Dương Từ - Hà Mậu

Part 3

Chapter 35,147 wordsPublic domain (Wikisource)

Phút đâu trên chốn tây lầu, Nổ ba tiếng sấm, nhóm chầu các cung. Áo, xiêm, đai, mão, lạnh lùng! Tinh quân các vị rùng rùng tới nơi, Hai người đứng nép coi chơi, Những người chầu chực nhà trời là ai? Thấy đi có tấm thẻ bài, Đề rằng "Khổng tử Đại Tài Thánh Vương". Ngồi trong kiệu ngọc, tàn vàng, Một ông Khổng tử dung nhan tốt lành. Theo sau biết mấy thần linh, Coi trong thẻ bạc, đề danh Đại Hiền, Dương Từ coi thẻ khen liền: Hèn chi vua chúa chính chuyên miếu thờ. Cho hay muôn nước đều nhờ, Đạo ông Khổng Tử làm bờ chăn dân. Trong đời biết chữ nhân luân, Biết đường trị loạn, muôn phần nhờ ai? Nhớ câu "kế vạng khai lai", Thật ông Khổng tử đại tài thánh vương. Đâu đâu cũng kính, cũng nhường, Môn đồ cũng đặng hiển dương muôn đời. Như vầy mới gọi đạo trời, Trời sanh đức thánh thay lời dạy dân. Dương Từ vừa dứt tiếng phân, Phút đâu lại thấy vị thần đi sau. Một người cỡi ngựa, tốt râu, Đến gần nhìn thật Quan Hầu thuở xưa. Vội vàng quỳ lạy, liền thưa: Mừng nay gặp Phật, khác xưa cõi phàm. Nam mô hai chữ già lam, Xin thương bần sãi ở am chầy ngày! Quan Hầu cỡi ngựa đi ngay, Châu Thương đứng lại tỏ bày căn duyên. Hỏi rằng: Người ở cửa thiền, Việc chi tới chốn huyền thiên làm gì? Từ rằng: Ông vội quên đi, Am mây bần sãi tu trì nhiều công. Nhang đèn, liền đốt bàn ông, Nay làm ra Phật sao không đoái hoài? Châu Thương nổi sặc cười dài, Nói rằng: Thần, Phật, khác loài nhau xa. Quan Hầu vốn thật chúa ta, Tấm lòng trung chánh ai mà dám đương! Tiếng khen muôn nước đều nhường. Trời phong làm chức Thành Hoàng Đại Vương. Từ rằng: Ông thật Thành Hoàng, Ở trong chùa ấy thờ ông Quan nào? Đáp rằng: Vì thuở Hán trào, Có ông Phổ Tịnh kết giao đồng làng. Chúa ta hiển thánh ngọc hoàng, Hòa thượng lòng nhớ, thở than bạn lành. Già lam hai chữ thơm danh, Mới đặt bài vị tụng kinh siêu hồn. Khiến nên thiên hạ tiếng đồn, Vẽ hình, tượng cốt, nhiều môn phù đồ. Chúa ta chẳng phải đi tu, Trong mình giữ vẹn tóc râu tốt lành. Nói cho sãi rõ sự tình, Nhắm coi Thần, Phật, hai hình khác nhau. Nói rồi quày ngựa đi mau, Dương Từ lơ láo, dàu dàu mày châu. Than rằng: Sự dĩ đáo đầu, Biết khôn thôi đã tóc râu hết rồi! Xiết bao chịu nỗi khúc nôi, Đến nay mới biết lầm ôi! Là lầm! Nhớ lời đại sĩ Tây lâm, Chúa le trong dạ, hổ thầm với va, Chín trời nay khắp trải qua, Giờ về đã tới từ ra trở về, Hoàng cân Lực sĩ đề huề, Dương Từ, Hà Mậu, ra về chưa xa. Ra về khỏi bến Ngân hà, Gặp ông Thái ất tuần tra đón đường. Lăm le bắt trót hai chàng, Tuốt gươm linh kiếm phòng toan chém đầu. Hoàng cân Lực sĩ quỳ tâu, Tín bài có chữ, xin cầu khoan dung. Thái Ất coi tín bài xong, Cười rằng: Lũ dại khéo mong lên trời. Trời đâu cho sãi lên chơi, Cho quân tả đạo tới nơi dòm hành! Lão Nhan là vị tiên linh, Há không rõ đặng sự tình Phong đô? Phong đô cõi ấy ra vô, Nhóm nhau những đạo tăng đồ thiếu ai. Tha bây về động Thiên thai, Thưa cùng Từ Thất vẽ bày Phong đô. Bày rồi hai chữ Phong đô. Kíp đi, chẳng khứng nói phô rõ ràng. Hoàng cân Lực sĩ vội vàng, Kíp đem hai họ về đàng Đài dương. Thứ nầy đến thứ sư đường, Lão Nhan ngồi chốn Đài dương đợi chờ. Đánh tay đã đủ chín giờ, Đốt bùa, niệm chú, như xưa hoàn hồn. Dương