ mặt cho họ mà quên bẵng ông vua cũ vừa bị đày đi. Họ cũng không còn nhớ mới rồi có cơn quốc biến mà vì đó họ đã khởi nghĩa cần vương. Tôi nói thế, bởi tôi thấy trong đám họ có người năm trước ra đầu thú rồi năm sau thi đậu.
Những câu tôi vừa viết trên đây là theo cái tri thức của tôi bây giờ mà với quan sát cái tâm lý sĩ phu thuở ấy. Chứ ngay hồi đó thì tôi cũng chỉ có một tâm lý như họ mà thôi, dù rằng tôi còn nhỏ.
Tôi tuy mới 13 tuổi chớ sức học cũng đã bằng một thí sanh dôi dối. [ 2 ] Hồi bình nhật nhờ ông nội tôi đúc cho một bộ óc khoa cử rồi, nhưng chưa mấy: làm cho tôi khích thích nhất là nhân năm ấy tôi đi coi một đám rước ông cử tân khoa.
Bây giờ tôi nghĩ lại, có lẽ từ lúc có khoa cử đến giờ không có khoa nào mà những người được đỗ lấy làm sung sướng và cho đến kẻ bàng quan cũng lấy làm vinh hạnh bằng khoa Mậu Tý này. Bởi trong hai năm loạn đó, mọi người đều đã tuyệt vọng về thi cử, không ai dè sau nầy còn có sự vui mừng nầy nữa, thế mà có, cho nên người ta trầm trồ một cách lạ.
Tiện đây để tôi nhắc lại các thể lệ của các đoàn thể nghinh tiếp những người thi đỗ tân khoa cho bạn đọc nghe.
Hàng tỉnh, hàng huyện duy đối với những người đỗ đại khoa từ tấn sĩ giở lên, hoặc gặp khoa nào có trường hợp gì đặc biệt thì mới có rước. Còn các đoàn thể khác như tổng, làng, họ thì đối với các cử nhân, tú tài, đều có rước cả. Nơi nào ít có sự đỗ đạt thì tú tài cũng được coi như cử nhân hoặc còn hơn cử nhân. Đến cái thể lệ rước sơ sài hay tươm tất thì tùy nơi mà khác.
Đại khái một người đỗ cử nhân, chắc là có những tổng, làng, làng ngoại, làng vợ, họ, họ ngoại, họ vợ cũng đi rước. Ai ở làng có chia từng ấp thì thêm ấp đi rước nữa. Người nào đã đi học với nhiều thầy, có vào nhiều “đồng môn” thì trong đám rước còn có các đồng môn.
Thầy cử hoặc tú tân khoa trước khi vinh quy phải có gởi thơ hẹn ngày về cho mỗi một đoàn thể ấy. Có nơi định lệ rằng hễ không gởi thơ thì chẳng những không được rước mà sau sẽ bị “bắt vạ”. Biết ngày nhất định rồi họ kéo nhau hàng mấy trăm người, mang cơm gạo theo với đủ đồ nghi trượng mà đi đón tận nơi xa.
Những đồ nghi trượng là: cờ, hèo, trống đại, trống tiêu, gươm, thước, võng, lọng, ngựa, v.v... mà hệ trọng nhất là lá cờ “phát hoa” hoặc “tân khoa”. Đi đón xa hay gần cũng tùy nơi ở và người đậu bậc nào. Như làng tôi về phủ Điện phía tả ngạn sông Chợ Củi thì đi đón cử nhân tận Đôn Nhất, còn tú tài chỉ tới Nam Ô.
Lúc đi thì cờ cuốn lại, trống khiêng theo mà không đánh. Khi gặp người tân khoa rồi, họ mời người lên một con ngựa hoặc nằm trong một cái võng, rồi xổ trống mở cờ mà đi từ đó về đến làng.
