Công ước Toàn cầu về bản quyền

Part 2

Chapter 24,739 wordsPublic domain (Wikisource)

1. Bất kỳ nước tham gia Công ước nào mà Điều V bis (1) được áp dụng có thể chấp nhận các điều kiện sau: (a) Nếu sau khi sự kết thúc của (i) thời hạn thích hợp được ghi trong phân Đoạn (c) được bắt đầu từ ngày công bố lần đầu của một ấn phẩm văn học, khoa học hay nghệ thuật được nêu ở mục 3, hay (ii) bất kì một thời hạn dài hơn mà pháp luật một quốc gia qui định mà các bản in của ấn phẩm chưa được phát hành ở quốc gia đó cho công chúng hay gắn liền với hoạt động giáo dục hệ thống với giá cả hợp lí vẫn thường được qui định cho các sách tương đương bởi người sở hữu quyền tái tạo lại hay với sự ủy quyền của người đó thì bất kì công dân nào của nước đó có thể nhận được giấy phép bình thường từ cơ quan có thẩm quyền để công bố ấn phẩm đó theo giá ngang bằng hay thấp hơn để sử dụng gắn liền với các hoạt động giáo dục có hệ thống. Giấy phép chỉ có thể được cấp nếu công dân đó (theo thủ tục của nước liên quan) xác định rằng hoặc công dân đó đã yêu cầu và bị từ chối, sự ủy quyền của sở hữu quyền công bố tác phẩm hay sau khi đã thực hiện các nỗ lực cần thiết, công dân đó không thể tìm ra người chủ sở hữu quyền công bố. Khi công dân yêu cầu thì công dân phải thông báo hoặc cho trung tâm thông tin bản quyền của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa hoặc là cho bất kì trung tâm thông tin khu vực hay quốc gia nào được nêu ở phân Đoạn (d). b) Giấy phép cũng có thể được cấp theo các điều kiện này nếu trong thời hạn 6 tháng không có các bản có giấy phép nào của ấn phẩm được in theo giấy phép được bán ở nước liên quan cho công chúng hay gắn liền với các hoạt động giáo dục có hệ thống theo giá cả hợp lí thông thường vẫn được nhà nước đó qui định cho các tác phẩm tương đương. c) Thời hạn được nêu ở phân Đoạn (a) sẽ là 5 năm trừ: (i) Đối với các tác phẩm khoa học tự nhiên và vật chất bao gồm các tác phẩm toán học hay công nghệ thì thời hạn sẽ là 3 năm; (ii) Đối với các tác phẩm văn học thơ, kịch và âm nhạc và các sách nghệ thuật thì thời hạn sẽ là 7 năm. d) Nếu người sở hữu quyền phiên bản không thể tìm thấy người xin giấy phép phải gửi (bằng bưu điện bảo đảm) các bản sao đơn của người xin đến người công bố có tên trong tác phẩm và đến bất kỳ trung tâm thông tin quốc gia hay khu vực nào như được ghi trong thông báo gửi cho Tổng thư ký bởi nước mà ở đó người công bố được coi là có trụ sở chính đóng. Nếu không có thông báo như vậy thì người xin giấy phép phải gửi một bản sao đến trung tâm thông tin bản quyền quốc tế của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc. Giấy phép không được cấp trước khi thời hạn 3 tháng kể từ ngày gửi các bản sao đơn xin giấy phép kết thúc. e) Các giấy phép nhận được sau 3 năm sẽ không được trao theo Điều này: (i) Trước khi thời hạn 6 tháng kể từ ngày xin phép được nêu ở phân Đoạn (a) kết thúc hay, nếu đặc điểm hay địa chỉ của người sở hữu quyền phiên bản không rõ kể từ ngày gửi các bản sao đơn xin giấy phép được nêu ở phân Đoạn (d); (ii) Nếu bất kỳ một sự phát hành của các bản như vậy của ấn phẩm diễn ra trong thời hạn đó. f) Tên của tác giả và tên của tác phẩm của một lần xuất bản nhất định phải được in ở mọi phiên bản. Giấy phép sẽ không được mở rộng sang việc xuất khẩu các bản in và chỉ có giá trị cho việc công bố ở lãnh thổ của nước tham gia Công ước được yêu cầu xin. Người có giấy phép không được chuyển giao giấy phép. g) Pháp luật trong nước phải ban hành điều kiện thích hợp để đảm bảo sự phiên bản chính xác của ấn phẩm. h) Giấy phép làm phiên bản và công bố bản dịch của tác phẩm, theo Điều này, sẽ không được trao trong các điều kiện sau: (i) Nếu bản dịch không được công bố bởi người sở hữu bản quyền dịch hay với sự ủy nhiệm của nười đó. (ii) Nếu bản dịch không được dịch sang thứ tiếng phổ thông ở nước có quyền cấp giấy phép.

