Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi 1876
Part 3
thoại Nguyên huyện, 8 tổng, 117 xã, thôn, trang, trại, giáp.
An định huyện, 8 tổng, 107 xã, thôn, trang, trại, phường.
3/. Quảng Hóa phủ, 4 huyện, 1 châu: Vĩnh Lộc huyện ,7 tổng, 63 xã, thôn, trang.
Thạch Thành huyện, 6 tổng, 58 xã, thôn, sách.
Quảng Tê huyện, 5 tổng, 28 xã thôn, trang.
Cẩm thuỷ huyện, 9 tổng, 75 xã.
Khai Hoá châu, 6 tổng, 28 xã.
4/. Thọ Xuân phủ, 4 huyện, 2 châu: Lôi Dương huyện, 9 tổng, 195 xã, thôn.
Thường Xuân châu huyện, 4 tổng, 25 thôn.
Lương Chánh châu, 8 tổng, 42 xã, thôn.
5/. Tịnh Gia phủ 3 huyện: Ngọc Sơn huyện, 6 tổng, 124 xã, thôn, phường, giáp.
Quảng Xương huyện, 4 tổng, 132 xã, thôn.
Nông Công huyện, 12 tổng, 212 xã, thôn.
6/. Trấn Man phủ, 3 huyện (Ki Mi phủ). Trình Cố huyện, 2 tổng 45 mang bổn.
Man Duy huyện, 6 mang bổn.
Sầm Da huyện, 8 mang bổn.
THÀNH TRÌ
Thành Thanh Hóa bây giờ trước là thành đất, Minh Mạng 9 năm xây đá xây gạch; châu vi 630 trượng, 4 cửa; bề cao 1 trượng, hào rộng 8 trượng, 8 thước, sâu 6 thước 5 tấc, tại Thọ Hạc xã, huyện Đông Sơn.
SÔNG, NÚI
Núi, sông, cửa biển có danh là núi Thiên Tôn, núi Na Cù, sông Lương Mã, sông Ngọc Giáp, cửa Hội Triều, cửa Kì Bích.
HỘ KHẨU
Gia Long 18 năm 33233 người, nay 51379 người.
ĐIỀN PHÚ
Ruộng đất 292129 mẫu, thuế: lúa 147252 đấu, tiền 133679 quan, bạc 515 lượng.
Nội ban mai bữa ấy, ông Kỳ vào tỉnh về, thì tính với nhau mà đi ra cho khỏi, vì thấy chủ nhà cũng lợt lạt co ro cỏm rỏm, không bằng lòng cho mấy. Vậy mới mướn cáng mà đi bộ ngã Ba Giội (Tam Điệp) mà ra tỉnh Ninh Bình. Tới đò Triên tối ngủ tại quán; sáng ngày ra (15 tháng 2, 10 mars) giờ thứ 7 rưỡi qua sông, đi qua chợ Gia quán Giốc; qua đò Lèn, chợ Cuội, đồn Viêm, đồn Giâu mới tới Ba giội (là Tam Điệp) đó có đền Sòng (Sơn Tiên Thị).
Đến đó xuống cáng để đi chân mà coi chơi cho biết, cho cáng đi không. Qua khỏi Tam Điệp rồi tới quán Cháo, ra tới quán Gành vừa tối, nên ở lại quán ngủ đó một đêm. Giờ thứ tư sáng ở quán Gành cất ra đi, khỏi quán Sanh, Ba Vuông rồi mới tới tỉnh Ninh Bình. Dọc đường đi ngó thấy tại đất bàng có nhiều cái hòn núi nhỏ riêng nhau ra từ cái, dường như núi cảnh, như non bộ đất vậy. Đi riết giờ thứ 8 rưỡi tới tỉnh vào trọ nhà bà Phó Vàng là người có đạo ở gần tỉnh. Nghỉ ngơi, cơm nước đó một lát, kế lấy trong tỉnh quan tuần phủ tên là Đặng Xuân Toán cho ông lãnh binh ra mời vô thành chơi, (giờ thứ 41). Xách dù đi có đem ông Kỳ đi theo vào thành, thiên hạ nghe tiếng người Gia định rùng rùng kéo nhau đi coi, lớp kia lớp nọ đông nức. Vào thành rồi, nó còn làm hỗn leo trèo mà coi, thì quan lãnh binh phải đóng cửa thành lại. Thăm ông tuần rồi, có quan án đó (Đồng Sĩ Vịnh) lại mời luôn về dinh. Khi từ giã ra về, người có đem tiễn chân 2 bình trà với 20 quan tiền.
TỈNH NINH BÌNH
Đ. T. cự 68 lý, N. B. cự 57 lý.
Đ. giáp địa phận huyện Đại An tỉnh Nam Định.
