Công ước Toàn cầu về bản quyền

Part 1

Chapter 14,899 wordsPublic domain (Wikisource)

Xuất phát từ nguyện vọng bảo đảm các quyền về bản quyền tại tất cả các nước trên thế giới đối với các tác phẩm văn học, khoa học và nghệ thuật.

Tin tưởng rằng một hệ thống bản quyền thích hợp với mọi quốc gia trên thế giới được thể hiện qua một Công ước Toàn cầu mang tính chất bổ sung và không gây tổn hại đến các hệ thống bản quyền quốc tế hiện sẽ có sự bảo đảm tôn trọng quyền của các cá nhân và khuyến khích sự phát triển của văn học, khoa học và nghệ thuật.

Tin tưởng rằng một hệ thống bản quyền toàn cầu như vậy sẽ thúc đẩy phổ cập rộng rãi hơn các tác phẩm trí tuệ và tăng cường sự hiểu biết quốc tế.

Các nước tham gia Công ước quyết định sửa đổi Công ước Toàn cầu về bản quyền tại Geneva ngày 6 tháng 9 năm 1952 và tiếp theo đó đã thỏa thuận như sau:

Điều I

Mỗi nước tham gia Công ước cam kết bảo đảm việc bảo hộ các quyền của các tác giả và những người sở hữu bản quyền khác của các tác giả và những người sở hữu bản quyền khác về văn học, khoa học và nghệ thuật bao gồm các tác phẩm viết, các tác phẩm âm nhạc, kịch, điện ảnh, các tranh vẽ, khắc và điêu khắc.

Điều II

1. Ngoài sự bảo hộ bản quyền đặc biệt do Công ước này mang lại các tác phẩm được công bố của công dân của bất kì nước nào tham gia Công ước và các tác phẩm được công bố lần đầu ở nước đó còn được hưởng tại các nước tham gia Công ước khác sự bảo hộ bản quyền mà các nước này áp dụng đối với các tác phẩm của các công dân của mình lần đầu tiên được công bố trong lãnh thổ của mình.

2. Ngoài sự bảo hộ bản quyền đặc biệt do Công ước này mang lại, các tác phẩm còn chưa được công bố của công dân mỗi nước tham gia Công ước còn được hưởng tại các nước tham gia Công ước khác sự bảo hộ bản quyền mà các nước này áp dụng đối với các tác phẩm còn chưa được công bố của các công dân của mình.

3. Công ước này còn có mục đích là bất kì nước nào tham gia Công ước, trên cơ sở luật pháp của nước mình, có thể cho phép mọi công dân cư trú tại nước mình trở thành công dân của nước mình.

Điều III

1. Các nước tham gia Công ước mà theo luật pháp của nước mình coi sự tuân thủ các thủ tục như lưu chiểu, đăng ký, thông báo, công chứng, thanh toán các khoản phí, chế tạo hay ấn hành ở các nước đó như là một điều kiện để bảo hộ bản quyền phải coi các thủ tục này là đã được đáp ứng như là một điều kiện để bảo hộ bản quyền phải coi các thủ tục này là đã được đáp ứng đối với mọi tác phẩm được bảo hộ theo Công ước này và được công bố lần đầu ở ngoài lãnh thổ của mình và tác giả của chúng không phải là công dân của mình, nếu như từ lần công bố đầu tiên mọi bản của tác phẩm được công bố với quyền tác giả của tác giả hay của người sở hữu bản quyền khác có mang dấu (c) kèm theo tên người sở hữu bản quyền và năm in đầu tiên được sắp xếp theo cách như vậy cùng tên địa phương với tư cách là địa chỉ đúng trong trường hợp khiếu nại về bản quyền.

2. Các qui định tại Đoạn 1 không ngăn cản việc bất kì một nước nào tham gia Công ước yêu cầu có các thủ tục hay có các điều kiện khác để được có hay được hưởng sự bảo hộ bản quyền đối với các tác phẩm được in lần đầu ở nước đó hay các tác phẩm của các công dân của nước đó dù được in ở bất kì nơi nào.