Từ, Hà Mậu hoàn hồn, Giựt mình thức dậy, thấy Tôn sư ngồi. Hai người tỉnh lại hỡi ôi! Vội vàng xuống lạy một hồi tạ ân. Tôn sư đứng dậy lui chân, Trở về hậu viện dưỡng thần thảnh thơi. Hỏi rằng: Hai gã lên trời, Tầm đà thấy đạo ở nơi cửa nào? Thưa rằng: Chẳng có âm hao, Cũng không tông tích nơi nao đặng tường. Cho hay chín cõi thiên đường, Ngôi thần, ngôi thánh, phô trương đã rành. Hai tôi có gặp thần linh, Rằng Tôn sư rõ sự tình Phong đô. Vẽ rồi hai chữ Phong đô, Kíp đi không khứng nói pho rõ ràng. Hai tôi nghe nói chưa tường, Xui thầy chỉ vẽ mọi đường Phong đô. Sư rằng: Nơi chốn Phong đô, Cầm cân phước tội, trị đồ hung hoang. Tục kêu rằng chốn Diêm quan, Ở miền âm phủ sửa sang việc đời. Hai người trước đã lên trời, Nay tìm xuống đất mỏm hơi, nhọc mình Thưa rằng: Rõ đặng sự tình, Dầu cho nhắm mắt, vong linh cũng đành, Xin thầy thương kẻ ngu sanh, Mở đường chỉ ngõ, hết tình thời thôi. Tôn sư nghe nói thương ôi! Đem hai họ ấy đến ngôi Dương đài. Trong đài có tấm bia bài. Đề câu "Địa quật hữu giai" rõ ràng. Dưới đài có một cái hang, Dòm vào lạnh lẽo, thấy đàng tối tăm. Dương Từ, Hà Mậu lo thầm, Phen này xuống đất nguyện tầm cho ra. Bên hang có tấm đá hoa, Khảm vào bốn chữ "Nam kha mộng sàng". Hai người lên đá nằm an. Tôn sư làm phép ròng ban như lời. Tạo Y quỷ sứ một người, Cấp như luật định tới nơi ứng hầu. Dặn rằng: Chớ khá ở lâu, Mười giờ đi hết, đem nhau trở về. Ban cho một cái thẻ đề, Cầm đi các cửa đặng bề đi thông. Tôn sư dặn bảo vừa xong, Tạo Y quỷ sứ ra công đem đàng. Dương Từ, Hà Mậu hai chàng, Đi theo tên ấy xuống đàng âm ty. Xuống vừa tới cõi âm ty, Mặt nhìn cảnh vật khác thì nhân gian. Mơ màng một cõi quan san, Mây sầu gió thảm chàng ràng trêu ngươi. Tạo Y trước dặn hai người, Đàng đi âm phủ nhiều loài yêu ma, Tay chơn mình mẩy người ta, Đầu trâu mặt ngựa, tên là Dạ Xoa Dạ Xoa giữ việc gian tà, Người nào mắc tội cho tra hành hình. Có quân ngăn đón lộ trình, Tên là quỷ Tốt cái hình lạ thay! Sớm đầu, vắn cẳng, dài tay, Xủ tai, lồi mắt, mũi dài, răng to. Cho hay nó thật hung đồ. Thấy sao hay vậy, chó phô hỏi gì. Có ta vâng lệnh đem đi, Lòng nghi muốn hỏi việc gì, nói cho, Phút đâu đi đến bến đò, Bến đò đưa rước chẳng lo tốn tiền, Bài đề hai chữ "Hoàng Tuyền", Người qua, kẻ lại, liền liền ngày đêm, Người kêu "chín suối Cẩm diêm". Chín kia số hết suối thêm đò đầy. Qua vừa khỏi bến đò nầy, Thấy bầy chó dữ ngăn rày đường đi. Xa xem vằn vện đen sì, Hằm hằm đứng sủa dị kỳ rất hung, Bên đường có thẻ bài phong, Chữ cấm ba vòng rằng Ác Cẩu Thôn. Có quân quỷ tốt đường mòn, Người đi qua lại, ỷ khôn dám kề. Tạo Y đưa cái thẻ đề, Đem nhau tới đặng một bề đi xuôi. Vừa đi vừa ghé mắt coi, Thấy quân quỷ tốt giơ roi đánh người, Dẫn ra một lũ vài mươi, Kêu là thầy pháp dối người thế gian. Người đau chẳng dụng thuốc thang, Lòng tham tiền bạc bày đàn chữa chuyên, Khoe khoang nhiều phép linh thiêng, Phỉnh treo trang khoáng ăn tiền đứa ngu. Bày đều đóng ấn vẽ phù, Láo sai binh tướng bắt tù Diêm vương. Nhà dân cúng đất lệ thường, Dám kêu tên Đế ngũ phương ngán ngầm. Làm cho người mắc lỗi lầm, Ấy là loạn đạo tội dầm ngày sau. Để bầy chó dữ đua nhau, Xé thây lũ ấy nhai đầu ăn gan. Hai người coi thấy liền than, Đi qua khỏi cửa