2. Các ngoại lệ được nêu ở Đoạn 1 phải tuân thủ các điều kiện bổ sung sau: (a) Bất kỳ bản in nào được công bố theo giấy phép được cấp theo Điều này phải có thông báo bằng ngôn ngữ thích hợp thông báo rằng bản in được phát hành chỉ ở nước tham gia Công ước mà giấy phép được áp dụng. Nếu ấn phẩm có thông báo như được nêu ở Điều III(1) các bản in cũng phải có thông báo như vậy. b) Điều kiện thích đáng phải được ban hành để: (i) Giấy phép phải quy định một sự bồi thường công bằng phù hợp với các mức tiền bản quyền thông thường của trường hợp các giấy phép được tự do đàm phán giữa các cá nhân trong hai nước liên quan; và (ii) Thanh toán và chuyển tiền bồi thường. Tuy nhiên, nếu các qui định về tiền trong nước gây trở ngại thì cơ quan có thẩm quyền sẽ thực hiện mọi nỗ lực bằng cách huy động cơ quan quốc tế để đảm bảo việc chuyển bằng đồng tiền quốc tế chuyển đổi được hay bằng một thứ tương đương. c) Bất kỳ lúc nào khi các bản in của một ấn phẩm của tác phẩm được phát hành ở nước tham gia Công ước cho công chúng hay gắn liền với các hoạt động giáo dục có hệ thống bởi người sở hữu quyền phiên bản hay với sự ủy quyền của người đó với giá cả hợp lý thông thường được qui định trong nước đối với các tác phẩm tương đương thì bất kỳ giấy phép nào được cấp theo Điều này sẽ chấm dứt nếu ấn phẩm đó có cùng ngôn ngữ và có thực chất nội dung giống như ấn phẩm được công bố theo giấy phép. Mọi bản in có trước khi giấy phép kết thúc có thể được tiếp tục phát hành cho đến khi kho sách hết. d) Giấy phép không được cấp khi tác giả rút mọi bản của ấn phẩm khỏi lưu hành.

3. a) Theo phân Đoạn (b), các tác phẩm văn học, khoa học hay nghệ thuật được áp dụng Điều này sẽ được hạn chế ở các tác phẩm được công bố dưới hình thức in hay tương tự. b) Các điều kiện của Điều này cũng được áp dụng cho việc phiên bản dưới dạng ghi âm, ghi hình các bản ghi âm, ghi hình bao gồm bất kỳ mọi tác phẩm được bảo hộ bản quyền được đưa vào bản ghi âm, ghi hình, và các điều kiện này cũng được áp dụng cho bản dịch bất kỳ Đoạn ghi âm, ghi hình nào sang ngôn ngữ phổ thông tại nước có quyền cấp giấy phép; nhưng luôn luôn với điều kiện rằng các bản ghi âm, ghi hình được thực hiện và công bố chỉ cho mục đích sử dụng gắn liền với các hoạt động giáo dục có hệ thống.

