Hán học ở bên Pháp

Part 2

Chapter 22,611 wordsPublic domain (Wikisource)

Đối với kinh Dịch, tôi thú thật rằng không hiểu. Hay là vì nó không hợp với cái tì vị của tôi hay sao, không biết. Tôi muốn hiểu nó nên đã đọc qua nhiều sách chú giải của tiên nho mà rốt lại không sách nào vừa lòng. Nhiều lần tôi đem cái sự khó khăn ấy mà phàn nàn cùng bạn tôi, tỏ ý muốn ngoại kinh Dịch ra, đừng thèm nói đến nữa mà mệt não. Song bạn tôi bảo rằng không nên, vì làm như vậy có khi tự mình ngăn lấp con đường đi đến chân lý trước mặt mình.

Về kinh Dịch, bạn tôi có một cái kiến giải rất ngộ nghĩnh, cái kiến giải vẫn còn nằm trong sự hồ nghi, cũng chưa có thể lập thành giả thuyết nữa, nhưng mà ngộ. Bạn tôi đề chừng rằng trước cái lớp văn minh này của Tàu còn một lớp văn minh nữa mà đã bị hủy hoại đi. Những lý thuyết trong kinh Dịch tức là cái tri thức của văn minh bị hủy hoại kia còn sót lại, cho nên nó mập mờ khó hiểu. Hoặc giả đến nỗi Khổng Tử không hiểu được Chu Công Văn Vương, và Chu Công Văn Vương cũng không hiểu được Phục Hy chăng. Nhưng nếu một ngày kia người ta dần dần phát kiến ra được cái dấu vết văn minh tối cổ ấy, lấy nhiều điều mà ấn chứng cho nhau, thì sẽ hiểu được kinh Dịch, chưa biết chừng.

Một lẽ như vậy; còn một lẽ nữa, bạn tôi đề chừng cho những quái và tượng trong kinh Dịch, tức là cái dấu hiệu riêng gì đó, như quẻ Kiền nói long (rồng) là ám hiệu của sự gì, quẻ Khôn nói mã (ngựa) là ám hiệu của sự gì, song những dấu hiệu ấy ngày sau mất đi, thành ra không hiểu được. Bạn tôi dám ngờ sách ấy phỏng chừng như cái chương trình của hội kín đời nay mà viết ra bằng ám hiệu. Ngờ như thế là bởi sách ấy hết một phần lớn của Văn Vương và Khổng Tử, mà hai vị nầy đều là tay, theo địa vị và thời thế, có thể làm cách mạng được.

Bạn tôi nói người Nhật kia, về kinh Dịch, có phần nhiều ý kiến giống như mình, mà bạn tôi đã đem nói cùng tôi, có lẽ tức là cái ý kiến tôi giới thiệu ra trên đây. Nói người Nhật đã kiếm được nhiều cái ngộ lắm, tức là chỉ về những chứng cứ. Nguy lắm thay, kiếm được chứng cớ cho đủ lập cái ý kiến ấy thành ra giả thuyết (hypothèse) cũng đã không phải dễ, tôi chỉ sợ không khéo lại đâm ra xuyên tạc !

Một đoạn mà bạn tôi phê bình về sự tự phụ và cách học vấn của người Nhật đó thật là chơn xác lắm, tôi rất lấy làm biểu đồng tình cùng bạn tôi.

Cái gì mình không hiểu mà dám buông lời phê bình, ấy thật là nguy hiểm. Cái hay của kẻ khác, mình không nhận thấy và không phục tình, cũng lại là nguy hiểm nữa.

Thơ trước tôi có nói tôi muốn khảo cứu về kinh Xuân Thu, nay xem trong thư viện, thấy nhiều sách về vấn đề kinh Xuân Thu lắm. Những sách Tàu nhiều bản có chú thích, đến bốn năm bộ; sách dịch có hai bản : Một của người Anh là Legge, một của người Pháp, Couvreur. Người ta cãi nhau về sự chân giả sách ấy cũng nhiều, như người Anh Karlgren có viết một đoạn sách cho là ngụy thư, Hồ Thích có trả lời và dịch cả đoạn sách ấy in thành một bản, tên đề là Tả truyện chơn ngụy khảo đã đăng trong tạp chí Tân nguyệt. Tôi chạy nó mà thôi, để dành vài mươi năm nữa mới dám nói tới.

