Part 2
Nói thôi mang giỏ về xuôi, Dương Từ còn đứng ngậm ngùi thở than. Làm thân bà vãi gian nan, Đã là đầu trọc, còn mang tiếng cười. Gái kia chẳng chỉ đường nơi, Đánh liều, phương nhắm phía trời đông nam. Đi vừa tới Bạch vân Nham, Có tòa cổ miếu cổ, mây doanh bốn bề. Ngó lên trên cửa chữ đề: "Hiếu Từ" hai chữ, son phê chói lòa. Lại câu đối liễn treo ra, Dương Từ trộm thấy, lòng đà sanh nghi.
Liễn rằng: Đói rách lòng không hờn mẹ ghẻ; Lạnh đau dạ chẳng trách cha lành.
Thấy câu liễn đối mà thương, Cho hay: con thảo nhiều đường gian nguy. Muốn vô coi tượng thờ chi, Lại e linh ứng, như kỳ chiêm bao. Trở ra, rồi lại trở vào, Thấy câu liễn đối, đi sao cho đành! Xảy nghe bên cụm cây xanh, Có người đốn củi lanh chanh hát rằng:
Hát rằng: Núi non đây nhiều cây nghinh ngáng. Dọn trống đường nhờ cán búa ta. Búa trong tay, liền ngày đốn củi, Vui rừng trời tránh buổi loạn ly. Cội cây yêm phải tìm núp bóng, Mặc người đời dù lọng nghinh ngang,
Dương Từ nghe hát mấy lời, Xăm xăm bước tới, thấy người tiều phu. Hỏi rằng: Nhà cửa ở đâu? Biết trong miễu ấy, công, hầu, bậc chi? Tiều rằng: trong miếu Hiếu từ, Thờ ông Mẫn tử thuở kỳ xuân thu. Học theo đạo thánh ngày lâu, Hiếu từ đức hạnh ở đầu tứ khoa. Hết lòng thảo với mẹ cha, Người ngoài cho đến trong nhà đều khen. Thuở xưa đương lúc khó hèn, Ấu thơ mẹ mất, cha bèn thú thê. Từ ngày có mẹ ghẻ về, Đẻ hai con nhỏ, cha kề ấp yêu. Mẹ thương con ruột phần nhiều, Ấm thân con ghẻ bỏ liều như không. Đói, no, lành, rách, mặc lòng. Ăn theo đày tớ, nằm cùng chăn trâu, Tử Khiên không dạ oán sầu, Phải sao hay vậy, trọn câu hiếu hòa. Gặp khi cha khiến đẩy xa, Thấy con áo rách, giận bà hậu thê. Cha bèn vội vã trở về, Trách bà mẹ ghẻ, toan bề để ra. Tử Khiên than khóc, lạy cha. Xin dung một mẹ, mới hòa ba con. Rách, lành, chẳng sá một con, Hai con thơ ấu, mẹ còn mới nên. Thảo thân một tấm lòng bền, Cảm tình, mẹ ghẻ chẳng quên con chồng. Nhớ câu "hiếu để thành phong". Người trong nước Lỗ đều mong học đòi. Sắc phong một thuở hẳn hòi, "Hiếu Từ" hai chữ, dấu roi để đời. Ta đây một họ cùng người, Kêu bằng ông tổ ba mươi bốn đời, Từ rằng: Xin hỏi vài lời, Người ta vốn thật dòng người trâm anh. Sao không ra lập công danh, Noi theo nghiệp tổ, hiển vinh mà nhờ? Tiều rằng trước mặt sờ sờ, Xưa qua, nay lại, dễ chờ đợi chi? Đưa theo hai chữ "tương khi", Trên quyền, dưới lợi, đoái gì thiên luân! Nước thời chia bốn năm phần, Can qua chẳng biết