Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi 1876

Part 2

Chapter 25,228 wordsPublic domain (Wikisource)

Đám lớn lại có đứng tướng, là làm chỗ đài cao trống, chọn một người, hoặc con gái, hoặc đàn bà có bóng sắc ngồi đó có năm ba con thể nữ hầu. Khi hội rình rang đi, thì người ta tin có thần có ma bắt cái người cầm cờ tự nhiên ríu ríu lại chỗ đó vẫy cờ xung quanh, chỉ là trong làng có người thỉnh sắc thần yêu, thần vì lấy làm kiết tường chi triệu (điềm lành, tốt).

CỖ NHẮM

Tiết tháng 8 tục có làm cỗ nhắm tại đình, cúng tế thần kỳ yên. Đua nhau dọn cỗ, một cỗ tế rồi ngồi ăn cùng nhau, còn một cỗ mâm án thư chồng đơm lên nhiều từng, lấy mía róc vấn giấy đỏ làm đồ kê mà chưng có từng, trên có làm con phụng, con long, con lân, con quy đứng đầu mâm, để tối chia nhau, biếu xén nhau. Dịp ấy thường coi hát nhà trò, đánh gậy (đánh quờn, nghề võ), vật, múa rối cạn (hát hình), múa rối nước, leo dây, bài điểm, cờ người, nấu cơm thi, dệt cửi thi, bắt chạch, tạc tượng (đục (giục) tượng), thảy đều có ăn cuộc ăn dài cả.

Nấu cơm thì là phải nấu thi coi thử ai chín trước, và khéo khỏi cháy khỏi khê khỏi khét. Người ta đưa cho ít cái đóm với bã mía hay là rơm, thắp cầm hơ đút nồi mà nấu.

Còn dệt cửi thì làm sàn ra ngoài ao vừa để cái không cửi, ả chức ra đó lên ngồi dệt, đâm thoi bắt thoi cho liền cho lẹ, nếu trật thoi văng rớt xuống ao thì thua.

Bắt chạch là một trai một gái tay choàng cổ ôm nhau, tay kia thò vô chum sâu có thả con chạch, ai bắt được thì ăn dải*. lượt thưa rểu, quần lãnh bưởi có ngời ngồi ra tại giữa giàn làm trên ao hồ. Trai lãnh chàng đục, đóng khổ giấy ra đó, làm bộ đẽo phạm, hễ giữ không được thì tâm hoả động, dương vật dậy rách khố mất ăn; khi ấy đâm đầu xuống ao lặn đi đỡ xấu. Ấy ít lời về phong tục sơ lược cho biết qua vậy.

THÀNH TRÌ

Thành Hà Nội châu vi 432 trượng, cao 4 trượng, 1 thước 2 tấc, hào rộng 9 trượng; có 5 cửa, ở tại Thọ Xương, Vĩnh Thuận hai huyện. Từ Lê sấp về trước các vua đóng đô tại đó, cũng có kêu là Phụng Thiên Thành, ở trong thành Đại La, mà lâu đời đã hư đi. Kế lấy nguỵ Tây Sơn tới choán lấy mới cứ nên cũ, mới bắt từ cửa Đông Hoa tới cửa Đại Hùng mà xây thành lên.

Đời Gia Long nhơn vì của là của nguỵ Tây Sơn làm ra, nên không ưng bèn cải tu; Gia Long năm thứ 4 xây thành lại.

Trong nội có hành cung chánh điện, 2 tòa có tả vu hữu vu; mặt sau có 3 toà điện,hai bên có tả vu hữu vu. Sau điện có Tịnh Bác Lâu; bốn bề có xây thành gạch; trước chánh điện (là Kính Thiên điện); sân xây đá Thanh, có cặp đá rồng lộn 9 cấp mà lên điện. Ra ngoài có ngũ môn lâu, đề chữ Đoan Môn đời nhà Lý để tích lại. Ngoài nữa ngay cửa nam có cột cờ xây đá gạch, trong ruột xây khu ốc lên thẳng tới trên chót vót.

Hàng Buồm, Ngô Khách bán sách vở, đồ tàu, thuốc bắc.

Quảng Đông, Minh Hương khách hộ ở.

Hàng Mã, bán minh y minh khí.

Hàng Mâm.

Báo Thiên phố, bán vải đen, vải xanh.