Điều VI

Thuật ngữ "Công bố" của Công ước này có nghĩa là làm phiên bản dưới hình thức nắm bắt được và sự phát hành chung đến công chúng của các bản in của tác phẩm mà có thể đọc hay thẩm thị.

Điều VII

Công ước này không áp dụng cho các tác phẩm hay các quyền trong tác phẩm mà các tác phẩm đó vào thời hạn có hiệu lực của Công ước này tại nước tham gia Công ước nơi có sự khiếu nại về bản quyền luôn luôn có trong lĩnh vực công cộng.

Điều VIII

1. Công ước này có ghi ngày tháng là 24 tháng 7 năm 1971 sẽ được gửi cho Tổng giám đốc và sẽ để ngỏ cho việc ký kết của tất cả các nước tham gia Công ước 1952 trong thời hạn 120 ngày sau ngày của Công ước. Công ước phải được phê chuẩn hay chấp nhận bởi các nước ký tên.

2. Bất kỳ nước nào chưa ký Công ước này đều có thể tham gia Công ước.

3. Việc phê chuẩn, chấp nhận hay tham gia Công ước sẽ có hiệu lực thông qua việc gửi một văn bản chính thức về các việc này cho Tổng giám đốc.

Điều IX

1. Công ước này sẽ có hiệu lực sau 3 tháng kể từ khi có 12 văn bản phê chuẩn, chấp nhận hay tham gia được gửi đến.

2. Tiếp theo Công ước này sẽ có hiệu lực đối với từng nước sau 3 tháng kể từ khi nước này gửi văn bản chính thức của mình báo rằng đã phê chuẩn, chấp nhận hay tham gia Công ước.

3. Việc tham gia Công ước này bởi một nước không tham gia Công ước 1952 đồng nghĩa với việc tham gia vào Công ước 1952; tuy nhiên, nếu văn bản chính thức về việc tham gia Công ước được gửi trước khi Công ước này có hiệu lực, thì nước đó có thể tham gia Công ước 1952 tùy thuộc vào quá trình hiệu lực hóa của Công ước này. Sau khi Công ước này có hiệu lực, không nước nào có thể chỉ tham gia Công ước 1952.

4. Quan hệ giữa các nước tham gia Công ước này và các nước tham gia Công ước 1952 sẽ được quyết định bởi Công ước 1952. Tuy nhiên, nước chỉ tham gia Công ước 1952, qua thông báo gửi cho Tổng giám đốc, có thể tuyên bố rằng nước đó sẽ chấp nhận việc áp dụng Công ước 1971 cho các tác phẩm của công dân mình hay cho các tác phẩm được công bố trong lãnh thổ của mình bởi mọi nước tham gia Công ước này.

Điều X

1. Mỗi nước tham gia Công ước theo Hiến pháp của mình, cam kết thông qua các biện pháp được coi là cần thiết để đảm bảo việc áp dụng Công ước này.

2. Đương nhiên là vào ngày Công ước này có hiệu lực tại nước bất kỳ nào thì nước đó, theo pháp luật của mình, phải sẵn sàng làm cho các điều khoản của Công ước này có hiệu lực.

Điều XI

1. Theo đó một Uỷ ban liên Chính phủ được thành lập với các nhiệm vụ sau: a) Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc áp dụng và thực hành Công ước Toàn cầu về bản quyền; b) Chuẩn bị sửa đổi theo trình tự đều đặn Công ước này; c) Nghiên cứu mọi vấn đề khác liên quan đến bảo hộ bản quyền quốc tế với sự phối hợp với các tổ chức quốc tế quan tâm khác nhau như Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc, Liên Hiệp Quốc tế bảo hộ bản quyền các tác phẩm văn học và nghệ thuật và tổ chức các nước châu Mỹ. d) Thông báo cho các quốc gia tham gia Công ước toàn cầu về bản quyền về các hoạt động của mình.

2. Uỷ ban được thành lập từ các đại diện của 18 nước tham gia Công ước này hay chỉ tham gia Công ước 1952.

3. Uỷ ban sẽ được lựa chọn thông qua sự cân nhắc cần thiết để tạo ra sự cân bằng thích đáng về lợi ích quốc gia, vị trí địa lý, dân số, ngôn ngữ và giai Đoạn phát triển giữa các nước.