hỏi chàng Tạo Y, Hỏi rằng: Thầy pháp tội chi? Cho bầy chó dữ một khi hành hình, Đáp rằng: thầy pháp nó khinh Dối trong trời đất chư linh chẳng vì. Đời xưa phép luật ai bì, Trừ ma ếm quỷ, việc gì cũng hay. Lão quân mất sách đến nay Đời sau bắt chước liền bày phép xiên. Nói rồi vội vã đi liền, Khỏi nơi Ác cẩu gần miền Đạo san. Đạo san địa phủ chữ vàng, Bài dựng bên đàng ai thấy cũng kinh. Núi non đá mọc như binh, Bày ra sắc lẻm như hình phủ đao, Có quân quỷ tốt lao xao, Đón đường tra hỏi, ai nào dám qua, Tạo Y đưa cái thẻ ra, Đi qua cửa khác liếc mà xem coi, Thấy quân quỷ tốt cầm roi, Dẫn thầy địa lý hỏi đòi chứng tra. Tra rồi dẫn các thầy ra, Kể bao nhiêu tội cho va nghe cùng. Nhà ai rủi mắc tang hung, Phỉnh đi coi đất đặng mong ăn tiền. Khoe khoang rằng học phép tiên, Tầm long điểm huyệt chôn liền giàu sang, Ai mà chẳng dụng địa bàn, Chôn nhằm cuộc xấu, ắt mang tai trời. Lấy câu phú quý dắt người, Bày nơi ngũ quỷ, chỉ nơi lục thần. Khiến cho thói chuộng lăng nhăng, Coi thân cha mẹ rẻ bằng cỏ tranh. Người thời ham chữ công danh, Thác không mai táng, để dành thầy toan. Người thầy ham việc giàu sang, Nghe theo thầy tục để quàn lâu năm. Nghĩ điều hoặc thế mà câm, Tội kia đã đáng thây dầm Đạo san. Dạ xoa đứng dưới Đạo san, Bắt thầy địa lý quăng ngang trên hình, Hai người coi thấy thất kinh, Quăng lên lăn xuống, thân hình còn chi? Hai người mắt thấy tai bi, Mang lời đều hỏi Tạo y vội vàng: Chẳng hay phong thủy mấy chàng, Tội chi mắc phải Đạo san hành hình? Đáp rằng: trong số tử sanh, Là trời dành để, ai dành đặng đâu. Từ xưa vua Vũ làm đầu, Phép bày địa lý để âu trị đời. Đến sau phong thủy các nơi, Học đòi coi quẻ, đua bơi tài nghề, Bày ra làm sách không xuê, Ngũ phương định hướng, làm bề vọng khi. Đua nhau cải số trời đi, Khiến người tai nạn, gian nguy một dòng. Nói rồi dời bước thẳng xông. Dương Từ, Hà Mậu ra công hỏi tìm. Đi vừa đến bến sông Diêm, Thấy cái cầu chìm, không lót ván đi. Bắc ngang qua một cái cây, Dưới cầu những rắn hổ mây, mãng xà. Có mồng, có tích, như hoa, Ngóc đầu, ngóc cổ, lội ra dập dìu. Bài đề là "Nại hà Kiều", Ai mà có phước thời dìu dắt qua. Ai mà có tội đem ra, Quỷ xô xuống đó, mảng xà cắn thây. Có quân quỷ tốt đông dầy, Đón người qua lại cầu này hỏi tra. Tạo Y đưa cái thẻ ra, Quỷ đều vâng lịnh dắt qua khỏi cầu. Dạ Xoa chẳng biết ở đâu, Dẫn ra một lũ trọc đầu đem đi. Dương Từ trông thấy lòng nghi, Khuyên nhau chậm bước đặng khi xem tường. Bốn phương thầy sãi rõ ràng, Cổ gông, tay trói, lang thang áo quần. Quỷ đi cầm thẻ rao rân, Nói rằng thầy sãi sao thân điếm đàng. Kể từ sống ở dương gian, Sợ xâu, trốn thuế, tìm đàng đi tu; Vô chùa làm chước cạo đầu, Trốn vua theo Phật, trông cầu rảnh tay, Ghe phen cúng vái làm chay, Liền ngồi chẩn tế đặt bày việc ra. Cho đi phổ khuyến người ta, Bán rao tiếng Phật khắp nhà chúng sanh. Bày đường nói kệ, nói kinh, Mõ chuông cửa Phật rập rình ra vô. Miệng thời niệm chữ Nam mô, Mắt xem gắm ghé mấy cô đi chùa. Áo cơm khỏi tốn tiền mua, No lòng ấm cật lại đua thói xằng. Tham câu sắc dục ai bằng, Lòng lang dạ cáo, lăng nhăng trọn đời. Khi buồn cô vãi đỡ chơi, Khi vui vợ khách, cùng nơi thanh lầu. Chẳng trừ thịt chó, thịt trâu, Trối thây giới cấm! Mặc dầu no say. Ngoài