Về đến làng, chưa về nhà vội, người ta rước ông tân khoa đi thẳng tới đình chùa, nhà thờ, văn chỉ, lạy khắp cả rồi mới về nhà. Ở nhà trần thiết các bàn thờ tổ tiên đã sẵn, ông tân khoa lạy tổ tiên rồi lạy cha mẹ nữa. Hết thảy những cái lạy ấy là để tỏ lòng mừng rỡ và tạ ơn một cách sốt dẻo; chưa kể đến sau đó còn giết trâu, giết heo cúng tế và đãi khách linh đình, lại cúng tế tới bên vợ, bên ngoại nữa.
Đám rước mà tôi đi coi năm Tý, năm tôi 13 tuổi, là đám rước ông Cử làng Thanh Quýt, cách làng tôi vài ba cây số. Ông Cử, mới ngoài 20 tuổi, người nhỏ thó, bận đồ phẩm phục ngồi trên con ngựa, trông như một đứa bé con. Phẩm phục cử nhân toàn sắc đen, cái mũ bằng vải đen mà bông chì, ngó chẳng khác con người mò hóng, thế nhưng không biết bấy giờ sao tôi thấy mà hâm mộ quá! Nhất là khi ông ta về tới nhà, người vợ khăn vành áo rộng điều lục bước ra chào, làm tôi thấy mà cảm khích làm sao! Thiên hạ đi coi đông không biết ngần nào mà kể, ai nấy đều nức nở khen ngợi. Có câu nầy là nhiều người nói hơn hết: “May phước quá chừng! Phải chi Nghĩa hội còn đến năm nay thì thôi, hết chuyện!...”.
Tuy mới 13 tuổi chớ tôi tự coi mình là người lớn. Bấy giờ xem thấy cuộc vinh quy của ông cử, tôi chẳng khác Hán Cao Tổ lúc còn hèn đi coi đạo ngự của Tần Thủy Hoàng mà khẳng khái hứa mình sẽ làm được như thế ở ngày sau!
Vì ở làng trên xã dưới lại chỗ tình nghĩa với nhau nên ngày hôm sau thì ông nội tôi thân hành đi đám cúng mừng của ông cử và cho tôi đi theo hầu. Giữa tiệc rượu, có bao nhiêu là các ông văn thân, tôi thấy ông cử thanh niên ấy bắc ghế ngồi một bên, lên giọng rất hùng hồn lưu loát mà đọc lại những bài kinh nghĩa, thi, phú trúng tuyển của mình cho ai nấy đều nghe. Có ông tú già cao hứng quá, miệng khen hay, tay cầm chén rượu mà ông tưởng uống cạn rồi, giơ lên khuyên lấy khuyên để giữa khoảng không, chẳng ngờ rượu vẫn còn, đổ ra tung toé. Tiệc xong, họ rủ nhau làm thơ, đặt câu đối mừng ông cử; và cứ được bài nào, câu nào là họ nhờ ông phê bình và giám thưởng, mà ông thì một hai khiêm nhượng chối từ. Những cái quang cảnh ấy làm cho tôi thèm thuồng hết sức, ước gì mình có ngày sẽ ở được cái vị trí của ông cử tân khoa ấy!
Nhưng, cái điều tôi trầm trồ nhất là sự sung sướng của cha ông ta. Cha ông cử chỉ là một anh học trò già, thi hoài không đậu. Hồi bình nhật làm gì mà chen hàng được với đám văn thân. Thế mà ngay hôm ấy, ông cụ cũng trương cổ lên giữa quan khách, một điều "cử tôi”, hai điều “cử tôi”, nghe oai đáo để. Tôi nghĩ lại nhà mình hai đời tú cử, nếu mình đậu như ông ấy nữa, thì ông cha mình còn được tôn lên bằng mấy cha ông ấy nữa kia!