4. Tổng thư ký của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc, Tổng thư ký của tổ chức Sở hữu Trí tuệ quốc tế và Tổng thư ký Tổ chức các nước châu Mỹ hay các đại diện của họ có thể tham dự các cuộc họp của Uỷ ban với tư cách tư vấn.

Điều XII

Bất kỳ nước tham gia Công ước nào vào thời gian gửi văn bản chính thức cho Tổng giám đốc về việc phê chuẩn, chấp nhận hay tham gia, hay vào bất kỳ thời gian tiếp theo nào, đều có thể tuyên bố qua thông báo gửi cho Tổng giám đốc rằng Công ước này sẽ được áp dụng cho toàn bộ hay bất kỳ nước nào hay lãnh thổ nào có quan hệ quốc tế được đại diện bởi nước đó, và do đó Công ước này được áp dụng cho các nước hay lãnh thổ đã được nêu trong thông báo sau khi thời hạn 3 tháng được ghi tại Điều IX kết thúc.

Nếu không có thông báo như vậy thì Công ước này sẽ được áp dụng cho bất kì nước nào hay lãnh thổ nào như vậy.

Tuy nhiên Điều này không chứa đựng điều gì ngụ ý đến việc một nước tham gia Công ước công nhận hay chấp nhận tình hình thực tế liên quan đến một nước hay một lãnh thổ mà ở đó Công ước này được áp dụng bởi nước tham gia Công ước khác theo các qui định của Điều này.

Điều XIV

1. Mọi nước tham gia Công ước có thể bãi bỏ Công ước này với danh nghĩa của mình hay đại diện cho toàn bộ hay là một nước hay lãnh thổ được nêu trong thông báo theo Điều XIII. Việc bãi bỏ được thực hiện qua việc gửi thông báo cho Tổng giám đốc. Sự bãi bỏ như vậy đồng nghĩa với bãi bỏ Công ước 1952.

2. Sự bãi bỏ như vậy sẽ được áp dụng chỉ đối với quốc gia, nước hay lãnh thổ nằm trong sự bãi bỏ này và chỉ có hiệu lực sau 12 tháng kể từ ngày nhận được thông báo.

Điều XV

Nếu việc tranh chấp giữa hai nước hay nhiều nước về cách diễn giải hay áp dụng Công ước này không giải quyết được bằng thương lượng hòa bình sẽ được đưa ra Tòa phán xử quốc tế để quyết định (nếu các nước liên quan không đồng ý với biện pháp giải quyết khác nào đó).

Điều XVI

1. Công ước này được lập bằng tiếng Anh, Pháp và Tây Ban Nha. Cả ba bản ngữ đều được ký và có giá trị như nhau.

2. Văn bản chính thức của Công ước này được lập bởi Tổng giám đốc sau khi đã hội ý với các Chính phủ liên quan bằng tiếng Ả-rập, tiếng Đức, tiếng Ý và tiếng Bồ Đào Nha.

3. Nước tham gia Công ước hay nhóm nước tham gia Công ước có quyền yêu cầu Tổng giám đốc lập các văn bản khác bằng tiếng mình chọn theo thỏa thuận.

4. Mọi văn bản như vậy sẽ được kèm theo các văn bản đã ký của Công ước này.

Điều XVII

1. Công ước này không tác động dưới bất kì hình thức nào đến các điều kiện của Công ước Berne về bản quyền của các tác phẩm văn học và nghệ thuật hay thành phần Thành viên của Liên hiệp do Công ước này lập ra.