Phố Nam hay là Hàng Bè, gần đó có chợ hôm, hai bên dán làm thùng cây, thùng tre.

Phố Hàng Bồ.

Hàng Bạc.

Hàng Giày, hia.

Hàng Mây choại.

Đồng lạc phố.

Thái cực phố. (Phố Hàng Đào)

Đông Hà phố (hàng hát).

Phước Kiến phố, bán đồ đồng, đồ thiếc.

Phố hàng muối.

Đồng Xuân phố.

Thanh Hà phố.

Hàng Gai.

Hà Bao phố.

Hàng Trà.

Quảng Minh Đình phố.

CHỢ

Chợ búa nội cả tỉnh cũng nhiều lắm. Mà chợ lớn có tiếng và đủ đồ hơn hết tại Bắc Kỳ, thì là những chợ kể trong câu ví nầy: Xứ Nam là chợ Bàng Vôi; xứ bắc Giâu, Khâm, xứ đoài Xuân Canh; nghĩa là tỉnh Hà Nội, Hưng Yên, Ninh Bình, Nam Định là phía nam, thì có chợ Bằng, chợ Vôi có tiếng hơn hết. Còn bắc là Bắc Ninh, thì có chợ Giâu, chợ Khâm; xứ đoài là trên Sơn Tây thì là chợ Thâm Xuân canh.

CẦU

Cầu đất bắc hay làm cầu đá, cầu gạch, cầu gỗ, lại hay làm cầu lợp ngói, chùa đình cũng nhiều lắm lắm. Mà muốn biết đâu hơn đâu thì lấy trong câu nầy: Cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài, nghĩa là cầu tốt hơn thì là tại trong các tỉnh nam; còn chùa chiền lớn cột cao nóc, khéo tốt thì tại xứ Bắc Ninh, đình làng, đình chợ mà làm kí tốt, thì trên miệt sứ Đoài.

Về đồ ăn có tiếng ngon hơn, như trong Nam Kỳ kêu chiếu Cà Mau, thuốc Gò Vấp, rượu Gò Cát v.v…, thì ngoài Bắc Kỳ có cái cá như vầy: Dưa La, Cà Láng, nem Báng, gỏi Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét. (chỉ tên xứ: Kẻ La, kẻ láng, kẻ Báng, kẻ Bắn, Vạn Vân, kẻ Đấm Sét).

Cơm Văn Giáp, táp (thịt tái) cầu Giền, chè quán Tiên, tiền Thanh, Nghệ.

Cơm quán dọn tử tế thì là tại quán làng Văn Giáp đường lên tỉnh Hà Nội, vào Cửa ô Đồng Lầm; còn thịt tái thịt thấu ngon có tiếng thì là tại quán Cầu Giền; chè cháo nấu ngon thì là tại quán Tiên cũng tại đường lên Hà Nội; tiền xe gánh ra nhiều thì là phường buôn ở trong Thanh trong Nghệ đem ra.

THỔ SẢN ĐẤT HÀ NỘI

Lúa: lúa dê (duy), lúa thông, lúa dự, lúa lem bông, lúa trĩ, lúa hương, lúa thầy đường, lúa bạch canh.

Nếp: nếp bông vàng, nếp răng ngựa, nếp ruồng, nếp cau, nếp trái vải, nếp đuôi chồn, nếp ngọc thục…

Tơ, bông cán, hàng đoạn bông (phường Thọ Xương, kiên liên dệt), trừu bông (Từ Liêm), hàng lượt, lãnh bóng, lượt bùng, the rây, lụa bông, lụa trắng, thao, vải trắng, the làn, xuyến, láng gốc…

Cây hội (giấy viết sắc), các thứ giấy, quạt trúc, nón nan; ngói gạch, nồi đất (đồ gốm); trà, muối diêm, mật ui, đường hạ; vôi đá, bánh phục linh, trôi nước, xôi bông đường, bánh mì khoai, rượu trắng; khoai lang mộng, khoai sáp, khoai mài, khoai tím, khoai ngọt; củ sắn, củ đậu ,củ nần, củ huỳnh tinh, xoài, mít, nhãn, hòng thơm, hồng đỏ…

Gỗ mít, gỗ thị, gỗ thông, gỗ bòng, gỗ liễu. Tre, tre gai, tre lớn, tre ve, v.v….

HỘ KHẨU

Đời Minh Mạng số dân đinh được 52335 tên; nay (Tự Đức) 60257 tên.