am giả chước ăn chay, Trong liêu rượu thịt ngày ngày liền xơi. Ở đời lại quyết dối đời, Trong mình chẳng sợ lẽ trời là chi. Phui pha hai chữ luân di. Một câu trung hiếu bỏ đi chẳng màng. Đến nay thác xuống suối vàng, Án tào sáng chép tội chàng khó nhiêu Tra rồi đem tới Hà kiều, Xô cho loài rắn xúm nhiều ăn thây. Tiếng nghe la khóc vang dầy, Dưới cầu sóng giợn, huyết đầy sông Diêm. Dương Từ khó nỗi mắt xem, Rằng: Ta còn phải đi tìm làm chi. Thấy vầy cũng biết thị phi, Đã đành trót phận quy y lầm đàng. Xưa xem trong miễu họ Hàn. Dẫn ra đi chém xem giàn như đây! Tiếc công tu luyện nhiều ngày, Bỏ nhà bỏ cửa tới đây mới tường. Thôi thôi từ giã hai chàng, Ta xin trở lại tìm đàng cố hương. Tạo Y nghe nói liền can, Rằng: Người muốn ở suối vàng ngẩn ngơ. Thẻ cho đi trọn mười giờ, Đây chưa đặng nửa, khó mơ trở về. Họ Hà thấy nói ủ ê, Rằng: Xin gắn vó trọn bề thủy chung. Gượng đi tìm khắp các cung, Vậy sau mới biết đạo tùng mà theo. Chuông kia chẳng đánh sao kêu, Đèn kia muốn tỏ, không khêu cũng lờ. Dương Từ nghe phải, làm ngơ, Gắng đi theo dõi trọn giờ cùng nhau. Xiết bao mặt ủ mày châu, Nghĩ trong phận sãi ruột sầu xót xa. Đi vừa một đỗi xa xa, Phút đâu bãi cát Hoàng sa gần kề. "Hoàng sa" hai chữ bảng đề, Mắt nhìn cảnh vật não nề, thở than! Dàu dàu cỏ héo, hoa tàn, Xơ rơ trên bãi cát vàng, buồn thay! Gió âm hiu hắt lá cây, Mưa tuôn bạc bạc, bóng mây mờ mờ. Khắp xem bốn phía bụi bờ, Éo le cảnh vật, dật dờ ở đây. Nào hay làng xóm đông dầy, Có nơi chợ búa, có bầy người ta. Kêu tên rằng chợ âm la, Người buôn, kẻ bán, cửa nhà rất đông. Họ Hà chưa hẳn tấm lòng, Hỏi: Sao âm phủ thói đồng dương gian? Tạo Y tỏ vẻ mọi đàng, Dương gian âm phủ, cơ quan cũng đồng. Khác là khác việc hóa công, Cõi bờ chữ "hạ", chữ "trung" rõ ràng. Sanh, thời ở cảnh dương gian, Thác, về âm phủ là đàng xưa nay. Họ Hà nghe nói rõ bày, Hỏi thăm dòng họ chốn nầy chưa ra, Đi vừa khỏi bãi Hoàng sa, Tới nơi cửa ải thấy đà nên kinh. Cho hay dưới cõi u minh, Rất nhiều âm tướng, âm binh, nhộn nhàng. Bài đề rằng "Quỷ Môn Quan", Vô ra biết mấy mươi đàn tội nhân. Người thời mắc tội vô luân, Kẻ thời vô đạo, rần rần dẫn ra. Lũ kia con gái đàn bà, Đàn nầy trai tráng, ông già, xiết bao. Chẳng hay dẫn tới ngục nào? Nghe quân quỷ tốt miệng rao thẻ rằng: Dương gian nhiều kẻ tham nhăng, Trong nhà giàu có lòng hằng bất nhân. Cho vay đặt nợ muôn phần, Lợi trung gia lợi, khổ thân nhà nghèo. Không tiền lại bắt về treo, Khiến làm đầy tớ, ở theo việc nhà. Gông cùm, trăng trói, dẫn ra, Lăng xăng lũ bảy, đàn ba chật đàng. Kia là thơ lại nhà quan, Chuộng bề xảo trá, khoe khoang hơn người. Trau giồi đao bút cho tươi, Án sanh làm tử, cất mươi xàng xàng Dắt người vào tội thác ngang, Ham ăn của cải cho sang cửa nhà. Nầy là công, cổ, chư gia, Đều tham chữ "lợi", lại hòa chữ "gian". Lợi, gian, hai chữ dấy loàn, Nhà buôn, nhà bán, mắc nàn đã ưng. Thấy vầy nên dửng dừng dưng, Ở đừng vô đạo, cũng đừng vô luân. Đã làm vào tội bất nhân, Dầu cho muôn kiếp, cái thân ra gì? Tạo Y cầm cái thẻ đi, Qua rồi cửa quỷ, kịp khi đến thành. Bài đề rằng "Uổng Tử Thành", Ở trong rực rỡ cung đình nghiêm trang. Đền son, gác tía lầu vàng, Hẳn hòi để chốn Diêm quan trị vì. Các nơi chúa ngục, âm trì, Đến nơi