3. Các điều kiện của Đoạn 1 không ngăn cản việc bất kì nước tham gia Công ước nào qui định rằng người tìm kiếm sự giúp đỡ của Tòa án trong khi tiến hành khiếu nại phải tuân thủ các yêu cầu thủ tục, ví dụ như người khiếu nại phải trình diện thông qua luật sư trong nước hay người khiếu nại phải lưu tại Tòa hay tại một cơ quan hành chính (hay tại cả hai nơi) một bản của tác phẩm được khiếu nại; với điều kiện rằng việc không tuân thủ các yêu cầu này không ảnh hưởng đến giá trị của bản quyền cũng như bất kì một yêu cầu như vậy sẽ không được áp đặt cho công dân của một nước khác tham gia Công ước một khi nó không được áp dụng cho công dân của một nước mà tại đó có sự khiếu nại về bảo hộ bản quyền.

4. Mỗi nước tham gia Công ước phải có các biện pháp pháp luật không kèm theo các thủ tục để bảo hộ các tác phẩm còn chưa công bố của các công dân của các nước tham gia Công ước khác.

5. Nếu một nước tham gia Công ước đưa ra một sự bảo hộ bản quyền gồm nhiều giai Đoạn và giai Đoạn đầu tiên dài hơn một trong số các giai Đoạn ngắn nhất được ghi ở Điều IV thì nước đó không phải tuân thủ các điều kiện của Đoạn 1 của Điều này....

Điều IV

1. Theo các điều kiện của Điều II và Điều này, thời hạn bảo hộ bản quyền cho một tác phẩm sẽ được quyết định bởi pháp luật của nước tham gia Công ước mà tại đó xảy ra việc khiếu nại về bản quyền của tác phẩm.

2. a) Thời hạn bảo hộ bản quyền của tác phẩm được bảo hộ bởi Công ước này không được ngắn hơn đời người của tác giả và 25 năm sau khi tác giả chết. Tuy nhiên, nếu bất kỳ một nước nào tham gia Công ước vào ngày Công ước này có hiệu lực tại nước đó hạn chế thời hạn này đối với một số tác phẩm bằng một thời hạn được tính từ lần công bố đầu tiên của tác phẩm sẽ được quyền duy trì các hạn chế này và được phổ cập các hạn chế này sang các loại tác phẩm khác. Đối với các loại tác phẩm này, thời hạn bảo hộ quyền tác phẩm không được dưới 25 năm kể từ ngày công bố lần đầu tiên của tác phẩm. b) Bất kỳ một nước nào tham gia Công ước này nếu vào ngày Công ước này có hiệu lực tại nước đó không tính thời hạn bảo hộ quyền tác phẩm trên cơ sở đời người của tác giả thì có quyền tính thời hạn bảo hộ bản quyền từ ngày công bố lần đầu tiên của tác phẩm hoặc ngày đăng ký của tác phẩm trước khi công bố, tùy theo từng trường hợp, với điều kiện là thời hạn bảo hộ bản quyền của tác phẩm không dưới 25 năm kể từ ngày công bố lần đầu tiên hoặc từ ngày đăng ký của tác phẩm, tùy theo từng trường hợp. c) Nếu cơ quan lập pháp của nước tham gia Công ước cho phép có từ hai thời hạn bảo hộ bản quyền liên tiếp trở lên thì thời gian của thời hạn thứ nhất không được ngắn hơn một trong những thời hạn tối thiểu được ghi trong phần Đoạn (a) và (b).

3. Các điều kiện của Đoạn 2 sẽ không được áp dụng đối với các tác phẩm nhiếp ảnh hay các tác phẩm nghệ thuật ứng dụng, tuy nhiên với điều kiện rằng thời hạn bảo hộ bản quyền tại các nước tham gia Công ước (mà các nước đó bảo hộ bản quyền các tác phẩm nhiếp ảnh hay các tác phẩm nghệ thuật ứng dụng trong chừng mực chúng được bảo hộ bản quyền như là các tác phẩm nghệ thuật), không được ngắn hơn 10 năm đối với mỗi loại tác phẩm được nói trên.