T. giáp địa phận huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa.
N. giáp địa phận huyện Tống Sơn và Nga Sơn tỉnh Thanh.
B. giáp địa phận huyện Thanh Liêm, Chương Đức tỉnh Hà Nội.
Nguyên đầu hết là đất Nam Giao, đời Tần thuộc về Tượng Quận. Từ Hán sấp về sau thuộc Giao Chỉ. Tần, Tuỳ về sau về Giao Châu, rốt đời nhà Lương thì là Trường Châu; đời nhà Đinh, Lê đóng đo tại Hoa Lư; đời nhà Lý kêu là Trường An phủ, rồi sau kêu là Đại Hoàng (Huỳnh) châu. Đời nhà Trần cải Trường An lộ, Trường An trấn làm Thiên quan trấn. Đời Mạc Cự với Lê thì kêu là Thanh Hóa ngoài trấn. Đời Gia Long 5 năm cải làm Thanh Bình đạo; Minh Mạng 10 năm cải làm Ninh Bình trấn, 12 năm cải kêu là tỉnh lãnh 2 phủ, 7 huyện:
1/. An Khánh phủ, 3 huyện: Gia Viễn huyện, 12 tổng, 92 xã, thôn, trang, phường.
An Mô huyện, 9 tổng, 72 xã, thôn, trang, ấp, trại.
Kim Sơn huyện, 7 tổng, 63 ấp, lý, giáp, trại.
2/. Thiên Quan phủ, 3 huyện: Phụng Hóa huyện, 4 tổng, 29 xã, thôn, trại.
An Hóa huyện, 4 tổng, 22 xã, thôn, trang.
Lạc An huyện, 4 tổng, 50 xã, thôn.
THÀNH TRÌ
Thành Ninh Bình châu vi 393 trượng, 9 thước, cao 9 thước, hào rộng 4 trượng, sâu 4 thước, trả hữu có sông, trong thành có Thuý Sơn Vân Mộng, chùa Non Nước, (Sơn, Thuỷ tự), đền Tam Tòa; có cúc thượng tiên. Sau lưng có núi Cảnh Diêu án. Thành coi nguy nga đẹp đẽ lắm.
HỘ KHẨU
Gia Long được 9,800; bây giờ 3192 người.
ĐIỀN PHÚ
Ruộng 132,855 mẫu; thuế: lúa 99,044 đấu, tiền 58,339 quan, bạc 7 lượng, mà nay ruộng đất 145,629 mẫu; thuế: lúa 103,394
T. giáp tới sông Nhĩ Hà ngang Hà Nội.
N. giáp tới sông Nhĩ Hà…,
B. giáp tới sông Hải Dương,
Đó thuở trước kêu là Sơn Nam thượng. Đời Hán thuộc Giao Chỉ quận là đất Châu Nhai, đời nhà Lương đặt là quận Võ Bình. Đời Ngô Vương kêu là Thắng Châu, Khoái Châu. Minh Mạng 3 năm đặt là trấn Sơn Nam, Minh Mạng 13 năm cải làm tỉnh Hưng Yên 2 phủ 8 huyện:
1/. Khoái Châu phủ 4 huyện: Đông An huyện, 10 tổng, 79 xã, thôn.
Kim Động huyện, 14 tổng, 107 xã, thôn.
Thiên Thi huyện, 8 tổng, 61 xã, thôn,
Nhu Dung huyện, 6 tổng, 46 xã.
2/. Tiên Hưng phủ 4 huyện: Thần Khê huyện, 8 tổng, 46 xã, thôn, trang,
Diên Hà huyện, 12 tổng, 114 xã, thôn,
Hưng Nhơn huyện, 6 tổng, 56 xã.
Tiên Lữ huyện, 8 tổng, 55 xã, thôn.
HỘ KHẨU
16,730 tên.
ĐIỀN PHÚ
Ruộng đất 200,796 mẫu; thuế: lúa 145,517 đấu; tiền 119,600 quan; bạc 7036 lượng.
Sáng ngày 22 tháng 2 (17 mars) ở Vườn Chuối đi lên tuần Mễ Giầm Nong, Giầm Nia ghé lại Văn Giang chỗ vỡ bờ đê; đang đắp đang bồi lại, ở trong đó là Nhứt Dạ Trạch thuở xưa. Cho trẻ đi mua gạo ăn, nhơn lên coi mông chơi. Tối đậu ngủ đó.
Sáng thứ bảy (bữa sau) ở Văn Giang lên Bát Tràng (Thanh Trì), là làng giàu có làm đồ sành, đồ sứ, đồ gốm, gạch, ngói, nhứt là gạch Bát Tràng, lên đó đi bộ coi. Nhà ngói cả, người ta giàu có, phong lưu.
TỚI HÀ NỘI
Trưa tới Hà Nội, lên nhà Đức thầy Phước; rồi vào trường thi thăm ông de Kergaradec làm lãnh sự đó; đi ra dạo hàng khay, tối về ăn cơm ngủ tại nhà Đức cha.