ĐIỀN PHÚ

Ruộng 393066 mẫu; lấy thuế, lúa 245650 đấu, tiền 20773 quan, bạc 1276 lượng.

Tỉnh Hà Nội đã nói qua rồi, bây giờ xuống tỉnh Hải Dương cũng phải nói ít lời cho biết xứ.

TỈNH HẢI DƯƠNG

Địa hạt tỉnh Đ. T. cự 132 dặm, N. B. 100 dặm:

Đ. đến tỉnh Quảng Yên, giáp An Hưng huyện.

T. tới tỉnh Bác Ninh, huyện Quỳnh Khôi.

N. tới tỉnh Nam Định, huyện Quỳnh Khôi.

B. tới tỉnh Bắc Ninh, huyện Quê Dương và Phụng Nhãn.

Từ tỉnh vo cho tới kinh (Huế) 1097 dặm.

Đời Hùng Vương là bộ Dương Tuyên; đời Hán thì về quận Giao Chỉ; đời Trần là lộ Hạc Lộ, rồi đặt tại Hải Dông lộ, sau làm ra phủ Hồng Châu, Nam Sách; đời Minh choán thì làm ra 2 huyện là Lạng Giang và Tân An; đời Lê năm Thuận Thiên thì kêu là Đông Đạo, năm Diên Ninh thì kêu là lộ Nam Sách Thượng, Nam Sách Hạ; năm Hồng Đức kêu là Hải Dương, sau bị họ Mạc choán; Gia Long năm thứ 12 đặt là Hải Dương tỉnh.

Chia ra làm 5 phủ, 19 huyện

1/. Bình Giang phủ, 4 huyện; thành châu vi 208 trượng, cao 7 thước, 2 tấc, có hào, 3 cửa. Cẩm Giàng huyện, 14 tổng, 85 xã, thôn.

Đường An huyện, 10 tổng, 66 xã, thôn.

Đường Hào huyện, 9 tổng, 79 xã, thôn, phường, giáp.

Thanh Miền, 8 tổng, 61 xã, thôn.

2/. Ninh Giang phủ, 4 huyện: thành đất châu vi 171 trượng 6 thước, cao 7 thước, 2 tấc, có hào, có 3 cửa. Vĩnh Lại huyện, 8 tổng, 81 xã, thôn, trang, trại.

Vĩnh Bảo huyện, 8 tổng, 67 xã, thôn.

Gia Lộc huyện, 9 tổng, 85 xã, thôn.

Tứ Kỳ huyện, 8 tổng, 77 xã, thôn.

3/. Nam Sách phủ, 4 huyện, thành châu vi 208 trượng, cao 7 thước, 2 tấc, có hào, 3 cửa. Chí Linh huyện, 7 tổng, 65 xã, thôn.

Thanh Lâm huyện, 10 tổng, 82 xã, thôn.

Thanh Hà huyện, 10 tổng, 64 xã, thôn.

Tiên Minh huyện 12 tổng, 92 xã, thôn.

4/. Kinh Môn phủ, 3 huyện, thành 271 trượng 6 thước, cao 7 thước 2 tấc, có hào, 3 cửa. Giáp Sơn huyện, 7 tổng, 62 xã, thôn, phường.

Đông Triều huyện, 11 tổng, 98 xã, thôn.

Thuỷ Đường huyện, 12 tổng, 78 xã, thôn.

5/. Kiến Thoại phủ, 4 huyện, thành châu vi 133 trượng, cao 7 thước, có hào, 2 cửa. Nghi Dương huyện, 12 tổng, 57 xã, thôn, phường.

An Dương huyện, 9 tổng, 63 xã, thôn.

Kim Thành huyện, 11 tổng, 81 xã, phường.

An Lão huyện, 10 tổng, 62 xã, thôn.

HÌNH THẾ

Tỉnh Hải Dương ở phía đông đất Bắc Kỳ, có núi non sông biển, tốt thế hiểm địa lắm.

Núi có danh hơn là An Tử sơn, Đông Triều sơn.

Sông lớn là Cẩm Giang. Phía T, phía N, thì đất bằng, sông rạch ăn quanh quẹo lăng xăng lít xít. Phía D, phía N, thì có núi, rộng biển. Đất có nhiều ngóc ngách hiểm hóc.