4. a) Trong trường hợp các tác phẩm không được công bố theo pháp luật của nước tham gia Công ước mà tác giả của tác phẩm là công dân và trong trường hợp các tác phẩm được công bố theo pháp luật của nước tham gia Công ước mà tại đó tác phẩm được công bố lần đầu tiên, không nước tham gia Công ước nào phải bị bắt buộc phải bảo hộ bản quyền cho một tác phẩm trong một thời hạn dài hơn thời hạn được quy định cho loại tác phẩm của tác phẩm đó. b) Nhằm mục đích áp dụng phân Đoạn (a), nếu pháp luật của nước tham gia Công ước nào cho phép có hai thời hạn bảo hộ bản quyền liên tiếp trở lên thì thời hạn bảo hộ bản quyền của nước đó sẽ là tổng thời hạn của các thời hạn nói trên. Tuy nhiên, nếu tác phẩm được nói trên không được bảo hộ bản quyền trong thời hạn thứ hai hay trong bất kỳ thời hạn tiếp theo nào, vì bất cứ lý do nào, thì các nước tham gia Công ước khác sẽ không bị bắt buộc phải bảo hộ tác phẩm này trong thời hạn thứ hai hay bất kỳ thời hạn tiếp theo nào.

5. Nhằm mục đích áp dụng Đoạn 4, một tác phẩm của công dân của nước tham gia Công ước nếu lần đầu tiên được công bố tại nước không tham gia Công ước sẽ được coi như được công bố lần đầu tiên tại nước tham gia Công ước mà tác giả của tác phẩm là công dân.

6. Nhằm mục đích áp dụng Đoạn 4, trong trường hợp một tác phẩm được công bố đồng thời tại hai nước tham gia Công ước trở lên, tác phẩm đó sẽ được coi như tác phẩm được in lần đầu tiên tại nước cho phép thời hạn bảo hộ bản quyền ngắn nhất. Bất kì tác phẩm nào được công bố tại hai nước tham gia Công ước trở lên trong vòng 30 ngày của lần công bố đầu tiên sẽ được coi như được công bố đồng thời tại các nước tham gia Công ước được nói trên.

Điều IV bis

1. Các quyền được nêu trong Điều I bao gồm các quyền cơ bản bảo đảm lợi ích kinh tế của tác giả trong đó có cả quyền đặc biệt được ủy quyền tạo ra phiên bản bằng bất cứ phương tiện nào, cho phép trình diễn công cộng hay truyền thanh, truyền hình. Các điều kiện của Điều này sẽ được phép phổ cập sang cho các tác phẩm được bảo hộ bởi Công ước này dưới hình thức nguyên tác hay dưới bất kì hình thức có thể nhận biết nào được bắt nguồn từ nguyên tác

2. Tuy nhiên, bất kì một nước tham gia Công ước nào trên cơ sở pháp luật của nước mình, có thể cho phép các ngoại lệ mà không đối lập với tinh thần và các điều kiện của Công ước này, không đối lập với các quyền được nhắc tại Đoạn 1 của Điều này. Tuy nhiên, bất kì nước nào mà cơ sở pháp luật cho phép như vậy phải đưa lại một mức độ bảo hộ bản quyền có hiệu quả hợp lí cho mỗi quyền trong số các quyền được có các ngoại lệ.

Điều V b) Các quyền được nói trong Điều I bao gồm cả quyền đặc biệt của tác giả được làm, công bố và ủy quyền làm và công bố các bản dịch của các tác phẩm được bảo hộ bản quyền theo Công ước này.