mấy lần đánh nhau. Trong thời gian nịnh giụm đầu, Ngoài thời dua mị, đua cầu tham quan. Chánh ra dữ quá cọp vàng, Lòng dùng độc quá hổ mang, thuồng luồng. Bốn phương mọi rợ luôn tuồng, Nay giành ải hổ, mai ruồng ải lang. Nơi nơi trộm cướp dấy loàn, Lê dân hết sức, của tan chẳng còn! Cõi trong trời đất thon von, Khói mây đen nghẹt, nước non đau sầu. Biết đời tam đại là đâu, Gặp khi thúc quý phải âu lánh mình. Từ rằng bờ cõi thinh thinh, Chẳng tham danh lợi, lánh mình chớ lo. Ở trong tạo hóa một lò, Thiếu chi nghề nghiệp, bo bo theo tiều? Tiều rằng: Cửa thánh gương treo, Dùng đời chẳng đặng, thời theo đời dùng? Khéo khôn ắt có mỏi lòng, Mỏi lòng rồi lại mắc vòng hỏa tai. Thử coi con thú vật ngoài, Như voi như cọp, mấy ai dám bì? Voi kia cao lớn đen sì, Cặp ngà vô dụng: can chi lụy mình Cọp kia nanh vuốt như binh, Tấm da vô dụng: ai rình đâm chi? Lấy trong việc ấy mà suy, Những nghề đời dụng, ra gì xưa nay! Ta nhờ cán búa trong tay, Theo nơi rừng bụi, tháng ngày thảnh thơi. Bữa dùng một gánh củi trời: Cá, cơm, rượu thịt, tháng ngày cũng no. Giữa câu "phù ngưỡng" bo bo, Kỉnh thờ trên dưới, miễn cho xong mình. Xin đừng hổ với thần linh, Cùng người đừng thẹn, uổng sanh trong đời. Xin đừng khi dối lẽ trời, Cũng đừng trốn lánh việc đời thời xong. Dương Từ nghe nói hổ lòng, Khen rằng: Lão trượng thật lòng hiền xưa. Ta đà lánh cõi mây mưa, Cớ trêu tấc dạ, lại ưa mùi thiền. Thiên thai dốc kiếm chùa tiên, Chưa thông đường sá, dám phiền chi ta. Tiều rằng: Có chỉ nam xa, Chớ lo đạo lỗi, lo ta lầm đàng. Đây đi xuống bến Châu giang, Ngang qua sông ấy, lên đàng Thiên thai. Dương Từ vội vã trở hài, Từ biệt non đoài, nương gậy thiền đi. Dưới trời nhiều vật so my, Nghĩ ra nhiều thói dị kỳ mà kinh. Những người ngay thẳng đều vinh, Thân tuy đã mất mà danh hãy còn. Bảng vàng, thẻ bạc, chữ son, Bao nhiêu vinh hiển, là con nhà hiền. Tiều phu là đứa không tiền, Gẫm trong lời nói có duyên hơn vàng. Hỡi ôi! Mấy kẻ giàu sang, Mảng tham vui sướng, quên màng thân sau. Dương Từ đi đến sông Châu, Ngẩn ngơ nào biết đò đâu đưa mình. Ngó lên trên khúc sông quanh, Thấy bên vực thẳm có manh cô bồng. Một người đứng giữa khoang lồng, Khua chèo miệng hát, gió lồng tiếng vang.
Hát rằng: Bến sông Châu, vực sâu, cá ở, Thương người hiền gặp thuở loạn ly. Nước vận quanh, bãi gành chảy cạn, Thấy anh hùng hoạn nạn khá thương! Chiếc thuyền câu, đậu đâu nên đó, Nước ly loàn, giàu có màng chi?
