Deutsches Leben der Gegenwart

Chapter 2

Chapter 21,928 wordsPublic domain

Thương đời loạn; thương đời loạn. Chẳng qua thiên ý đành xui; Hay nỗi nhân mưu thất toán. Năm Quí Tị tháng chín, tai mới nghe Tây giáp lộng trì; Sang Giáp Ngọ tháng năm, tờ lại thấy Bắc Hà phản gián. Ngỡ như năm trước, nói vậy lại qua; Ai ngờ phen này, tưởng thôi hóa hẳn. Cửa lũy Thầy sắt mà mọt; hai mươi mốt tháng chín, bỗng đà binh pháp thẳng xông. Thành Phú - Xuân vàng mà phai; hai mươi tám tháng chạp, phút thấy điện đài vi soán. Cám thương sự nghiệp sinh sơ; Xiết nỗi Chúa tôi ly tán. Mồng bốn tháng giêng mới chạy, quân bỏ thuyền, đều lấy bạc vàng Nghìn ngày nợ nước bỏ quên, tôi bỏ Chúa, lánh vòng tên đạn. Tưởng nhiều người hưởng thủa thái bình; Đặng mấy kẻ cùng khi hoạn nạn Ăn cây nào rào cây nấy chẳng thấy ngoan dân nhà Châu; Đặng buồng nọ bỏ buồng kia, đều những Đinh công nhà Hán. Ắt khéo là kinh thảo thủa tật phong; Ắt khéo là thành thần khi bản đảng? Kia Điền thị đem về Tề địa, thế đã nghiêng hơn bảy mươi thành; Nọ Doãn Công bền giữ Tấn Dương, thành chẳng lụt còn ba tấm ván? Huống chi bảy phủ hãy còn; Trách bấy một người chẳng dạng. Son nỡ để cho phai thơ; Thiết nỡ xui cho mục khoán. Cám cảnh thay! Ao lệch vạc nghiêng, thành xiêu ngói tán. Chốn Tiêu Tương tám cảnh, chẳng còn nghe dõi ca phụng, nổi thuyền rồng; Miền cung cấm chín trùng, luống những thấy phất cờ lau, bày trận nhạn. Đoái chếch mác ghê đàng; Tưởng xót xa đòi đoạn! Nhà tôn miếu tan tành đồ trọng khí, chếch vò hương, nghiêng bát nước đổ bàn thờ; Chốn phủ tàng thâu góp của danh lam, những xanh vạc, lại đồ đồng thôi rổn rảng. Ấy xã tắc xiết chi là khưu khư. Ấy sinh dân xiết chi là đồ thán! Gẫm lẽ thiệt “hoán chủ giàn, tan con nghé” ai ngờ ta không thửa mẹ cha, Tủi thân hư “như con cá bỏ giỏ đơm” ai ngờ ta khác chưng thổ sản. Chỉ huy cờ đã về tay; Sinh sát đao cầm đằng cán. Mõ thâu đêm mấy đoàn kẻ cướp, thương hỡi thương, giàu súc tích chẳng đặng ăn. Gạo năm tiền một chén hẩm hiu, thảm bấy thảm, bạc tiền đồng thời mới bán. Lấy chi dưỡng sức cầm hơi; Luống những ngóng đầu chau trán. Nhà ở cùng cây cỏ ở, chốn thị thành bỗng hóa rừng xanh; Người ăn như chó mèo ăn, vật tấm mẳn xem bằng vàng gián. Nếu nói ra thì nước mắt nhỏ sa; Nếu kể đến thì lòng thương khôn giãn. Nhà nuôi bữa, kể hồn không kể xác, khổ não thay! cá lượng vảy, thuốc lượng điếu, củi bán cân; Chợ mua tiền, thấy tốn chẳng thấy ăn; tha thiết bấy! bánh bán lá, khoai bán xâu, cơm đóng oản. Nghĩ nào uống khát ăn thèm; Khôn bấy nằm cầu ở quán. Kẻ già yếu, thác lăn ngòi rãnh, xương trắng quận Hà Đông; Người thất thơ, đi bỏ quê hương, cỏ xanh miền Nam Giản. Nỗi ái ưu đã rối dạ rối lòng. Niềm cốt nhục cũng hết ngoan hết ngoãn. Bên giềng Bắc đói quên liêm sỉ, em vặn cánh tay anh mà ăn cướp cũng đành; Chốn làng đông đói hết nghĩa nhân, mẹ cắt miếng thịt con mà đặng ăn nào quản. Cỏ rau trăm họ sắc xanh lè; Vượn hót muôn dân hình quái đản. Giữa chợ đói nằm thắt thẻo, người rằng: ông ngày trước mới thấy dù, võng, xiêm, đai; Bên đường rách chịu xơ vơ, kẻ rằng: bà ngày xưa mới thấy xuyến, hoa, hột, noãn. Dân đời loạn lạc, từng nghe chép để trường biên; Sinh thủa hiểm nghèo, so lại hơn trong truyện vãn. Cơm cháo đắng, lấy cỏ rau làm ngọt, bòn non, non đã trọc tròi; Mắm muối không, lấy nước mặn làm ngon, múc biển, biển đà quá cạn. Thủa bình thường đói chịu đã cam; Ngày tết nhất “no” thêm quá ngán. Cửa rước chúa Xuân buồn dược dược; nào cây nêu, cây mía, những tiếng pháo tiếng đu; Bàn thờ ông vải chạnh khuâng khuâng; nào miếng bánh, miếng nem, những cơm lương cơm phạn. Chúa xa xôi có thấu chăng là; Dân loạn lạc no nao đặng chán! Nắng đã trưa, mà mù còn tối, ấy là người phải đao thương mà khô cốt sầu bi; Trời chẳng động, mà sấm cứ kêu, ấy là kẻ chịu sống cơ hàn mà u hồn ai oán. Kể sao cùng muôn việc thảm thương; Trông cho đặng mặt trời bão noãn.