2. Tuy nhiên, bất kì nước tham gia Công ước nào trên cơ sở pháp luật của mình đều có thể hạn chế quyền dịch các bản viết mà chỉ tuân theo các điều kiện sau: a) Nếu thời hạn 7 năm kể từ ngày công bố lần đầu tiên của bản viết chấm dứt bản dịch của bản viết đó còn chưa được công bố bởi người giữ bản quyền của bản dịch hay có ủy quyền về bản dịch bằng ngôn ngữ sử dụng phổ thông tại nước tham gia Công ước thì bất kì công dân nào của nước tham gia Công ước đó có thể xin giấy phép bình thường từ một cơ quan có thẩm quyền để dịch tác phẩm thành tiếng của nước tham gia Công ước này và công bố tác phẩm dịch này. b) Theo thủ tục của Nhà nước liên quan, công dân này sẽ xác định hoặc đã yêu cầu, nhưng bị từ chối sự ủy quyền bởi người sở hữu quyền làm và công bố bản dịch, hoặc xác định rằng sau khi thực hiện các nỗ lực cần thiết về phía mình công dân đó không thể tìm ra chủ sở hữu bản quyền. Một giấy phép có thể trao cho các điều kiện như thế nếu mọi bản xuất bản trước của bản dịch bằng tiếng phổ thông của nước tham gia Công ước không còn nữa. c) Nếu chủ sở hữu bản quyền dịch không thể tìm ra được thì người xin giấy phép phải gửi các bản sao đơn của người đó đến người công bố có tên trong tác phẩm, và trong trường hợp quốc tịch của người sở hữu bản quyền dịch đã rõ, thì gửi đến tổ chức đại diện ngoại giao hay lãnh sự của nước mà người sở hữu bản quyền dịch là công dân hoặc đến một tổ chức này mà có thể được Chính phủ của nước đó ủy nhiệm. Giấy phép chỉ được trao sau thời hạn hai tháng kể từ ngày gửi các bản sao của đơn xin giấy phép. d) Luật pháp trong nước phải qui định điều kiện nhằm bảo đảm cho người sở hữu bản quyền dịch một sự bồi thường công bằng và phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, bảo đảm việc thanh toán và chuyển khoản bồi thường đó và bảo đảm bản dịch đúng của tác phẩm. e) Tên gọi nguyên tác và tên tác giả của tác phẩm phải được in tại mọi bản của bản dịch được công bố. Giấy phép chỉ có giá trị để công bố bản dịch tại lãnh thổ của nước tham gia Công ước mà đơn xin phép yêu cầu. Các bản được công bố như vậy có thể được nhập và bán ở nước tham gia Công ước khác nếu tiếng phổ thông của nước khác đó cũng chính là tiếng mà tác phẩm được dịch sang và nếu pháp luật của nước khác đó có qui định cho phép các giấy phép như vậy và không cấm việc nhập khẩu và bán các bản dịch. Trong trường hợp các điều kiện nói trên không được qui định, việc nhập và bán các bản dịch như vậy sẽ được quyết định bởi pháp luật trong nước và các thỏa thuận. Người được cấp giấy phép không được chuyển giao giấy phép. f) Giấy phép không được cấp khi tác giả rút lưu hành mọi bản của tác phẩm.

Điều V bis

1. Bất kì nước tham gia Công ước nào được coi là nước phát triển theo qui định của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc vào thời gian phê chuẩn, tiếp nhận và bổ sung (hoặc vào các thời gian tiếp theo) bản thông báo do Tổng giám đốc của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (gọi chung là Tổng giám đốc) đều có thể sử dụng một trong các ngoại lệ được đưa ra tại Điều V ter và Điều V quater .

2. Bất kì thông báo nào như vậy sẽ có hiệu lực 10 năm kể từ ngày Công ước này có hiệu lực hoặc là có hiệu lực trong thời gian còn lại của thời hạn 10 năm kể từ ngày bản thông báo được gửi đến. Thông báo này có thể được đổi mới toàn bộ hay một phần cho mỗi thời hạn 10 năm tiếp theo nếu trong thời gian ít nhất là 3 tháng và nhiều nhất là 15 tháng trước thời hạn 10 năm kết thúc nước tham gia Công ước gửi bản thông báo tiếp theo cho Tổng giám đốc.