KHÍ HẬU

Khí hậu cũng gần như tỉnh Hà Nội; có một điều ở gần biển, mùa hè mùa thu gió đông nam thường thổi. Thường hễ đến mồng 10 tháng 8 thì có dòng gió, mưa to luôn. Ngày ấy là ngày chọi trâu tại xứ Đầu Sơn. Tục hay nói: Buôn đâu bán đâu, mồng 10 tháng 8 chọi trâu tìm về. 20 tháng 9, mồng 5 tháng 10 có rươi ra, người ta đi bắt đem về làm mắm; nước lớn sông đầy lên có bão có tố kêu là hoả trùng phong.

PHONG TỤC

Phong tục cũng đông như Hà Nội; có nhiều học trò, nghề nghiệp thợ thầy cũng giỏi cũng khéo. Cũng hay ăn chơi, tiệc tà, kị thần, tế quỷ, lại thêm cái tục chọi trâu. Việc tế tự quỷ thần hay làm lớn, tế heo trâu không sợ hao tốn; nên có lời tục rằng: Sống làm trai Bát Tràng, chết làm thành hoàng Kiêu Kị, vì làng ấy hay làm thịt trâu mà đơm tế thần, trâu đâu cũng đem tới đó mà làm.

Lại có câu hát gộp kể đứa hoang như sau nầy: Bốn phủ 19 huyện tỉnh Đông, em nghe thằng Xoài, thằng Lác, thằng Bông, thằng Quyền, nó đưa dem đi chợ Lác đồng phiên, chợ Lỡ, chợ Chiền, quán Nội, cầu Tu…

THÀNH TRÌ

Thành Hải Dương châu vi nó 551 trượng ,6 thước, cao 1 trượng 0 thước, 2 tấc; hình 6 góc, 4 cửa, hào rộg 11 trượng, sâu 6 thước, ở tại huyện Cẩm Giàng.

Thuở Lê năm Quang Thuận, xây tại huyện Chí Linh, làng Mặc Động Xã, tục kêu là Dinh Lệ; sau đời qua xã Mao Điền, huyện Cẩm Giàng, tục kêu là Đinh Dậu.

Đời Gia Long năm thứ 3 dời lại chỗ bây giờ Trấn Đan làm thành đất. Minh Mạng năm thứ 5, xây bằng đá ong.

HỘ KHẨU

Thuở Gia Long năm thứ 18, dân đinh được 23900 tên; bây giờ 43900 tên.

ĐIỀN PHÚ

Ruộng 425547 mẫu; thuế: lúa 260319 đấu, tiền là 54417 quan, bạc là 1849 lượng.

Ngày 22 tháng giêng bỏ tỉnh Hải Dương mà xuống Hải Phòng. Có quan đại và quan tuần ngồi phà đi xuồng với nữa. Giờ thứ 4 rưỡi chiều ngày 23 tới Hải Phòng. Lên Lãnh sự (M. ture) mới hay chiếc tàu về Gia Định đã lấy neo chạy hồi trưa đi rồi. Lỡ dịp đi, buồn bực quá. Nhưng mà cũng chẳng qua là bởi đâu xây khiến cho được biết đất Bắc rõ hơn.

Ở lại đó 10 bữa; có ý đi theo tàu Washi về Hương Cảng mà xuống tàu đó về Gia Đinh. Ở đó chờ tàu ăn hàng, chở hàng trót chín mười bữa, mà không thấy chạy; lại nghĩ rằng: tàu ấy nhỏ quá, đi về bên tàu thì quanh hóa ra lâu về tới nhà lắm chăng. Vì vậy qua mồng 3 tháng 2, mới tính ở mà đợi lóng nhóng đó cũng mất công vô ích; chi bằng hồi ngữ về ngã Hương Cảng đi, để chờ dịp tàu sau về ngay Nam Kỳ. Mà bởi không biết chắc ngày nào tàu ra, mới tính đi rông ít ngày qua Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Hưng Yên cho biết xứ.

Nhứt định thế ấy rồi, cậy chú khách Wan Sing mướn một chiếc đò đưa qua Nam Định. Đi có đem ông sáu Thìn, thầy ba Hớn lại với ông Kỳ là chú ông cụ tham biện Cư (cha Thơ).