Anh nói sẽ gởi cho tôi bộ Đạo đức kinh có chú thích tốt, anh hãy thong thả sẽ gởi cũng được, vì tôi chưa cần; và ở thư viện cũng có rồi, lúc nào có giảng đến sách ấy, tôi lại thư viện coi cũng được. Còn sách lịch sử triết học Trung Hoa thì sách Tàu ở đây có đủ cả. Từ sang đến đất này, mắt được coi tay được mó tới nhiều sách Tây sách Tàu vừa lạ vừa có ích mà sướng quá, bây giờ không xu mà mua đủ, hẳn rồi; chỉ ước ao lúc về nước ta có được khá tiền mà lập cho mình một cái kho sách để dùng, thì mới thỏa chí !

Về vấn đề sách Xuân thu chân giả mà bạn tôi nói đó tức là nói riêng về sách Tả truyện cho nên Hồ Thích mới có sách Tả truyện chân ngụy khảo, nhưng sách này thì tôi chưa được thấy.

Sách Xuân thu, nói là nguyên văn của sử của nước Lỗ mà Khổng Tử sửa sang lại, thành ra kinh chớ không phải là sử nữa. Kinh Xuân thu, nếu để trần trụi một mình nó thì khéo mà thành ra một quyển sách độc lập. Bởi vì chép truyện vắn tắt quá, phải có Tả truyện nữa thì đầu đuôi mỗi truyện mới rõ ràng. Nhơn đó hậu nho mới có chỗ phát nghi.

Lại phải biết thêm rằng Xuân thu là kinh mà có ba thứ truyện phụ theo, là Tả truyện, Công dương truyện và Cốc lương truyện. Xuân thu có chia ra sự và lệ. Sự là việc đã chép trong đó; còn lệ là cái phép tắc biên chép của kinh ấy. Muốn biết việc đầu đuôi của Xuân thu thế nào, phải xem Tả truyện; muốn biết phép tắc biên chép của nó, phải xem Công dương và Cốc lương. Như vậy thì đức Khổng Tử tu kinh Xuân thu ra làm chi, tu ra làm chi mà nếu để một mình nó, có lẽ người ta không hiểu được, thì chẳng là vô ích? Do đó mà thành ra vấn đề.

Ngoài Công dương và Cốc lương ra, chỉ nói riêng về Tả truyện. Họ Tả ấy, có người cho là Tả Khâu Minh, học trò đức Khổng; có người nói không phải. Song phần nhiều nhận là người đồng thời với Khổng Tử, hoặc ở sau ngài không bao xa.

Nhưng cứ như văn Tả truyện thì là hoa mỹ lắm, khác hẳn với giọng văn hồi đời Khổng Tử. Bởi đó sanh ra nghi đoan [ 10 ] , có kẻ cho là sách ngụy, họ nói là của người đời sau làm ra chớ không phải của Tả Khâu Minh, người đời Xuân thu.

Về các thuyết tranh biên với nhau trong vấn đề này tôi không nhớ rành rẽ lắm. Tôi chỉ nhớ đại khái mấy lời của Viên Mai (tức Tùy Viên), một nhà văn học đời Thanh.

Viên Mai rất lấy làm nghi ngờ về chỗ Xuân thu và Tả truyện quan hệ với nhau. Về Xuân thu, ông ta lấy làm lạ rằng sao thánh nhân biên chép sơ lược quá, mỗi một việc chỉ có mười lăm hai mươi chữ là nhiều, thậm chí ngắn quá chỉ có một vài chữ. Thế thì hồi đó ngài làm kinh, còn ngài bảo Tả thị làm truyện hay sao? Chỉ có vậy mới được. Chớ không lẽ nào ông thánh nói ra chỉ ngắn thon lỏn một câu một lời, không tới đầu tới đuôi chi hết, mà lại tự phụ cho là mình làm sách !

Thử kể một bài đầu kinh Xuân thu chỉ có một câu rằng : Trịnh bá khắc Đoạn vu Yển. Một câu ấy mà Tả thị kể ra chuyện rất dài, dài gấp trăm lần kinh văn. Nếu không có Tả truyện thì trịnh là gì? bá là gì? khắc là thế nào? đoạn là ai? yển là ở đâu? có ma nào mà biết được !