Dương Từ nghe tiếng hát kỳ, Bước lên trên vực, coi thì thể nao. Mình hơn tám thước rất cao, Mặt đen râu quắn, khác nào võ phu. Dương Từ bước xuống ngư chu, Xin đưa qua bến, sẽ âu hoàn tiền. Ngư rằng: Người ở chùa chiền, Đi đâu nên nỗi, mà phiền ta đưa? Nhắm hình chẳng phải người xưa; Lánh nơi hoạn nạn, tới trưa lỡ làng. Ta nghe trong chốn Lư giang, Có ông ngư phủ đưa chàng Ngũ Viên. Lại nghe đình trưởng dừng thuyền, Chở ông Hạng Vũ qua miền Ô giang. Hai người vì bởi lánh nàn, Một lo rửa oán, hai toan rửa thù. Sợ đời bắt kẻ tóc râu, Nào ai bắt đứa trọc đầu làm chi? Nói rồi ra lẽ thị phi, Dễ đưa qua đó, tiếc gì công ta. Cầm chèo thong thả đưa qua, Dương Từ, đến bến, tính ra tiền đò. Ngư rằng: Lòng chẳng bo bo, Phòng tham tiền bạc so đo với người. Trót đà làm phải trên đời, Ngàn vàng chẳng báu, một lời rất sang. Từ rằng: Ta tiếc cho chàng, Chẳng phen lương đống, cũng trang anh hùng. Nghe rằng nước Tấn chinh đông, Cầu đặng võ sĩ ra công can thành. Cớ sao chẳng xuống Tây kinh, Phò vua giúp nước, lập danh để đời? Cá tôm đặng mấy mươi lời, Theo nghề chài lưới, quên nơi sang giàu? Ngư rằng lời khéo phỉnh nhau, Ai từng khát nước gối đầu bờ ao? Người nay có khác xưa nào, Đất dày thăm thẳm, trời cao mù mù. Bốn mùa thành quách làm xâu, Dân gầy, nước ốm, mỡ, dầu, cũng khô, Thấy đời danh lợi biến phô, Khác nào con chấu nhảy vô vòng đèn. Từ rằng: Xưa sách còn khen, Công thành danh toại, ai bèn chi ai? Ngư rằng: Xưa đấng hiền tài, Lập thân há chẳng biết tài bảo thân. Dầu vinh cũng tiếng nhân thần Trâu cày ngựa cỡi, cái thân ra gì? Chớ ăn lộc nước đời suy, Bẫy chim, lưới thỏ, e khi mắc nàn. Trối ai ra sức muông săn, Một mai hết thỏ, chúng ăn tới mình. Sao bằng một cõi an sanh, Sông sâu vực thẳm, ai giành chi đây? Sẵn dòng chèo quế một cây, Thuyền mang một chiếc, đỡ ngày hôm mai. Theo sông khúc vắn khúc dài, Năm ba sợi nhợ, một vài cần tre. Đêm trăng ngày gió, bạn bè, Vui câu hát xướng, buồn ve rượu đào. Thả trôi gành hạc, bãi ngao, Thú vui non nước, mặc dầu nghinh ngang. Cá tôm sẵn lộc trời ban, Phận đà no đủ, còn màng của chi? Nói rồi thong thả chèo đi, Dương Từ khen đó tính ky lâu dài. Than rằng: Thương đứng anh tài, Sanh không gặp thuở, khó nài thân sau: Hỡi ai lộc trọng quyền cao! Thú hèn cũng có anh hào, chớ khinh. Họ Dương từ thuở đăng trình, Trải chơi non nước sự tình biết bao. Đi hơn nửa tháng lao đao, Đến nay mới thấy đường vào Thiên thai, Thiên thai một cảnh an bài, Dương Từ mới tới, ở ngoài động môn. Lúc nầy người ở động môn, Tên là Hà Mậu, trí khôn, người hiền. Theo cùng ông Lý tri Niên, Từ non Tùng lãnh vào miền Thiên thai Đi đà hơn nửa tháng dài, Phút đâu lố thấy gần ngoài động môn. Tri Niên, lừa thả bên non, Cùng ngươi Hà Mậu đều lòn cửa hang, Hai người ra khỏi cửa hang, Đến nơi động khẩu gặp chàng họ Dương. Họ Hà, họ Lý, họ Dương, Ba người gặp hỏi, mới tường tánh danh. Niên rằng: Tiên cảnh rất linh, Họ Dương ngươi hãy ở đành lại đây. Chờ ta tới trước am