2. Để việc áp dụng Đoạn nói trên sẽ có một công bố kèm theo Điều này. Công bố đó là một phần của Công ước này đối với các nước được ràng buộc bởi Công ước Berne ngày 1 tháng 1 năm 1951 hay đối với các nước đã hoặc có thể sẽ bị ràng buộc bởi Công ước đó vào thời điểm muộn hơn việc các nước ký Công ước đó cũng bao hàm việc ký tuyên bố nói trên và việc các nước đó phê chuẩn, chấp nhận hay tham gia sẽ bao hàm cả công bố lần Công ước này.

Điều XVIII

Công ước này không thay bỏ các Công ước đa phương hay song phương về bản quyền hay các thỏa thuận có hay có thể có hiệu lực chỉ cho hai hay nhiều hơn quốc gia Cộng hòa ở châu Mỹ. Trong trường hợp có bất kì bất đồng nào hoặc giữa các điều kiện của Công ước đó hay các thỏa thuận và các điều kiện của Công ước này và các điều kiện của bất kì công ước mới nào hay thỏa thuận mới nào mà có thể được lập giữa hai hay nhiều nước Cộng hòa châu Mỹ sau khi Công ước này có hiệu lực thì Công ước hay thỏa thuận mới nhất sẽ chiếm ưu thế giữa các bên. Các quyền trong các tác phẩm có ở bất kì nước tham gia Công ước nào theo các Công ước hay thỏa thuận lưu hành trước khi Công ước này có hiệu lực ở nước đó đều không có hiệu lực.

Điều XIX

Công ước này không thay bỏ các Công ước đa phương hay song phương hay các thỏa thuận có hiệu lực giữa hai hay nhiều nước tham gia Công ước. Trong trường hợp có bất kì bất đồng nào giữa các điều kiện của các Công ước hay thỏa thuận đó và các điều kiện của Công ước này thì các điều kiện của các Công ước này sẽ chiếm ưu thế. Các quyền trong các tác phẩm có ở bất kì nước tham gia Công ước nào theo các Công ước và thỏa thuận lưu hành trước ngày Công ước này có hiệu lực ở nước đó sẽ không có hiệu lực. Điều này cũng không bao gồm điều nào tác động đến các điều kiện của các Điều XI và XVIII.

Điều XX

Mọi bảo lưu đối với Công ước này đều không được phép.

Điều XXI

1. Tổng giám đốc sẽ gửi các bản sao hợp lệ của Công ước này đến các nước quan tâm và đến Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc để vào sổ đăng ký.

2. Tổng giám đốc cũng thông báo cho các nước quan tâm về các phê chuẩn, chấp nhận và tham gia đã được gửi đến, ngày có hiệu lực của Công ước này, các thông báo theo Công ước này và mọi sự bãi bỏ theo Điều XIV.

Tuyên bố phụ lục liên quan đến điều XVII

Các nước Thành viên của Liên Hiệp Quốc tế về bảo hộ bản quyền các tác phẩm văn học và nghệ thuật (sau đây được gọi là Liên hiệp Berne) và các nước ký Công ước này, xuất phát từ nguyện vọng củng cố các mối quan hệ tương hỗ trên cơ sở của Liên hiệp và tránh mọi xung đột có thể xảy ra do có sự cùng tồn tại của Công ước Berne và Công ước Toàn cầu về bản quyền, đồng thời công nhận rằng hiện thời cần thiết phải có một số nước nắm việc điều chỉnh việc bảo hộ bản quyền phù hợp với mức phát triển của các nước đó về văn hóa, xã hội và kinh tế bằng thỏa thuận chung đã chấp nhận các điều khoản của tuyên bố sau đây:

a) Trừ những điều được nêu ở Khoản (b), các tác phẩm mà theo Công ước Berne có nước gốc là nước đã rút khỏi Liên hiệp Berne sau ngày 1 tháng 1 năm 1951 sẽ không được Công ước Toàn cầu về bản quyền bảo hộ bản quyền tại các nước của Liên hiệp Berne;

b) Nếu nước tham gia Công ước được coi là nước phát triển theo thông lệ của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc và vào lúc rút khỏi Liên hiệp Berne đã gửi cho Tổng giám đốc của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc một thông báo về việc nước đó coi mình là nước phát triển thì điều kiện của Đoạn (a) sẽ không được áp dụng cho nước này bởi vì nước này vẫn có thể sử dụng các ngoại lệ mà Công ước này đưa ra theo Điều V bis ;

c) Hiệp ước Toàn cầu về bản quyền sẽ không áp dụng cho các mối quan hệ giữa các nước trong Liên hiệp Berne do nó liên quan đến việc bảo hộ bản quyền của các tác phẩm mà theo Công ước Berne có nước gốc là nước của Liên hiệp Berne.

Nghị quyết liên quan đến Điều XI

Hội nghị sửa đổi Công ước Toàn cầu về bản quyền sau khi xem xét các vấn đề liên quan đến Uỷ ban liên chính phủ được nêu tại Điều XI của Công ước này mà có Nghị định này kèm theo Nghị định:

1. Trong giai Đoạn đầu, Uỷ ban sẽ gồm đại diện của 12 nước Thành viên của Uỷ ban liên chính phủ thành lập theo Điều XI của Công ước 1952 và Nghị định kèm theo và các đại diện bổ sung của các nước sau: Algeria, Australia, Nhật, Mexico, Senegal và Nam Tư.

2. Các quốc gia không tham gia Công ước 1952 và không tham gia Công ước này cho đến trước phiên họp thường lệ đầu tiên của Uỷ ban sau khi Công ước này có hiệu lực sẽ bị thay thế bởi các nước khác do Uỷ ban chọn trong phiên họp thường lệ đầu tiên theo các điều kiện của Điều XI (2) và (3).

3. Ngay sau khi Công ước này có hiệu lực, Uỷ ban, theo Đoạn 1, sẽ được coi là đã được thành lập phù hợp với Điều XI của Công ước này.

4. Một phiên họp của Uỷ ban sẽ diễn ra trong vòng 1 năm sau khi Công ước này có hiệu lực, sau đó Uỷ ban sẽ họp ở phiên thường lệ sau khoảng thời gian không quá 2 năm.

5. Uỷ ban sẽ bầu chủ tịch và 2 phó chủ tịch Uỷ ban sẽ xác lập các qui định về thủ tục, về các ngyên tắc sau: a) Nhiệm kì bình thường của các Thành viên đại diện của Uỷ ban là 6 năm và hai năm một lần, 1/3 số thành viên sẽ nghỉ hưu, tức là trong số nhiệm kì gốc thì 1/3 sẽ chấm dứt vào lúc kết thúc của phiên họp thường lệ thứ hai của Uỷ ban diễn ra sau khi Công ước này có hiệu lực, 1/3 tiếp theo chấm dứt vào lúc kết thúc của phiên họp thường lệ thứ ba và 1/3 còn lại chấm dứt vào lúc kết thúc của phiên họp thường lệ thứ tư. b) Các qui tắc chỉ đạo thủ tục bổ sung các Thành viên khuyết của Uỷ ban, trình tự mãn nhiệm của các Thành viên của Uỷ ban, tư cách của Thành viên để được bầu lại và các thủ tục bầu cử phải được đặt cơ sở trên sự cân đối các nhu cầu về duy trì thành phần thành viên và sự luân chuyển của các đại diện cũng như những xem xét đưa ra ở Điều XI (3).

Hội nghị thể hiện nguyện vọng rằng Tổ chức giáo dục khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc sẽ qui định ban thư ký của mình.

Tin tưởng vào Công ước này nước có tên ở dưới, cùng với mọi thẩm quyền của mình, ký Công ước này.

Lập tại Paris ngày 24 tháng 7 năm 1971 trong một biên bản duy nhất.

Biên bản 1

(Kèm theo Công ước toàn cầu về bản quyền sửa đổi tại Paris ngày 24 tháng 7 năm 1971 liên quan đến việc áp dụng Công ước này đối với các công dân không có quốc tịch và người tị nạn.)