Ở nhà ông cử về thì tôi nhất quyết xin ông tôi và thầy tôi cho tôi đi học trường ngoài. Phải có ganh đua với bạn bè thì học mới có tấn ích, tôi nghĩ như vậy. Sự thỉnh cầu của tôi quả nhiên được bề trên đồng ý.
Cách làng tôi chừng 10 cây số có ông tú, tên húy ngài là Lê Tư Cung, cũng đỗ cử nhân khoa ấy, mà kèm thêm cái vinh hạnh là có người con lớn là Lê Tổn, đỗ tú tài đồng khoa. Ông cử trước kia vẫn dạy đông học trò, cuộc vinh quy xong rồi cũng sẽ ngồi dạy nữa. Tôi sẽ là học trò ngài.
Người ta ít kêu tên ngài mà kêu là “ông cử thầy” hoặc “ông cử Nông Sơn” vì ngài ở làng Nông Sơn. Tôi nói để bạn đọc biết, ngài là thân sanh ông Lê Dư và là thầy các ông Trần Quý Cáp, Phạm Liệu, Nguyễn Bá Trác và nhiều người danh tiếng khác nữa. Duy có tôi là không danh tiếng gì, nhưng ngài cũng là thầy tôi vậy.
TÚ VƯỜN
IV
NGHE SÁCH
Ở trong một xóm cuối làng, dân cư lơ thơ, nhà ở xen với những đám ruộng thổ, một nếp nhà tranh đôi khi ở trong rừng mía rậm, ấy là nhà của thầy tôi và cũng là trường học đó.
Người nào có gia tài đáng chừng một vài ba trăm bạc, tôi tưởng người ta chắc không ở vào nơi hẻo lánh như thế. Duy thầy tôi là trang quân tử thanh bần, thiên hạ đều biết, quân trộm cướp cũng đã thấy mà chê rồi, nên dù ở đó cũng chẳng ngại chi. Còn có một lẽ nữa là cái cảnh tĩnh mịch đìu hiu lại rất lợi cho sự học.
Cái nhà ba gian hai chái, sườn bằng gỗ, rộng lòng căn. Trong nhà trừ ba gian bàn thờ và một cái buồng ở góc, còn thì liệt ván cả. Một bộ ván cao ở giữa là chỗ thầy ngồi; còn bao nhiêu ván thấp, cho học trò.
Trường học ta thuở xưa thường chia học trò làm ba hạng: đại tập, hạng làm bài cụ thể, đi thi được; trung tập, hạng mới tập làm bài; tiểu tập, hạng mới học vỡ lòng. Trường tôi học đây dạy toàn học trò lớn cả. Có một mình tôi là nhỏ hơn hết, nhưng đã biết làm bài cụ thể nên cũng cho vào đại tập.
Đây tôi nói vào những năm từ Thành Thái nguyên niên đến thất niên, là những năm mà ở trường đó có đông học trò hơn hết. Những người thường ngày đi “nghe sách” có đến một trăm rưởi, hai trăm. Còn có một hạng không đi nghe sách, chỉ tới kỳ thi tập bài, cũng có đến bảy tám chục, một trăm nữa. Vậy kể hết thảy, bấy giờ học trò trường thầy tôi tới ba trăm: mỗi kỳ bài, thầy tôi phải chấm ba trăm cái quyển, kể cũng mất công và nhọc lắm.
Ba trăm học trò đó, phần nhiều là người ở các phủ huyện khác; cũng có kẻ ở tận trong Phú Yên, Bình Định, nghe tiếng trường lớn thì tìm ra thọ giáo. Họ ở trọ những nhà trong làng và mấy làng chung quanh. Nhờ vậy mà dân cư các vùng này trở nên vui vẻ và nho nhã lắm: cứ tối lại là tiếng đọc sách vang lên, đi một khoảng lại nghe.
Lúc đó tôi trọ ở nhà một người bà con tại làng Kỳ Lam, gần ga xe hỏa bây giờ. Từ đây đến trường cũng còn đi mất vài ba cây số. Mỗi buổi sáng, đi cho kịp nghe sách, tôi phải dậy ăn cơm lúc còn đèn. Nhờ được cái mỗi ngày chỉ đi học có một buổi nên cũng đỡ vất vả.