chầu chực, án từ phán ra. Tội nào đoán quyết, cho ra hành hình. Biết bao nhiêu phạm tội tình, Thác oan uổng tử, vong linh dật dờ. Hồn thời mượn chúng đại thơ Hồn thời đội trạng, đội tờ giấy không. Đàn bà cho tới đàn ông, Đem nhau quỳ chốn sân rồng thiếu chi. Trâu, dê, heo chó đều đi, Mồm thời cắn trạng vào quỳ Diêm quan. Mới hay vật cũng chịu oan, Thác không đáng thác, xương tan thịt lìa. Hai người quỷ sứ đứng kề, Kẻ thâu đơn trạng, người thì kêu rao. Hai người chưa rõ lẽ nào, Đem nhau tới chốn Án tào coi chơi. Thấy quân quỷ sứ ba người, Dẫn tới một người chưa biết tội chi. Ở đời làm nghiệp thế y Chú ruột Châu Kỳ, tên gọi Châu Phan. Họ Hà nhìn thấy rõ ràng, Hỏi rằng sao chú lầm đàng nơi đây? Đáp rằng: Mang tội làm thầy, Hốt lầm thang thuốc, hại lây mạng người. Đạo ta đây có ba người, Hãy còn ở cửa thứ mười xin ăn. Một người tên gọi Hà Năng, Thật người Hà Mậu kêu bằng ngôi ông, Châu Phan lời nói chưa xong, Quỷ đà kéo cổ vào trong Án tào Lại nghe quỷ sứ lao xao, Dẫn một người nào, đầu trọc mang gông, Dương Từ xem thấy nghi lòng, Lại gần vốn thật thầy trong chùa mình. Hỏi rằng hòa thượng tu hành, Cớ sao mà mắc tội tình chi đây? Đáp rằng: Từ thuở chơi mây, Am vân hôm sớm hằng vầy kệ kinh. Chẳng may lâm bệnh xá sanh, Chưa hay buổi ấy âm linh tội gì! Nói rồi quỷ sứ dẫn đi, Vào Án tào ấy một khi tra tường. Án tào quỷ sứ phụng chương, Đặng dâng bệ ngọc, Diêm vương ngự rằng: Châu Phan là đứa vô ân, Đành lòng chẳng tưởng mồ phần tổ tiên. Mình sanh trong cõi trung nguyên,

(Thiếu một đoạn)

Hiềm vì nghề nghiệp y môn, Chẳng coi sách vở, làm khôn hại người. Phó cho cầm cửa thứ mười, Dẫn đi hành tội, cho người thấy ghê, Hành rồi hóa kiếp làm dê,

(Thiếu một đoạn)

Dạ Xoa vâng lịnh phăng phăng. Ngục mười dẫn lại giao thằng Châu Phan. Diêm vương phán trước ngai vàng: Rằng: Người Trần Kỷ sao chàng đi tu? Tiếng xưa cũng biết chữ nhu (nho), Há không coi sách Xuân Thu dạy đời? Ngoại di Trung quốc khác trời, Phụ Nho, theo Phật, chuộng lời nam mô, Mấy năm ở chốn Phù đồ, Xưng rằng Hòa thượng, nói phô hoang đàng, Của thời tam bảo ăn thường, Ruộng thời sẵn có thập phương cúng dường. Vả xưa Phật ở Tây phương. Sống không biết lẽ cang thường là chi. Luyện lòng hai chữ "từ bi", Việc nhà việc nước, biết gì tới ai. Làm người sao chẳng theo loài? Thảo cha ngay chúa, đoái hoài chi đâu! Đành lòng cắt hẳn tóc râu, Đã toan bất tử, lại âu bất thần. Tội kia đã đến muôn phần, Khó dung cho đó làm thân con người. Trước cho bầy rắn cắn tươi, Rồi sau cho hóa kiếp người làm trâu. Hành cho chín kiếp rất lâu, Để ăn rơm cỏ, dãi dầu tấm thân. Dạ Xoa lãnh nạp họ Trần, Đem giao chúa ngục ở phần sông Diêm. Có quân quỷ tốt liền đam, Dẫn qua Tào án còn giam nửa giờ. Dương Từ theo khóc bơ vơ, Rằng nay Hòa thượng biết nhờ cậy ai! Kỷ rằng: Ta hỏi Thiện Trai: Cớ sao xuống chốn âm đài, chuyện chi? Thưa rằng: Tầm dấu Mu ni Ngỏ xin khỏi tiếng thị phi trên đời. Kỷ rằng: Trốn lánh việc đời, Đã đành lỗi đạo cùng trời đất kia. Ngàn năm trong cõi thiền kia, Lấy ta làm một tấm bia để đời. Người về xin gởi vài lời, Nói cùng tăng sãi các nơi chùa chiền. Trở về theo đạo thánh hiền, Lo bề nhà cửa, chớ nguyền đi tu. Tu chi mắc kiếp làm trâu, Lại xô xuống cầu, cho rắn phân thây.