Sáng ngày nhằm ngày chúa nhựt Oculi, xem lễ. Vào thăm các quan Lang Sa trong trường thi, ông quan điều hộ Jardon mời ăn cơm. Về đi thăm quan tổng đốc Trần Đình Túc, rồi mua thêm đồ đạc ngày ấy và ngày bữa sau (thứ 2, 20 mars 25 tháng 2). Lãnh sự mời đi ăn cơm tối với vợ chông ông Direteur du Génie. Từ giã sáng ngày có xuống Hải Phòng. Sáng xem lễ rồi, giờ thứ 9 rưỡi xuống thuyền quan tỉnh bắt đưa mà đi.
XUỐNG HẢI PHÒNG
Đi có bá Quýnh, với Tư…… đi theo nữa. Giờ thứ 4 chiều tới tuần Mễ; các anh ấy kêu được đào Lan, đào Vịnh dòng ghe theo hát chơi dưới thuyền. Ngày thứ tư ấy đi từ tuần Dàng cho tối mới tới tuần Lâu; ngày thứ 5 trưa tới chợ Giông, tuần Chanh và đi riết mãi giờ thứ 5 bữa sau ngày thứ 6 mới tới Hải Phòng. Nóng nảy buồn bã hết sức mà cũng hụt tàu l’Indre, chạy về Gia Định hồi xế giờ thứ 2 đi rồi. Từ Hà Nội đi xuôi Hải Phòng chuyến nầy hết 4 ngày mới tới. (29 tháng 2, 24 mars).
Bây giờ ở đó mà chờ tàu Gia định mà về, đêm ngày bức rức ngóng trông cho mau có tàu mà về. Chờ hết 21 ngày mới có tàu Surcouf ra mới về được. Ở đậu tại nhà ông tham biện Cư (cụ Thơ); còn ông Sáu với thầy ba thì mướn cho một cái nhà ở bên kia với thợ cẩn đem về theo. Ngày ngày qua lại thăm nom; khi đi chơi chỗ nầy khi đi dạo chỗ kia cho khuây lãng. Coi sách, viết lách cho no rồi lại đánh cờ; xách dù đi dạo thăm người quen. Nay quan nầy mai quan kia mời ăn uống chơi hát nhà trò, đào Hiên, đào Lượt, đào Hòa.
Lúc ở đó, có làm việc quan thế cho ông tham biện Cư, khi ông đi bắn năm bảy bữa, khi đi cắm phòng, đôi ba bữa, có bữa cụ thông là cụ địa phận Iphanho đi qua đò vảng nghe tiếng con gái nhỏ ở sau bồng lái tàu kêu cứu. Cụ biết nó là quân bị Ngô bắt, chạy qua tham biện báo. Ta liền chạy lại thương chánh nói với quan Võ Túc cho triệt chiếc tàu ấy lại. Nó không muốn ghé, cho theo bắt. Cho lính xuống soát, nó cự không cho, gặp tây làm chưởng đình đính kêu cậy xuồng với lính mà đem ba đứa con gái lên. Nó khai rõ ràng Ngô bỏ thuốc bắt nó, còn một đứa nhỏ còn mê thuốc chưa rã. Dạy núm co các chú Ngô đem lên đóng gông lại, tịch tàu nó đi. Mượn hai tên lính tây canh tàu. Sau giải về tỉnh Hải Dương trị tội. Lại có gặp chiếc tàu Hồng Mao có quan Khâm Phái lãnh sự tới đó, lên thăm trên thương chánh; sau có mời xuống tàu coi tàu (tàu tên là Egeria).
Sau hết từ giã quan quyền tây nam và kẻ quen biết hết cả, ngày thứ 7 21 tháng 3 (le 15 avril), giờ thứ 1 xuống tàu, qua giờ thứ 3 chạy ra ngả cửa Câm; chạy luôn qua ngày thứ 2 giờ thứ 10 vô vũng Hàn bỏ neo đậu lại; trên thủ ngữ đem ông trạm xuống, giờ thứ 1 lấy neo chạy ngay về Gia Định, giờ thứ 5 sáng ngày thứ 5 là 26 tháng 3 (20 avril) vào cửa Cần Giờ. Giờ thứ 11 lên tới Sài Gòn gieo neo đậu lại. Mướn đò chở đồ và người về thẳng nhà. Trong nhà không ai dè, vô tới bến mới hay.
(SÀI GÒN - BẢN IN NHÀ HÀNG C. GUILLAND ET MARTINON, 1881)
   
Chú thích
- ▲ D = là đông. T = là tây. N = là nam. B = là bắc.
- ▲ Đ. C. G. = là Đức Chúa Giê Giu (= Da Tô).
Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.
 
Public domain Public domain false false