Thế thì chỉ có Tả thị là người đồng thời với Khổng Tử, hoặc chính là học trò ngài, thừa mạng ngài mà làm công việc ấy mới được. Mà như đã vậy thì sao văn Tả truyện lại riêng ra một lối, khác hẳn với văn Luận ngữ, sách bởi học trò cửa Khổng chép ra?

Tôi chưa thấy ai giải quyết vấn đề này cho xong. Tiếc chưa được đọc sách của Hồ Thích, tôi không biết ý kiến của một vị học giả đời nay đối với vấn đề ấy thế nào.

Dầu thế nào mặc lòng, đối với kinh Xuân thu tôi còn ngã lòng hơn kinh Dịch nữa. Tôi thấy người ta bảo rằng trong đó có nhiều những vi ngôn đại nghĩa [ 11 ] , song cái đó chẳng qua người đời sau vẽ vời thêm ra, muốn gì đó thì muốn, nào có ai cấm ! Chớ bỏ hết tam truyện đi, bỏ hết chú sớ của hậu nho đi, đem một mình kinh Xuân thu trần trụi ra mà xem thì nào ai thấy được trong đó có cái gì? Lấy chứng cớ nào mà dám nói những vi ngôn đại nghĩa ấy là của Khổng Tử?

Ai có đọc sách Sử thông của Lưu Tri Ky, sẽ thấy trong đó họ Lưu trích ra nhiều cái lệ trong Xuân thu trái nhau, trái nhau đến nỗi không thể nào cắt nghĩa cho xuôi được. Tiếc thay bộ sách phê bình rất có giá trị nầy bị cái thế lực Tống nho dìm đi, thành ra những kẻ nhắm mắt theo thánh hiền cũng không có dịp được thấy những lời chỉ trích ấy, đáng tội nghiệp cho họ !

ừ mà cho Xuân thu có vi ngôn đại nghĩa đi, cho những vi ngôn đại nghĩa ấy là sản sanh từ đức Khổng đi, song đem dùng ra thời đại này không hợp nữa thì cũng chẳng còn giá trị gì. Những là nội Trung Quốc, ngoại di địch, những là quý vương tiện bá, thật không còn ăn chịu với cái tỳ vị của thế giới nầy nữa, thì nên bó nó mà chất lên gác cao kia, còn nghiên cứu làm chi vô ích. Có thời giờ dư cũng nên đọc hết thảy qua một bận cho biết nó là vậy đó mà thôi. ấy là lời tôi nhắn nhủ bạn tôi.

Nói đến sự sắm sách thì thật là chuyện trời thèm. Hơn mười năm nay, tôi nhín nhịn mua được non bốn trăm đồng bạc sách mà chất không đầy một tủ. Cho nên ở đời nay mà muốn học rộng, không thể nào không chạy theo sau đít cái tư bản chủ nghĩa được !

Tôi thường hay đọc những tiểu thuyết Tàu, như Tây du, Phong thần, Thủy hử, không phải là vì có tánh con nít, ưa chuyện hoang đường, mà vì có ý muốn kiếm những tư tưởng lạ dấu trong đó, vẫn có ý phiền vì không rõ tác giả những sách đó và viết về thời nào? Mới đây được coi cuốn sách Trung Quốc tiểu thuyết sử lược của Lỗ Tấn, lấy làm khoái lắm. Như truyện Phong thần là ngụ ý ở lễ phong thiện mà ra. Lại vừa nhắm lúc tôi đọc Sử ký Tư Mã Thiên, bản dịch đối chiếu với nguyên bản, có đoạn nói về lễ đó. Sách của cha con họ Tư Mã thật có ích cho đời, chẳng những về đường lịch sử, cả về đường học vấn tư tưởng từ trước đến đời Hán, nước Tàu có những gì, đại khái có tóm lược vào trong sách đó hết. Đọc nó có thể thay cho đọc nhiều sách khác. Họ Tư Mã khuynh hướng về Đạo, cái đó cũng hơi lạ.

Nói chuyện học vấn với anh thì bao giờ cho hết ! Tôi cũng muốn viết cẩn thận cho thư có đầu đuôi, song mắc bận học, không đủ thời giờ; hai nữa nói đáng tội, tôi còn đương nhai nuốt, chớ chưa tiêu hóa kịp; huống nữa là sanh con !