Tiếc tôi không có tài tả cảnh như các ông Khái Hưng để tả cái cảnh một buổi nghe sách của trường này, dù vậy tôi cũng ráng hết sức làm thử xem sao.
Sáng nào cũng vậy, lúc mặt trời mọc lên được vài chặng đòn gánh, ở cửa ngõ nhà trường đã thấy tốp năm người, tốp ba người, tốp mười người, khăn đen áo dài, đi vào nối đuôi nhau như xâu cá. Trên những dãy ván liệt dài theo mấy căn nhà, những chiếc chiếu vấy mực đen sì đã trải sẵn, họ phủi cẳng ngồi lên: kẻ xếp bằng tròn, kẻ bỏ thòng chân xuống đất. Họp nhau lại từng chòm, họ nói chuyện rầm rì. Cũng có những sự đùa nghịch nữa, nhưng con mắt mỗi người phải ngó chừng luôn luôn, và không dám để tiếng cười nói hay tiếng đấm cú nhau sẩy ra đến ngoài. Một quang cảnh hòa vui mà nghiêm nghị, nó như đương chờ một sự gì quan trọng sắp xảy đến.
Trong nhà mỗi lúc người một đông thêm. Đã lâu rồi mà ngoài ngõ không còn thấy có người vào nữa. Đó là những cái hiệu báo cho cuộc nói chuyện nào cũng phải dẹp lại, cuộc đùa nghịch nào cũng không được kéo dài ra.
Thình lình có tiếng rùng rùng... rùng rung... Hằng trăm con người đương ngồi lật đật tuột xuống đất mà đứng lên; kẻ tuột không kịp lại đứng ngay trên ván: Đứng dậy làm lễ thầy, vì thầy mới vừa ở chỗ nhà cầu là nơi người thường nghỉ, đạo mạo bước lên.
Một bộ ván cao kê giữa nhà, trên ván ngổn ngang những chồng sách với một cặp gối dựa bốn lá, một cái tráp chữ nhựt sơn đen, một giỏ tích chứa nước trà nóng hổi và cái chén kiểu để trên đài. Trước ván có cái ghế “xuân ý”, trên ghế không gì khác hơn là cái nghiên son với ống bút son; và nếu giữa kỳ bài, có một chồng quyển để thường và mỗi ngày một chất thêm cao. Thầy bước lên thì ngồi đó, quay mặt ra phía ghế xuân ý, coi rất nghiêm, vì bao giờ cũng khăn đen áo rộng.
Sách giảng hằng ngày là kinh, truyện, sử, mà cứ ngày chẵn ngày lẻ đổi khác nhau. Như ngày chẵn: Kinh Thi, truyện Luận ngữ, sử Hán, thì ngày lẻ: Kinh Dịch, truyện Mạnh Tử, sử Đường. Rồi theo đó cứ luân lưu mà giảng tiếp.
Thầy ngồi yên rồi, dưới nầy một trò nào chẳng hạn, chiếu theo ngay mà mở ba cuốn sách, nhằm chỗ tiếp với hôm trước, theo thứ tự đè chồng lên nhau và đem đặt lên ghế xuân ý, trước mặt thầy.
‒ Đọc đi! ‒ Thầy truyền.
‒ Dạ!
Ai đó dạ cũng được; có khi đôi ba người hoặc đến nhiều hơn nữa dạ rập một lần. Rồi một người tốt giọng bắt đầu đọc. Đọc chậm rãi mà ngân ngợi. Được vài ba tờ, tới chỗ thầy bảo dứt thì dứt. Đến phiên thầy cắt nghĩa. Làm như thế xong quyển kinh; đến quyển truyện, quyển sử cũng lại làm như thế.