(Thiếu 9 câu, thuật lời Châu Phan)

Đương phô quỷ sứ đánh ngang, Dẫn tới ngục đàng, chịu phép khảo tra. Châu Phan sùi sụt bước ra, Họ Hà thấy vậy xót xa phận mình. Tạo Y quỷ sứ có tình, Đem qua các chốn ngục hình xem coi. Bài đề hai chữ "Phong Lôi" Ngục nầy để trị bầy tôi gian tà. Hung thay quỷ tốt Dạ Xoa. Bắt bầy tôi nịnh đem ra hành hình. Tay chân đều có đóng đinh, Nằm trên tấm thớt lõa hình trần phơi. Người giăng nằm giữa ngó trời, Người thời nằm sấp khắp nơi rẽ ròi. Phút đâu một tiếng âm lôi, Nổ ra sấm sét đánh bồi trên thây. Trước sân lai láng máu đầy, Tan xương nát thịt, cái bầy quân gian. Coi tên: Đề thuở Hán Đàng (Đường). Thập Thường Thị ấy với đoàn hoạn quan. Hành rồi sái phép linh đan, Thân hoàn hồn phách, lại hoàn ngục giam. Cũng vì một tấm lòng tham, Sâu dân mọt nước, đều làm chẳng công. Làm tôi mang chữ bất trung, Phép trong trời đất chẳng dung đứa nào. Coi rồi cửa ấy tù lao, Coi qua cửa khác những nào tội nhân. Bài đề hai chữ "Hỏa Quân" Ngục này trị kẻ vô luân, loạn thần. Cột đồng cắm đứng trước sân, Chế dầu lửa đốt rần rần như giông. Lửa xe chói đỏ cột đồng, Dạ Xoa dắt tới đàn ông một đàn. Tay cầm roi sắt đánh, phang, Khiến xông vào đó ôm ngang cột đồng. Thịt xương chói đỏ theo đồng, Khói bay tanh khét, như xông a ngùy. Coi vào trong thẻ án ghi, Họ tên lũ ấy một khi mới tường, Thảy đều mắc tội hòa gian, Vợ người đã lấy, còn toan giết chồng. Coi rồi phía tả đàn ông, Ngó qua phía hữu, rất đông đàn bà. Trước sân đem vạc dầu ra, Dầu sôi sục sục, lửa ra dần dần. Một bầy phụ nữ truồng trần, Buộc vào để đứng lõa thân chịu hình. Dạ Xoa cưa, kéo nên kinh, Cưa đầu tới đít, rã mình làm hai. Lòng hai người cũng chia hai, Bỏ vô dầu nấu, nấu hoài cho tiêu. Coi vào trong thẻ án nêu, Họ tên lũ ấy thảy đều dâm bôn. Thông gian mình nghĩ rằng khôn, Ở đời chẳng sợ tiếng đồn ô danh. Coi chồng như đứa vô tình, Ngày đêm những mảng rập rình cùng trai, Chê cười cũng trối thây ai, Kiếm lời che mắt, lắp tai thằng chồng. Dầu cho dại cũng là chồng, Lỏng sao giám nói nó không biết gì? Rõ ràng chứng có tứ tri, Việc trong buồng kín, âm trì lại biên. Giết chồng có phép nước chuyên, Âm thầm có phép cửu tuyền cưa hai, Cho hay những tội lấy trai, Thiên tru, địa lục, ai ai nên chừa. Tạo Y thấy vậy chẳng ưa, Xem qua ngục khác, phép ngừa đứa gian, Bài đề hai chữ "Kim Cang". Ngục này để trị những đàn bất nhân, Mấy thằng trộm cướp sát nhân. Cối đồng xay giã, tấm thân nát nghiền. Làm con chẳng thảo, chẳng hiền, Mình treo cần sắt, cung liền bắn lên. Bắn cho văng thịt nhiều tên, Hỏi ơn cha mẹ đã đền đặng chưa? Mấy người ăn nói thiếu thừa, Bắt kềm kéo lưỡi đưa ra khỏi hàm. Kể sao xiết nỗi gian tham, Dạ Xoa cứ phép đều đam hành hình. Kim cang đến cửa đã đành, Cửa mười cũng nối sẵn dành theo đây. Bài đề "Minh Lịnh" ngục nầy, Để trị các bầy bại lễ, loạn luân. Loài người ăn ở bất phân, Anh em lấy bậy, bất phân làm người. Trẻ già nào trọn mấy đời, Âm thầm chẳng biết hổ ngươi cùng trời. Mây mưa quen thói nhớp đời, Bà con nào kể, lẽ trời nào kiêng, Dạ Xoa theo án xử liền, Bắt đoàn con gái ghe phen hành hình. Kẻ thời đội chảo máu tanh, Ngồi bàn chông sắt, nhóm đoanh ruồi lằng. Kẻ thì bưng mẻ dòi ăn, Người bưng máu uống, chưn trăng, cổ xiềng, Giường đồng lạnh lẽo để liền, Bao nhiêu tội ấy thay phiên bắt nằm. Trên đầu dội nước ướt dầm, Sương sa lạnh lẽo, ruột tằm héo don. Lạnh lùng xương thịt hao mòn, Để chi nhơ nhuốc nước non trên đời. Trải qua xem thấy khắp nơi, Dương Từ, Hà Mậu buông lời hỏi han. Hỏi rằng: Các tội ngục đàng, Hành rồi một thứ, lại hoàn nguyên thây. Chẳng hay hoàn lại làm chi? Hoặc là hết tội, đợi kỳ tha chăng? Tạo Y quỷ sứ đáp rằng: Âm hình há dễ một lần mà xong! Giết đi hoàn lại, lòng dòng, Ngục này hết phép, còn vòng ngục kia. Hành cho khắp hết cửa bia, Đem về Tòa án, mới chia kiếp đầy. Đứa lên làm kiếp ăn mày, Thằng kia kiếp chó, con này kiếp heo. Dầu muôn kiếp cũng noi theo, Mãn thân súc vật; máu đeo dao người, Tạo Y chưa nói dứt lời, Thấy quân quỷ tốt tới nơi nhộn nhàng. Dẫn đi một lũ bóng chàng, Áo quân rách nát, đều mang gông xiềng. Họ Hà buông tiếng hỏi liền; Chẳng hay lũ ấy sổ biên tội gì? Đáp rằng: Tội chẳng nhẹ chi, Ở trên dương thế hay khi thánh thần. Miếu đường là chốn thanh tân, Trống xây, giọng lý, tiếng rân cầu mời. Bà tiên, bà Chúa, đặt lời, Chàng Năm chàng Bảy, lên chơi giới hiền. Rập rình đàn, địch, cổ, chiêng, Cơm tiền đã tốn, dầu đèn lại hao. Ai lên khấn vái, phước trao, Ai quên cúng quảy, họa vào khi không. Quạt chơi, ợ, ngáp, lên đồng. Dối người giàu có rằng ông quở chàng. Chè xôi gà vịt, đặt bàn, Cho ta dâng lễ, mới an cửa nhà. Tội kia khi hoặc người ta, Phong lôi ngục nọ đem ra hành hình, Họ Dương lại hỏi đinh ninh Bóng chàng dường ấy đã đành tội kia. Chẳng hay thầy thuốc tội chi, Kìa quân quỷ tốt dẫn đi đông dầy? Đáp rằng: Thầy thuốc chẳng hay, Bịnh không biết mạch đặt tay coi chừng. Lòng quen cưu thói bất nhân, Nhà giàu thời hốt "bát trân", "thập toàn". Nhà nghèo thời hốt thuốc ngang, Tử tô, kinh giới, ma hoàng, quế chi. Mười hai kinh lạc kể gì, Bốn mùa vận khí xây đi, mặt trời! Đau trong tạng phủ thây người! Thấy tiền đem tới, miệng cười, lòng vui. Chín trăm phương thuốc xa xui, Hai ba mươi vị phanh phui đủ làm. Một pho Thọ Thế lam nham. Nhìn đâu hốt đó, chẳng ham sách nào. Làm hoàn, làm tễ, hỗn hào, Thuốc sâu, thuốc mọt, trộn vào mật ong. Mạng người coi rẻ bằng lông, Uống may: thời khá; rủi: không chi thầy. Khoe mình dao thuốc liền ngày, Oan hồn theo khóc dầy dầy sau chơn. Tưởng là trộm cướp bất nhơn, Ai hay thầy thuốc dữ hơn cọp