Các thông báo đầu tiên vẫn có thể được ban hành trong các thời hạn tiếp theo (theo các điều kiện của Điều này).

3. Bất chấp các điều kiện của Đoạn 2, một nước tham gia Công ước không được coi là nước phát triển (như được nêu trong Đoạn 1) sẽ thôi không được quyền đổi mới thông báo của mình được thực hiện theo các điều kiện của Đoạn 1 và 2, và dù nước đó có rút hay không rút chính thức bản thông báo, thì nước đó sẽ không được sử dụng các ngoại lệ ghi trong các Điều V ter và V quater vào lúc kết thúc của thời hạn 10 năm hiện hành hay vào lúc kết thúc thời hạn 3 năm kể từ khi thôi không được coi là nước phát triển, bất kể thời hạn nào chấm dứt muộn hơn.

4. Bất kì bản nào của tác phẩm được tái tạo theo các ngoại lệ của Điều V ter và Điều V quater có thể được tiếp tục phát hành sau thời hạn có hiệu lực của các thông báo của Điều này cho tới khi kho sách hết.

5. Bất kỳ nước tham gia Công ước nào đã gửi thông báo phù hợp với Điều XIII nhằm mục đích áp dụng Công ước này tại một nước hay một lãnh thổ nào đó có tình hình có thể coi là tương tự với tình hình của những nước được nói đến trong Đoạn 1 của Điều này thì có thể gửi các thông báo hay đổi mới chúng theo các điều kiện của Điều này đối với bất kỳ một nước nào hay lãnh thổ nào như vậy. Trong thời hạn có hiệu lực của các thông báo này, các điều kiện của các Điều V ter và V quater có thể được áp dụng đối với một nước hay một lãnh thổ như vậy. Việc gửi các bản từ một nước hay một lãnh thổ đến nước tham gia Công ước sẽ được coi như là một sự xuất khẩu theo ý nghĩa của các Điều V ter và V quater .

Điều V ter

1. a) Bất kỳ một nước tham gia Công ước nào mà các Điều V ter được áp dụng có thể thay thế thời hạn 7 năm được đưa ra trong Điều V(2) bằng một thời hạn 3 năm hay bằng một thời hạn dài hơn mà pháp luật của nước đó qui định. Tuy nhiên, trong trường hợp bản dịch được dịch sang thứ tiếng không phổ thông ở một hay nhiều hơn các nước phát triển là một bên của Công ước này hay chỉ của Công ước năm 1952 thì thời hạn sẽ là 1 năm thay cho 3 năm. b) Nước tham gia Công ước mà các Điều V bis (1) được áp dụng có thể (với sự thỏa thuận nhất trí của các nước phát triển tham gia vào Công ước này hay chỉ của Công ước năm 1952 và ở các nước đó tiếng mà tác phẩm được dịch sang là thứ tiếng phổ thông) có thể thay thế (trong trường hợp dịch sang tiếng đó) thời hạn 3 năm được nêu ở phân Đoạn (a) bằng một thời hạn khác được xác định bằng thỏa thuận đó nhưng không được ngắn hơn 1 năm. Tuy nhiên, phân Đoạn này không áp dụng ở nơi mà ngôn ngữ được đề cập là tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha. Thông báo về một thỏa thuận như vậy phải được báo lên Tổng giám đốc. c) Giấy phép chỉ được cấp nếu người xin (phù hợp với thủ tục của nước liên quan) xác định rằng hoặc người xin đã yêu cầu, và bị từ chối, sự ủy quyền của người sở hữu bản quyền dịch, hay xác định rằng, sau khi người xin đã có những nỗ lực cần thiết, người xin không thể tìm ra người sở hữu bản quyền dịch. Vào lúc mà người xin yêu cầu, người xin phải thông báo hoặc là cho Trung tâm thông tin bản quyền quốc tế của Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc hoặc là cho bất kỳ Trung tâm Thông tin quốc gia hay khu vực nào mà Chính phủ quốc gia thông báo cho Tổng giám đốc là có chức năng làm nhiệm vụ này; và tại nước mà Chính phủ quốc gia của nó thông báo cho Tổng giám đốc thì người công bố phải được coi là có trụ sở kinh doanh chính. d) Nếu người sở hữu bản quyền chính không thể tìm ra được thì người xin phép giấy phép phải gửi (bằng bưu điện bảo đảm) cho các bản sao đơn của người xin cho người công bố có tên ở tác phẩm hay đến bất kỳ Trung tâm Thông tin quốc gia hay khu vực nào như được nêu ở phân Đoạn (c). Nếu không gửi đến Trung tâm nào như vậy thì người xin phải gửi một bản sao đến Trung tâm thông tin bản quyền quốc tế của Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc.