Nay thơ

Thôi, về đoạn nầy không có gì quan hệ lắm, tôi xin giảm lời bàn phụ đi mà viết ít câu kết luận cho bài này.

ở đây tôi nên tỏ cho độc giả biết cái bổn ý ấy không phải ở đây mà ở trên đầu bài kia.

Trên đầu bài, tôi chia Hán học ra làm hai, là cái học nghĩa lý và cái học từ chương khoa cử. Kế đó chỉ rõ ra cái Hán học của ta hồi trước thiên về một mặt từ chương khoa cử chớ không biết đến nghĩa lý. Vì vậy mà đến lúc hết khoa cử rồi thì hết học, trình bày ra cái vẻ điêu tàn đồi phế như ngày nay.

Trong đoạn đó tôi dùng đôi lời hơi phẫn khích, chắc có người thấy mà lấy làm bất mãn. Song xin hãy lượng thứ cho tôi. Đối với người đã qua, việc đã qua, tôi không có ý hà trách làm gì. Nói như vậy là chỉ có ý làm cho cảnh tỉnh kẻ học đương thời, chớ có hững hờ mà noi theo dấu xe đã úp.

Hiện ngày nay Tây học cũng chia làm hai như vậy, một cũng là cái học nghĩa lý; một nữa lại là cái học kiếm cơm. Nếu ngày nay ta chỉ chuyên theo cái học kiếm cơm thì nó cũng sẽ di họa cho ta như cái học từ chương khoa cử ngày xưa vậy.

Rày về sau thế nào trong nước ta cũng phải có một bọn người cả đời chỉ chuyên lo một việc học mà không biết đến việc chi hết, thế thì họa may nước mới khá ra. Không nên bắt phải kể bọn ấy sẽ dùng ra việc gì. Chỉ biết rằng phàm nước nào lập quốc vững vàng được đều phải nhờ có bọn ấy thì ta đây cũng phải có.

Nếu đôi trăm năm nữa mà cái tinh túy của Tây học không tìm thấy được trong xứ nầy cũng như Hán học ngày nay, thì cái lỗi ấy đổ vào mình chúng ta.

Phan Khôi

   

Chú thích

- ▲ Tăng Quốc Phiên (1811-72) học giả, quan chức triều Thanh, tự coi mình là người kế thừa đạo thống Khổng Mạnh, bảo vệ cương thường luân lý quân chủ; Nguyễn Nguyên (1764-1848), nhà kinh học, quan chức triều Thanh (theo Từ điển Nho Phật Đạo (bản dịch), Hà Nội : 2001)

- ▲ Chấm câu, nghĩa là làm việc gì mà làm cách cẩu thả, làm cho có làm, cũng như bài văn chỉ chấm câu mà không khuyên điểm (nguyên chú của Phan Khôi)

- ▲ Tòng chánh (hay tòng chính ) : ra làm quan (theo Đào Duy Anh)

- ▲ Tác giả bức thư này là Nguyễn Pho, từng học trường Bưởi cùng lớp với Hoàng Ngọc Phách, Tú Mỡ…; về sau làm việc ở Viện Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội rồi du học Pháp (Xem: Lê Thanh - Cuộc phỏng vấn các nhà văn , Hà Nội : Nxb. Đời Mới, 1943, tr.94, 98, 136)

- ▲ Các chỗ này báo rách, mỗi chỗ mất 1 từ

- ▲ Chỗ này báo rách, mất 1 từ

- ▲ Ở bản gốc là : "… mấy ông B. ", có thể có lỗi in; ở đây tạm sửa

- ▲ Từ ý khí ở bản gốc có gạch nối, tức là một từ 2 âm tiết, nhưng nếu hàm nghĩa " ý khí " là " khí khái " (theo Đào Duy Anh) thì chưa rõ ý

- ▲ Tiếng Pháp trong bản gốc : temps des verbes  : thời của động từ; l'emploi des temps  : cách dùng thời (của động từ)

- ▲ Bản gốc là " nghi đoàn ", không rõ nghĩa; ở đây sửa là " nghi đoan " tức là mối nghi

- ▲ " Vi ngôn đại nghĩa " : lời ít nhưng hàm nghĩa sâu sắc (theo Nguyễn Văn Khang và v.v. : Từ điển thành ngữ tục ngữ Hoa-Việt , Hà Nội : Nxb. KHXH, 1998)