mây, Lên chùa Linh diệu thăm thầy Lão nhan. Dương Từ nghe nói vội vàng, Thưa rằng xin đó đem đàng ta đi. Niên rằng: ngươi vốn thiền sư, Tới nơi tiên cảnh cầu chi chăng là? Từ rằng: nghe tiếng đồn xa, Rằng chùa Linh diệu một tòa ở đây. Niên rằng: Linh diệu chùa này, Vốn không thờ Phật mà lây tới thiền. Từ rằng không Phật, có Tiên, Xin cho đặng thấy, phỉ nguyền chơi mây. Niên rằng: Hai gã ở đây, Để ta tới trước Động Mây một giờ. Lâu, mau, sao vậy cũng chờ, Cho tin xuống rước kịp giờ sẽ hay. Niên rằng: Đường lên trên thầy, Mây tuôn mù mịt đá vầy nhỏ to. Dương Từ Hà Mậu đều lo, Ngồi trong cửa động lò mò hỏi nhau. Mậu rằng: Tiếc đó đi tu, E khi cửa Phật công phu lỡ làng. Ta nghe Phật ở Tây phang, Vốn người mọi rợ, luân thường chẳng ưa. Lại nghe tam đại đời xưa, Dân an, nước trị, Phật chưa bày hình, Đến năm đời Hán Vĩnh Bình, Sứ qua Thiên Trúc rước kinh Phật về, Tới sau Lương Vũ rất mê, Lập chùa tượng cốt, chuyên nghề sử trai. Ngụy, Trần, Tề, Tống đến nay, Đời đời nào cũng trọng thầy sa môn. Trên vua đến dưới dân thôn, Đua nhau kính trọng một môn phù đồ, Quỳ hương, chẩn tế, nam mô. Tới lui tăng đạo, ra vô Phật đường, Bao nhiêu theo đạo Tây phương. Phước lành chưa thấy, tai ương tới mình, Trên thời nghiêng nước nghiêng thành, Dưới thời nhà cửa tan tành xiết bao! Phật linh mấy cứu ai nào, Người na sao hãy lòn vào Thích gia? Từ rằng: Ngươi chớ giấu ta, Đạo nào nên trọng, nói mà nghe chơi? Mậu rằng: Ta trọng đạo Trời, Tới nay đã đặng năm đời Gia tô.
(Thiếu một đoạn)
Họ Hà đương gẫm lời hay, Phút đâu chim hạc lại bay xuống liền. Hóa ra đồng tử có duyên, Tay cầm hai trái đào tiên, miệng cười. Bảo rằng: Hai trái, hai người, Ăn rồi mới biết là người dại khôn. Ngày nay đã tới hoàng hôn, Hai người đi khỏi động môn hành trình. Theo ta tới Bích Phong Đình, Ở trong hang đá nghỉ mình một đêm. Rạng mai có kẻ xuống tìm, Đem lên Vân động, mựa hiềm đợi trông. Tiểu đồng dạy bảo vừa xong, Hóa ra chim hạc, thinh không bay về. Hai người mắt thấy lòng ghê, Khen rằng: Tiên đạo có bề thần linh. Phỏng chừng đương lúc sơ canh, Ngó ra thấy bóng trăng thanh bên trời. Băng luân một tấm lộng khơi, Non sông muôn nước bóng ngời lòng soi. Hai người lẳng lặng ngồi coi, Ngó ra cửa động, bóng soi như ngày. Vẳng nghe có tiếng vang dầy, Rần rần ngựa gió, xe mây chật đàng, Trước đi kiệu bạc, tán vàng, Trong che phủ phất, ngoài giàn quạt tiêu. Đèn ngân, đuốc ngọc, rất nhiều, Lòa nơi cửa động, hương thiêu nực nồng. Ngỡ là Thiên tử ngự phong, Gẫm trong nghi vệ, cũng đồng thần tiên. Họ Hà xem thấy sợ liền, Than rằng: Mối đạo linh thiêng như vầy! Anh tu cũng tiếng ông thầy, Theo làm tôi Phật, bấy chầy thấy không? Từ rằng: Cốt mộc, cốt đồng, Tượng hình, đúc tượng, ngồi không trên bàn. Ta thường sớm tối đèn nhang, Thấy ma, thấy quỷ, chàng ràng trêu ngươi. Phật không thấy nói thấy cười, Thấy không đi đứng cùng người thế gian. Chạnh lòng ta mới hỏi chàng: Lâu nay về đạo Hòa lan thấy gì? Mậu rằng thấy bức ảnh ghi...