nhiều. Tội kia đã đáng đem treo, Kim cang ngục nọ, xử theo án đồ. Họ Dương lại thấy dẫn tù, Mụ bà một lũ u đồ đi ra. Lặng nghe kể tội mụ bà, Quỷ cầm thẻ án, trước đà rao rân. Rao rằng: Làm mụ bất nhân, Khiến người sanh đẻ tấm thân mắc nàn. Vả trời phú tánh đã an, Có cho ai ngược, ai ngang, bao giờ? Bào thai đã định ngày giờ, Mười trăng chưa đủ, phải chờ mới nên. Vợ người chuyển bụng đau rên, Mụ bà chẳng hỏi nhớ, quên, tháng ngày. Lên giường vội vã ra tay, Rằng: Ta sửa bụng cho quày đầu ra. Vài giờ chưa thấy sổ ra, Thọc tay lỗ đẻ, sờ mà thăm coi. Coi rồi chẳng thấy lỗ mòi, Khiến xui hốt thuốc giục đòi cho mau, Dối rằng: gần lố mào cau, Bảo người rán rặn làm nao đẻ đùa. Hai tay bóp bụng đẩy xua, Thấy lâu rồi lại thăm vô cửa mình. Chúc nguyền bà chúa thai sanh, Đức thầy, đức mụ, thần linh giúp cùng, Làm tuồng chộn rộn sợ lung, Chủ nhà van vái tứ tung binh tàng, Khiến con trong bụng chẳng an, Ngặt mình nên phải tìm đàng chun ra. Chõi, quày, chưa kịp hạ sa, Mụ bà tay chận, kéo ra vội vàng, Những đồ đi ngược đi ngang, Cũng vì tay mụ, lòng toan sanh cầm. Dân ngu chẳng biết lỗi lầm, Vì ai khuấy rối lẽ trời Khiến nên èo uột, ra vời chẳng lâu? Người khôn cũng mắc rầm rầm nhiều nơi. Lẽ thời tội đáng chém đầu, Thứ dung cho nó xuống cầu một cây. Mậu rằng: Nhờ cớ sự nầy, Đẻ đừng kêu mụ, rước thầy được chăng? Tạo Y quỷ sứ đáp rằng: Coi trong sách thuốc có bằng luận minh. Tiếp sanh lại với thâu sanh, Tiếp, thâu, hai chữ, là danh mụ bà. Chờ con trong bụng sổ ra, Ãm bồng, lau rửa, ấy là phận ta. Xưa nay làm phận đàn bà, Tới ngày sanh đẻ, như hoa trên cành. Hoa kia nở nhụy có chừng, Đàn bà chửa nghén thời đừng sợ chi, Thú cầm là loại vô tri, Tới chừng chuyển bụng, mụ gì sửa cho? Làm người chẳng biết so đo, Cứ toan theo mụ, rủi ro cho mình, Gẫm vật hóa hóa sinh sinh, Máy trời có sẵn trong mình người ta. No ngày, khảm tháng đẻ ra, Mẹ con mạnh khỏe, thầy bà làm chi? Miễn cho giữ nết đứng đi, Theo bề ăn ở, đừng khi thánh thần, Dầu cho đẻ mấy mươi lần, Dễ hơn súc vật muôn phần, nào lo? Đây đà dứt việc hỏi phô, Đem nhau tới chốn Phong đô tách vời. Ra đi tới cửa thứ mười, Lại gặp ba người quân dẫn đi xin. Họ Hà dừng bước đứng nhìn, Một người hình dạng thật in ông mình. Hà Năng chợt thấy hãi kinh, Vừa mừng vừa khóc thình linh nói ra: Hỏi rằng: Hà Mậu cháu ta,...

(Thiếu một đoạn)

Cho hay sự dĩ đáo đầu; Chưa về cõi thọ ai hầu biết khôn.

(Thiếu một đoạn)

Bấy lâu cầm ở ngục hình, Một mình chịu khổ, sự tình xiết bao, Đã không tiền bạc theo tao, Cũng không dòng họ người nào ở đây, Gặp nhau chưa hết tình bày, Tạo Y quỷ sứ kéo ngay ra về. Rằng: Mười giờ hết phải về, Dùng dằng đây nữa khó bề hồi dương, Nói thôi trở gót vội vàng, Họ Hà, Ông, cháu, hai đàng phân ly, Năng rằng: Cháu hãy về đi!

(Thiếu một đoạn)