Tớ nay: Sĩ ở Đông lân. Ngụ miền Nam bạn. Than rằng đã lánh gian truân; Rủi là gặp kỳ phán hoán, Số là thấy “thiên hạ hoại loạn dĩ cực” lửa hừng thảm thêm sầu; Chửa gặp thì “thánh nhân cơ hội khả vi” mưa rưới đượm mầu cứu hạn. Nói khôn cùng muôn việc thửa xưa. Thường phải tạm vài lời tự thán. Song le truyện cũ đã tra. Chép lại sách xưa để án.

Lời rằng: Đại hàn chi hậu, tất hữu dương xuân; Đại loạn chi hậu, tất hữu chí trị, Vậy có đoán rằng: Khỉ bổng con mà khóc. Gà vỡ ổ liền bay. Chó ngoảy đuôi mừng chủ. Lợn ăn no ngủ ngày.

Bây giờ đã hẳn mọi đường. Ăn năn nỗi chúa, nhớ thương vô cùng. Đắng cay, thấy ruột làm xong, Ngọt ngon kẻ nể chiều lòng thêm chua. Những người phụ chúa thờ thù, Làm nên đã mấy qui mô trong đời Quân thân ngay thảo với ai ? Đá vàng lỗ miệng chông gai trong lòng. Vách gian rằng đã cẩn phong, Mười tay đã chỉ, mười tròng đã xem. Tối tăm đã biết rằng đêm. Miễn lòng đuốc đỏ, ghi hiềm nỗi chi. Đã rằng: quân tử thế thì, Sao câu: “Phi quỉ tế chi” lại làm. Khá thương hãm nịch thân tâm, Thuyền không Thang, Võ, ai cầm vớt lên. Đánh Nam sao Bắc nỡ quên, Hay gần thời đoái, xa miền chẳng thương. Nước hao, con nước lại càng. Chờ năm nào nữa, mới sang thái bình. Than rằng biển thế mênh mênh. Bốn bề sóng gió, đỗ mình nơi nao? Dễ chiều hạn hán khát khao, Sợ hằng gặp mống, trông nào thấy mưa. Lấy ai vớt chúng dân ta? Sao người tư mục trời chưa sớm trồng. Hay là trước thử cháu rồng. Làm cho khổ tiết, mới dùng ấy chăng? Há rằng thiên ý hay răn? Hồng Mông với Hạng, còn rằng Bái Công. Xưa còn sơ cửu tiềm long. Rày đà ở ruộng, mặc lòng lăng vân. Cá tôm sau chẳng biết thân, Thấy rồng ở cạn đặng gần lại khinh. Giao long vốn giống thần linh Trong ao há dễ có tình ở lâu. Một mai cửu ngũ đương đầu, Chín trùng mưa móc, ân sâu khắp nhuần. Sá chi một lũ kiếm ăn. Cậy mình có sức hiếp dân buông tuồng. Mệnh trời nào biết tấc phân. Vin vai đã tưởng trèo lần lên cao. Xét mình tài mọn sức nao, Giống linh, báu cả cầm nào đặng vay. Xem gương Trần Thắng thì hay, Nghênh ngang nào đặng mấy ngày xưng vương. Ngàn năm dầu nhẫn chôn xương, Nỗi nhơ danh ấy như gương để đời. No say mãn tiệc thì thôi. Ngựa xe giong ruổi chưa nguôi buông tuồng. Mấy thu sao khéo uổng công. Đặng chữ gian hùng chém Quắc mà thôi. Phải chi lòng hẳn như lời. Trước sau đều hộ con trời mấy nên. Huống thêm hương lửa bén duyên Ngày sau đã hẳn con tiên cháu rồng. Một mai rối nước gỡ xong. Trên trời công nghiệp cao trồng ai phen. Muôn năm để lại tiếng khen, Bia vàng tạc đá, phỉ nguyền hay chăng ? Tiếc thay chẳng thuận đạo hằng. Nghĩa nhân lỗ miệng đãi đằng rằng khôn. Ngọn cờ chiêu chúng hương thôn. Báo danh làm chữ Hoàng Tôn bia bày. Cho nên ứng thuận lòng người. Ai đâu dám cãi mệnh trời vậy vay. Đã vâng hồng nhật trên tay. Hãy còn ở thói nước mây lăng loàn. Bây giờ đã hẳn mặt chăng ? Phấn tô trung nghĩa, mực nhằng tà gian. Làm cho thiên hạ lầm than, Tội danh biết để mấy ngàn muôn thu ? Bây giờ coi thế đã cô. Quân thần ban tối, cừu thù bữa mai. Làm vua ví chẳng mệnh trời. Nếu tranh mà đặng nhiều người cũng mơ. Xưa kia cờ đã về ta. Trong tay chẳng phất để ra tay người. Có thân thì đoái sau nầy, Chẳng ngay cùng Chúa ai ngay cùng mình. Cáo kia chớ cậy có thành. Trần Hòa dễ chống dân tình đặng đâu. An nguy còn tưởng khoe mầu. Thành cao oan nghiệp, ao sâu tội tình. Sao chẳng học phép dụng binh ? Lấy trung làm giáp, mài thành làm gươm. Nghĩa nhân trận ấy thường đàm. Giữ bền, đánh đặng, ai làm chi hơn. Cớ sao rước oán, gây hờn. Một mình khiến chống cho hơn cả trời. Mượn hồn ốc hổ cho ngươi. Vì dân bảy phủ gửi lời một thơ.

Sinh loạn vì ai trước mượn tay, Kinh doanh gã Nhạc có tài hay. Thả mồi tặc tử câu binh Bắc. Mượn lưới Hoàng Tôn bủa cõi Tây. Nếm mật ba dinh thù hãy đắng. Ăn gừng hai xứ oán còn cay. Bạo tàn sao chẳng soi gương Hạng. Nước đỏ Ô giang khó vớt thây.

Thơ thôi thảm thiết tuồng thơ, Trèo cây đương gió, ngọn cờ đương lay. Sao cho hùm nọ có vây. Đất hỡi đâu dày, trời hỡi đâu cao? Cao dày dễ có riêng sao, Phúc nào khỏi thiện, họa nào khỏi dâm ? Gẫm xem thiên mệnh nhân tâm, Chuyển hoàn sự ấy, há lầm ngưu ngư. Làm chi nên nỗi ngất ngơ. Vì dân thì phải khu trừ loài gian. Tấm lòng hương lửa chưa tàn, Lạy trời chớ phụ, xin ban mười nguyền. Một nguyền các đạo tương liên, Ba ngàn đồng đức hiệp miền Mạnh tân. Hai nguyền ứng thiên, thuận nhân. Ngôi chánh bắc thần trước lập Hoàng Tôn. Ba nguyền sĩ tuyển tài khôn. Can nghe, kế dụng, chớ mòn tấc phân. Bốn nguyền cờ dựng nghĩa nhân. Đến đâu chớ phạm của dân thu hào. Năm nguyền nghịch đảng rủ nhau, Bạo tàn thì chết theo sau thì đừng. Sáu nguyền an nghỉ Điện, Thăng. Chiêu về trăm họ, nghiệp hằng đặng lo. Bảy nguyền khử chúng tham ô, Chớ còn nổi giặc để thù muôn dân. Tám nguyền rộng bủa lưới nhân. Khắp thâu hào kiệt trong trần chớ rơi. Chín nguyền quan ải trùng khai, Mở đường thương lữ trong ngoài chầu vua, Mười nguyền đem lại đế đô, Xe thơ một mối cơ đồ muôn năm. Nguyền rồi lại vái lâm dâm. Xin cho như nguyện chớ lầm mới thiêng. Kẻo còn đeo nỗi buồn riêng. Rau ăn chưa báo, nắng hiên chưa đền. Ngõ nhờ thiên vận sớm nên. Phấn dồi đời trị, phỉ nguyền bình sinh. Trên mừng đặng Chúa thánh minh. Chầu về bốn biển, tăm kình bặt không. Thái bình mở tiệc ca hồng. Thịt no đức hóa, rượu nồng giáo văn. Nơi nơi đủ mặc no ăn Khúc ca ba áo đôi quần xênh xang. Bõ khi loạn lạc cơ hàn. Đói nằm thắt thỉu dọc đàng bơ vơ. Tấm lòng chẳng hổ ngây thơ Tưởng dung chắp vá mấy lời giải khuây. Thiết tình nào lựa câu hay, Ai xem biết đặng lòng này chớ chê. Trước sau mọi nỗi chép ghi, Coi chơi há dám tạc bia để đời.

Thể loại:Lục bát