(Thiếu một đoạn)
Trót đà bị chúng chê cười, Vậy nên phải tới gặp người tiên tri. Từ rằng: Gặp kẻ tiên tri, Ta xin hỏi đạo từ bi cho tường. Hai người ngồi hãy đương bàn, Nghe chùa Linh diệu chuông vàng sớn rung. Xảy vừa tới lúc hừng đông, Tri Niên đã xuống Bích Phong Đình rồi. Nói rằng gặp tiết giao bôi, Chư tiên hội yến vào hồi canh ba. Mậu rằng: Chiều bữa hôm qua, Có người đồng tử cho ta ăn đào. Chẳng hay duyên cớ làm sao, Khiến ta ăn đào, tránh chốn động môn. Niên rằng: Nơi cửa động môn, Ngày lành, tháng tốt, để: buồn, tiên chơi. Hai người lòng dục chưa rời, Còn con mắt tục, dòm người chẳng linh. Có ăn hai trái đào xinh, Rửa lòng nhân dục, trong mình mới an. Chư tiên nay đã hồi loan, Ta xin dẫn lộ hai chàng đi lên. Dương Từ Hà Mậu đi liền, Tới nên Vân động ngửa lên xem trời, Thấy ngươi đồng tử truyền lời, Rằng: Ba người hãy tạm nơi động này. Tôn sư giấc mộng đương say, Chờ khi thức dậy, mới hay lẽ nào. Hai người ở động mây cao, Nhìn xem cảnh vật biết bao nhiêu tình. Kỳ hoa, thoại thảo, xanh xanh, Châu cầm ngọc thú, rập rình vui thay! Nền chùa cao quá vầng mây, Bên thềm đá gấm, bóng cây im lìm. Ngó vô mấy bức châu liêm, Mấy từng thơ họa, trang nghiêm muôn phần. Ngó ra non núi mấy từng, Hình long dạng phụng, bên chưn đứng chầu, Đông, tây, son đỏ hai lầu, Chuông vàng, khánh bạc, giàn hầu rất ngoa. Cúi xem về cõi giới ba, Một bầu trời đất giống là nửa châu. Từ rằng: Có chí vân du, Đến đây mới đặng khỏi hầu bụi nhơ. Niên rằng: Ta thuở ấu thơ, Có lòng tầm đạo bây giờ thảnh thơi, Phút đâu đồng tử ra mời, Rằng: Tôn sư dậy, ngồi nơi hiên đào. Ba người khép nép bước vào, Tới nơi hiên đào nghe tiếng ngâm thi,
Thi rằng: Dốc tầm đạo, phải ở đâu xa? Gội tấm lòng người, có giải ra, Theo nghĩa; bao đành làm phản nước? Có nhân: nào nỡ phụ tình nhà? Xưa nay đều chuộng đường trung hiếu, Sách vở còn ghi lẽ chánh tà. Năm phẩm rừng Nho săn sóc lấy, Ấy là đạo vị ở lòng ta.