2. (a) Các giấy phép nhận được sau 3 năm theo Điều này sẽ không được trao trước khi thời hạn 6 tháng tiếp theo kết thúc và giấy phép nhận được sau một năm sẽ không được trao trước khi thời hạn 9 tháng tiếp theo kết thúc. Thời hạn tiếp theo được bắt đầu hoặc là từ ngày yêu cầu cho phép dịch như được nhắc ở Đoạn 1(c) hoặc (nếu đặc điểm hay địa chỉ của người sở hữu bản quyền không rõ) từ ngày gửi các bản sao của đơn xin giấy phép như được nhắc ở Đoạn 1(d), (b) các giấy phép không được trao nếu bản dịch đã được công bố bởi người sở hữu bản quyền dịch hoặc được công bố với sự ủy quyền của người sở hữu bản quyền trong thời hạn 6 tháng hay 9 tháng được nói trên.

3. Bất kì giấy phép nào, theo điều này, sẽ chỉ được trao với mục đích giáo dục, học thuật và nghiên cứu.

4. a) Bất kì giấy phép nào được trao theo Điều này không được mở rộng sang việc xuất khẩu các bản sao và chỉ có giá trị cho việc công bố tác phẩm tại lãnh thổ của nước tham gia Công ước mà ở đó yêu cầu giấy phép. b) Bất kì bản thảo nào được công bố theo giấy phép được cấp phù hợp với điều này phải có thông báo bằng ngôn ngữ thích hợp, thông báo rằng bản thảo được phát hành chỉ ở nước tham gia Công ước mà nước đó cấp giấy phép. Nếu bản thảo có thông báo như được ghi ở Điều III (1) thì các bản sao phải có thông báo như vậy. Việc cấm xuất khẩu được nêu ở Đoạn (a) sẽ không được áp dụng nếu thực tế Chính phủ hay công cộng của quốc gia đã cấp giấy phép theo Điều này cho phép dịch tác phẩm sang một thứ tiếng khác với tiếng Anh, Pháp hay Tây Ban Nha gửi các bản dịch được thực hiện theo giấy phép đó đến một nước khác nếu: (i) Những người nhận là các cá nhân là công dân của nước tham gia Công ước cấp giấy phép hay là các tổ chức tập hợp các cá nhân đó; (ii) Các bản in sẽ được sử dụng chỉ cho mục đích giáo dục, học thuật và nghiên cứu; (iii) Việc gửi các bản in và việc phát hành tiếp theo đến người nhận không nhằm mục đích thương mại; và (iv) Các nước mà các bản in được gửi đến đã thỏa thuận với nước tham gia Công ước cho phép thực hiện việc nhận, phát hành hay cho phép cả việc nhận và phát hành và Tổng giám đốc đã được thông báo về một sự thỏa thuận như vậy bởi bất kì một Chính phủ nào đã giao kết Công ước.

5. Một điều kiện thích đáng ở tầm quốc gia phải được ban hành nhằm bảo đảm: a) Giấy phép bảo đảm một sự bồi thường công bằng và phù hợp với các mức tiền bản quyền thông thường trong trường hợp các giấy phép được đàm phán một cách tự do giữa các cá nhân của hai nước liên quan; và b) Việc thanh toán hay chuyển tiền bồi thường. Tuy nhiên, nếu việc thanh toán bằng tiền trong nước gây trở ngại thì cơ quan có thẩm quyền sẽ thực hiện mọi nỗ lực bằng cách huy động chính quyền quốc tế để bảo đảm việc chuyển tiền bằng đồng tiền quốc tế chuyển đổi được hay bằng một thứ tương đương.