Các nước tham gia ở đây cũng là các nước tham gia Công ước Toàn cầu về bản quyền được sửa đổi tại Paris ngày 24 tháng 7 năm 1971 (sau đây được gọi là Công ước 1971) chấp nhận các điều kiện sau:

1. Các cá nhân không có quốc tịch và người tị nạn có chỗ ở thường xuyên ở một nước tham gia biên bản này, với mục đích của Công ước 1971, sẽ trở thành công dân của nước đó.

2. a) Biên bản này sẽ được ký và phải được phê chuẩn, thông qua, hay có thể cho tham gia như thể là các điều kiện của Điều VIII của Công ước 1971 được áp dụng ở đây. b) Biên bản này sẽ có hiệu lực đối với mỗi nước vào ngày gửi văn bản chính thức về phê chuẩn, chấp nhận hay tham gia của nước liên quan hay vào ngày có hiệu lực của Công ước 1971 đối với nước đó bất kể ngày nào xảy ra muộn hơn. c) Khi biên bản này có hiệu lực đối với nước không tham gia vào biên bản 1 kèm theo Công ước 1952 thì biên bản có sau sẽ được coi là có hiệu lực đối với nước đó.

Tin tưởng vào biên bản này, các nước có tên dưới đây, với thẩm quyền của mình, ký biên bản này.

Biên bản này được lập tại Paris ngày 24 tháng 7 năm 1971 bằng tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Tây ban Nha trong một bản duy nhất với giá trị của cả ba tiếng như nhau và sẽ được gửi cho Tổng giám đốc của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc. Tổng giám đốc sẽ gửi các bản sao đã được chứng thực cho các nước ký kết và gửi cho Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc để vào sổ đăng ký.

Biên bản 2

(Kèm theo Công ước Toàn cầu về bản quyền được sửa đổi tại Paris ngày 24 tháng 7 năm 1971 về việc áp dụng Công ước này đối với các tác phẩm của một số tổ chức quốc tế).

Các nước tham gia biên bản này cũng là các nước tham gia Công ước Toàn cầu về bản quyền được sửa đổi tại Paris ngày 24 tháng 7 năm 1971 (sau đây được gọi là Công ước 1971) chấp nhận các điều kiện sau:

1. a) Việc bảo hộ bản quyền được nêu ở Điều II (1) của Công ước 1971 sẽ được áp dụng cho các tác phẩm được công bố lần đầu tiên bởi Liên Hiệp Quốc, bởi các hãng đặc biệt liên quan với Liên Hiệp Quốc hay bởi tổ chức các nước châu Mỹ. b) Tương tự, Điều 2 của Công ước 1971 sẽ được áp dụng cho tổ chức hay các hãng đã được nói.

2. a) Biên bản này sẽ được ký và sẽ phải được phê chuẩn hay chấp nhận hay có thể cho tham gia như thể các điều kiện của Điều VIII của Công ước 1971 được áp dụng ở đây. b) Biên bản này sẽ có hiệu lực đối với mỗi nước vào ngày gửi văn bản chính thức về phê chuẩn, thông qua hay tham gia của nước liên quan hay vào ngày hiệu lực của Công ước 1971 đối với nước đó bất kể ngày nào diễn ra muộn hơn.

Tin tưởng vào biên bản này, các nước có tên dưới đây, với thẩm quyền của mình, ký biên bản này.

Biên bản này được lập tại Paris ngày 24 tháng 7 năm 1971 bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha trong một bản duy nhất với giá trị của các tiếng như nhau và sẽ được gửi cho Tổng giám đốc của tổ chức giáo dục khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc. Tổng giám đốc sẽ gửi các bản sao đã được chứng thực cho các nước ký kết và cho Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc để vào sổ đăng ký.

Thể loại:Công ước Thể loại:Luật bản quyền

bg:Универсална конвенция за авторско право cs:Všeobecná úmluva o autorském právu en:Universal Copyright Convention ja:千九百七十一年七月二十四日にパリで改正された万国著作権条約