Ba người nghe tiếng ngâm rồi, Vào trước chỗ ngồi, quỳ xuống vòng tay. Tri Niên lạy trước, lời bày, Thưa rằng: Ngây dại xin thầy dạy phô. Lão Nhan biết lũ mê đồ, Hỏi rằng: Hà Mậu nói phô việc gì? Mậu rằng: Tôi thật ngu si, Chẳng hay đời trước có chi lầm đàng? Thầy rằng: mê đạo Hòa lan, Trong tấm lòng chàng ước việc gì nên! Mậu rằng: Lòng chẳng dám quên, Một lời sau thác đặng lên Thiên đàng. Lão Nhan giẹp chuyện hòa lan, Hỏi rằng: Kìa gã họ Dương thưa gì? Mấy năm học đạo từ bi, Vân du đã chán, việc gì đến đây? Từ rằng: Vì việc chơi mây, Mang lời phải quấy, thêm ngầy trong tai. Kiếp sau là kiếp lâu dài, Biết theo đạo Phật trọn bài cùng chăng? Sư rằng: Kinh Phật, trọng tăng , Tấc dạ nằng nằng tin tưởng việc chi? Từ rằng: Theo đạo từ bi, Nhớ ngày sau thác, đặng kỳ siêu thăng. Lão nhan ngồi ngẫm nghĩ rằng; Hai đường đều muốn chữ "thăng lên trời". Ta nay nói cũng uổng lời, Chi bằng cho thấy lẽ trời mới tin. Dặn rằng: Hai gã lòng bền, Đều mong sau thác đặng lên nhà trời. Chùa đây có ngõ lên trời. Chi bằng bước tới xem chơi một hồi. Hai người nghe nói mừng vui, Phút quên mình sống, còn ngồi dương gian, Thưa rằng: Đây có Thiên đàng, Hai tôi xin tới du quan vài giờ. Sư rằng: Hồn sạch phách nhơ, Xác phàm còn sống, khó mơ lên trời. Ta nghe trong phép chúa Trời, Cầu hồn cũng đặng về nơi Thiên đàng. Lại nghe có phép Địa Tạng Vương, Siêu hồn sãi vãi về phương tây trời. Hai ngươi nay muốn lên chơi, Xác phàm ở lại, hồn dời mới xong. Ta đây có phép thần thông, Xuất hồn rồi lại ra công hoàn hồn. Hai ngươi lại trước đài môn, Giờ lành ta sẽ xuất hồn cho thăng. Lại kêu ông Lý dặn rằng: Rừng y gắn vó chi bằng cổ nhân, Hôm nay là bữa lương thần, Sửa sang vị thuốc, lo phần luyện đan, Tri Niên việc thuốc đã an, Ở chùa Linh diệu thanh nhàn coi chơi. Dương Từ, Hà Mậu vâng lời, Theo người đồng tử tới nơi Dương Đài. Dương Đài có tấm bia bài, Đề câu "Thiên thượng khả giai" rõ ràng. Hai chàng bước tới xem tường, Từng từng mây giợn bốn phương trên trời Mậu rằng: Theo đạo chúa Trời, Thiên đàng đành dể trọn đời mới lên. Phen này hồn sống đặng lên, Tìm ông cha trước, cầu xin đem về. Đặng cho thiên hạ thấy ghê, Còn chi người tục nói nghề phải chăng. Từ rằng: Giận tiếng lăng nhăng, Nó chê ông Phật là thằng man di. Lên trời dầu thác cũng đi, Tìm cho thấy Phật xin trừ phép linh. Phép chi đặng phá miễu linh, Bắt người đạo sĩ mới đành dạ ta. Phút đâu đồng tử bưng ra, Mâm đào lại với bình trà dâng cho. Bảo rằng ăn uống cho no, Xuống khe tắm gội, rồi cho lên trời. Hai người đều phải nghe lời, Ăn no tắm mát, ngồi chơi nửa giờ. Tôn sư coi đã gần giờ, Tới đài, cầm viết vẽ tờ bùa linh. Dạy rằng: Giờ ngọ, chữ canh, Mộng sàng hai gã đem mình nằm an, Kim đan cho uống hai hoàn, Linh phù hai đạo, sứ mang theo mình. Tôn sư đốt lá bùa linh, Hoàng cân Lực sĩ hiện hình chờ sai. Lại biên một cái tín bài, Đề rồi tên họ của hai người phàm. Dạy rằng: Chờ hết canh tam, Chín trời đi khắp, rồi đam trở về. Tín bài đã có phù đề, Cầm đưa các cửa đặng bề đi thông. Các lời dạy bảo vừa xong, Hai chàng Lực sĩ thinh không tàng hình, Tôn sư lại niệm chú linh, Cấp như luật lịnh âm binh đứng hầu. Mây đen, khói mịt, ngút mù, Gió, mưa, sấm, sét, giây lâu mới tàn. Hai người nằm lại mông sàng, Thiu thiu nhắm mắt ngủ an một buồng, Tôn sư đã đốt phù giồn, Dương Từ, Hà Mậu, xuất hồn ra đi, Hai người đều xuất hồn đi, Đều theo Lực sĩ một khi lên trời. Hai ngươi hồn đến cõi trời, Thấy trong cảnh vật khác nơi cõi người. Trời đông một cửa xanh ngời, Có tấm biển trời, hai chữ "Thanh Thiên". Hai cung Chấn, Tốn, đoàn viên, Mộc Tinh, các phủ, đóng liền, giăng giăng. Đi đường Giáp, ất, thẳng băng, Có thần gìn giữ, tên rằng Thanh Long. Hai chàng trình tín bài xong, Đem nhau tìm kiếm, hỏi dòng họ xưa. Áo xanh quân đóng như mưa, Cầm cờ xuân lịnh rước đưa Thành Hoàng. Mới hay thứ nhất Thiên đàng, Thật vua Thanh đế, ngôi vàng chánh đông. Giữ gìn muôn việc hóa công, Nhờ ơn gây dựng, vun trồng mùa xuân. Hai chàng vội vã dời chân, Trời đông chẳng thấy, qua tầng trời nam. Trời nam một cõi ly tam, "Xích Thiên" hai chữ, bảng đam rõ ràng. Cung Ly rực rỡ nghiêm trang, Hỏa tinh các phủ sửa sang chói lòa. Bính, Đinh, hai ngã vào ra, Có thần Châu tước hỏi tra ngăn ngừa. Hai chàng đem tín bài thưa, Hỏi thăm tin tức, cũng chưa thấy gì. Quân hầu áo đỏ giàn đi, Cầm cờ hạ Lịnh oai nghi rõ ràng. Mới hay thứ nhị Thiên đàng, Phần vua Xích Đế sửa sang mùa hè. Trời nam tìm dấu vắng hoe, Đem nhau một bè, qua chốn trời tây. Trời tây hai cửa dầy dầy, "Bạch Thiên" hai chữ, bảng vầy treo ra. Kiều, Đoài, hai cửa chói lòa, Kim Tinh các phủ vô ra rần rần. Tới lui trong cửa Canh, Tân, Có thần Bạch Hổ giữ phần cấm ngăn. Hai chàng đi tới trình bằng. Cứ theo việc trước, hỏi phăng đi tìm. Thấy quân trắng áo, trắng xiêm, Cầm cờ Thu Lịnh bài nghiêm các tòa. Mới hay là cõi thứ ba, Phần vua Bạch đế, ở tòa tây thiên. Đem nhau vội vã đi liền, Trời tây khỏi miền, trời bắc lại đi. Bắc thiên một cửa đen sì, "Hắc Thiên" hai chữ, bảng ghi chẳng lầm. Một tòa cung Khảm tối tăm, Thủy tinh các phủ ở sâm si cùng. Hướng đi Nhâm, Quý, nhiều sông, Có thần Huyền Vũ tuần phòng đứa gian. Hai chàng thưa gởi đã an, Đi qua khỏi cửa tìm đàng người quen. Thấy quân mặc áo màu đen, Cầm cờ Đông Lịnh đua chen đầy đường. Thứ tư đây thật Thiên đường, Phần vua Hắc đế sửa sang việc trời. Trót đà tìm khắp mọi nơi, Ông cha chẳng thấy, lại đời trung thiên. "Trung Thiên" hai chữ bảng vàng, Chói lòa một cửa, bốn phang đều hầu, Hai cung Khôn, Cấn, làu làu, Thổ Tinh các phủ liền nhau một vàng. Đàng Xà, Câu Trận, hai thần, Giữ phần Mồ, Kỷ, là phần tuần tra. Hai chàng trình tín bài qua, Cứ theo việc trước vậy mà hỏi han. Thấy quân mặc áo màu vàng, Cầm cờ Tứ Quý đóng giàn khắp nơi. Thứ năm đây một cõi trời, Phần vua Hoàng đế sửa vời trung ương, Dương Từ, Hà Mậu, hai chàng, Hỏi người Lực sĩ mọi đàng cơ quan. Rằng: Đi năm cửa Thiên đàng, Cớ chi không thấy Hòa lan người nào? Cũng không Phật tổ ra vào, Hoặc là còn ở trời nào nữa chăng? Hoàng cân, Lực sĩ đáp rằng: Một trời thật có chín tầng âm dương. Tới đây mới đặng năm phương, Hãy còn bốn cửa Thiên đương ở cao, Hai người muốn rõ âm hao, Phải tìm cho khắp, lẽ nào mới hay. Nói rồi vội vã đem đi, Hiều Thiên mau bước cấp kỳ lại qua. "Hiều Thiên" hai chữ bảng ra, Sáng trong một cửa chói lòa muôn phương. Thái âm sánh với Thái Dương. Hai cung dành sẵn hào quang mặt trời Kim ô một bóng chói ngời, Theo đường Hoàng Đạo khắp trời xưa nay. Máy xây làm việc ban ngày, Có thần giữ cửa hiệu rày Thiên Ôn. Hai chàng trình tín bài xong, Cứ theo đường trước tìm dòng cổ nhân. Tim thôi thấy những thánh thần, Thiên đường đây thật về phần Dương Quân. Xiết bao trong dạ bâng khuâng, Cùng Thiên lố thấy, lại gần đường qua. "Cùng thiên" hai chữ chói lòa, Quế hương một cửa, hơi ra đầm đầm. Thiếu Dương sánh với Thiếu Âm. Hai cung đồ sộ sáng dầm vâng trăng. Một vầng Bạch Thố bóng giăng. Non sông bóng giợn, soi bằng lòng gương. Có quan tuần giữ bốn phương, Thiên Anh chữ đặt, đón đường hỏi tra. Hai chàng trình tín bài ra, Cứ theo việc trước, hỏi bà con thân. Hỏi ra thấy những thánh thần, Thiên đường đây thật về phần âm quân. Trong lòng chi xiết bâng khuâng, Thương Thiên chốn ấy phải lầm đường qua. "Thương Thiên" hai chữ chói lòa, Băng xăng một cửa ra vô rập rình. Quyết Âm sánh với Dương Minh, Hai cung lồng lộng, ngôi tinh, ngôi thần Bao nhiêu sấm sấm sét nổ rân, Mây đen, sương trắng, băng xăng cõi này. Có thần Viêm Hỏa ở đây, Hôm mai giữ cửa ngăn rày hỏi tra. Hai người trình tín bài ra, Cứ theo việc trước, hỏi qua việc mình. Tìm thôi gặp những thần linh, Thiên đường đây thật ngôi Tinh chánh vì. Ngẩn ngơ, ngao ngán, lòng nghi, Huyền Thiên lố thấy, kíp đi tìm đàng. "Huyền Thiên" hai chữ sơn vàng, Các phương chầu chực, nhộn nhàng vào ra. Tử Vi rực rỡ một tòa, Ngọc Hoàng Đại đế thật là cõi đây. Đền, đài, lầu các, doanh xây, Sân lân, gác phụng, nền quy, lầu rồng, Thiên Bồng, Thiên Tuế hai ông, Ra vô chầu chực có ông tuần phòng. Hai chàng xem thấy nớp lòng, Trên trời đếm những là dòng thần linh. Khắp nơi han hỏi sự tình, Thảy đều chẳng gặp quen mình là ai. Cùng nhau than vắn, thở dài, Còn nơi nào nữa, toan bài hỏi han! Thương thay hai gã gian nan, Chín trời đã khắp, phải toan lẽ gì?
(Thiếu 9 câu)