6. Bất kì giấy phép nào mà nước tham gia Công ước cấp theo Điều này sẽ chấm dứt khi một bản dịch của tác phẩm cùng một ngôn ngữ có nội dung về thực chất giống như là bản đã xuất bản theo giấy phép đã cấp được công bố ở nước tham gia Công ước đó bởi người sở hữu bản quyền dịch hay theo sự ủy quyền của người đó với giá cả hợp lý so với các giá được nước đó qui định đối với các tác phẩm tương đương. Mọi bản in được in ra trước khi giấy phép hết hạn vẫn có thể được tiếp tục phát hành cho đến khi kho sách hết.

7. Đối với các tác phẩm chủ yếu gồm các minh họa thì giấy phép cho dịch phần văn bản và tái tạo các minh họa chỉ có thể được cấp nếu các điều kiện của Điều V quarter cũng được thực hiện.

8. a) Giấy phép cho dịch một tác phẩm được bảo hộ bản quyền theo Công ước này (được công bố dưới hình thức in hay tương tự) cũng có thể được trao cho tổ chức phát thanh, truyền hình có trụ sở ở nước tham gia Công ước được áp dụng Điều V bis (1) sau khi tổ chức này làm đơn xin giấy phép ở nước đóng trụ sở theo các điều kiện sau: (i) Bản dịch được dịch từ văn bản được thực hiện và có được phù hợp với pháp luật của nước tham gia Công ước; (ii) Bản dịch chỉ được sử dụng cho các chương trình phát thanh, truyền hình chỉ nhằm mục đích giáo dục hay phổ biến các kết quả nghiên cứu kỹ thuật hay khoa học chuyên ngành cho các chuyên gia của một ngành nhất định; (iii) Bản dịch chỉ được sử dụng cho các mục đích được nêu trong điều kiện (ii), thông qua các chương trình phát thanh hay truyền hình được thực hiện đúng pháp luật nhằm vào thính giả, khán giả trong lãnh thổ của nước tham gia Công ước bao gồm cả các chương trình phát thanh hay truyền hình thông qua phương tiện ghi âm, ghi hình được thực hiện hợp pháp và chỉ nhằm vào mục đích của các chương trình phát thanh và truyền hình như vậy. (iv) Các ghi âm, ghi hình bản dịch chỉ được trao đổi giữa các tổ chức phát thanh, truyền hình có trụ sở đóng tại nước tham gia Công ước cấp giấy phép; và (v) Mọi việc sử dụng bản dịch không nhằm mục đích thương mại. (b) Nếu mọi tiêu chuẩn và điều kiện nêu trong phân Đoạn (a) được thỏa mãn thì giấy phép cũng có thể được cấp cho tổ chức phát thanh hay truyền hình cho phép dịch bất kỳ văn bản nào là bộ phận hợp thành của bản ghi âm, ghi hình mà bản thân nó được thực hiện và công bố chỉ nhằm để sử dụng gắn liền với các hoạt động giáo dục có hệ thống. (c) Theo phân Đoạn (a) và (b), các điều kiện khác của điều này sẽ được áp dụng cho việc cấp và thực hiện giấy phép.

9. Theo các điều kiện của điều này, bất kỳ giấy phép nào được cấp theo điều này sẽ được quyết định bởi các điều kiện của Điều V và sẽ tiếp tục được quyết định bởi các điều kiện của Điều V và của Điều này thậm chí sau khi thời hạn 7 năm được nêu ở Điều V(2) kết thúc. Tuy nhiên, sau khi thời hạn đã nói kết thúc thì người được cấp giấy phép được tự do yêu cầu đổi giấy phép mới; điều này được quyết định đặc biệt bởi các điều kiện của Điều V.

Điều V quarter