Giờ thứ 5 rưỡi chiều lui thuyền. Sáng ra giờ thứ 8 tới ngã ba xuồng cửa Thái Bình. Chiều qua chùa Trỏng, tới đồn mè; đậu lại tại chợ Địa đầu. Qua mồng 5 chiều giờ thứ 4 rưỡi tới thành Nam Định; cơm nước dưới ghe dưới đó rồi lên nhà ông trùm Lý, rồi vô cụ Nghiêm là cụ sở họ có đạo tại thành thuộc về địa phận đức thầy Phước. Cụ nầy cũng là cụ dó danh tiếng, giỏi việc đời, lanh lợi nhà chung nhờ lắm, thân thuộc các quan tỉnh.

Sáng ra làm nhằm ngày thứ tư lễ tro (Nam Định kêu là lễ gio), xem lễ tại đó. Trong tỉnh quan tổng đốc tên là Nguyễn Trọng Hiệp đã đi hồi khuya có việc gấp đi rồi. Còn ông Nguyễn Đức Trạch là quan bố chánh, và ông Nguyễn Tài là quan án sát ở nhà. Các quan cứ lời ông tổng đốc dặn, cho 1 ông đội, 1 ông thông phán và 10 tên lính ra hầu. Đêm ấy cụ dạy làm heo ăn uống đãi đằng.

Sẵn đây tại giữa tỉnh thành, nói lược qua về tỉnh Nam Định đã rồi sẽ nói về sự đi xuống Phát Diệm.

TỈNH NAM ĐỊNH

Tỉnh hạt đông tây cự 112 lý. N. B. 84 lý.

Đ. chạy giáp tỉnh Hải Dương nơi phủ Ninh Giang.

T. chạy giáp tỉnh Ninh Bình, An Khánh phủ, Gia Viễn huyện.

N. chạy xuống biển.

B. chạy giáp tỉnh Hà Nội, nơi Lý Nhân phủ, bình Lục huyện.

Từ tỉnh tới kinh đô là 1019 lý.

Nguyên đời Hùng Vương thì là bộ Lục Hải, đời nhà Tần về Tượng Quận, đời nhà Hán thì về Giao Chỉ, đời nhà Ngô thì thuộc về Giao Châu, đời nhà Lương thì về Ninh Hải quận, đời nhà Đường đặt là Tống Châu, đời nhà Đinh đặt là đạo, Lê, Lý, Trần đặt là lộ Thiên Trường, đời nhà Lê (10 năm) kêu là Sơn Nam, đời Kiếng Hưng đến bây giờ kêu là Nam Định.

Chia ra làm 4 phủ với 2 phân phủ, lãnh 18 huyện.

1/. Thiên Trường phủ, lãnh 5 huyện: Giao Thuỷ huyện, 10 tổng, 100 xã, thôn, phường.

Nam Chân huyện, 6 tổng, 60 xã, thôn, phường trang.

Chân Minh huyện, 7 tổng, 63 xã, thôn, phường trại.

Thượng Nguyên huyện, 5 tổng, 47 xã, thôn, trang.

Mỹ Lộc huyện, 7 tổng, 51 xã, thôn, trang.

2/. Kiến Xương phủ lãnh 4 huyện: Võ Tiên huyện, 7 tổng, 45 xã, thôn, lý, giáp.

Xá trì huyện, 8 tổng, 63 xã, thôn, trang.

Chân định huyện, 8 tổng, 69 xã, thôn, trang, trại.

Tiên Hải huyện, 7 tổng, 47 ấp, lý, trại, giáp.

3/. Nghĩa Hưng phủ lãnh 2 huyện: Đại An huyện, 11 tổng, 72 xã, thôn, phường.

Thiện Bổn huyện, 10 tổng, 88 xã, thôn, trang, trại.

4/. Nghĩa Hưng phân phủ lãnh 2 huyện: Ý An huyện, 6 tổng, 36 xã, thôn, trại.

An Ích huyện, 7 tổng, 53 xã, trang, trại.

5/. Thái bình phủ lãnh 3 huyện: Đông Quan huyện, 8 tổng, 55 xã, thôn, sở.

Thoại Anh huyện, 9 tổng, 59 xã.

Thanh Quan huyện, 10 tổng, 52 xã, thôn, trang.

6/. Thái Bình phân phủ lãnh 2 huyện: Phụ dự huyện, 6 tổng, 36 xã, thôn

Quỳnh Khôi huyện, 6 tổng, 43 xã, thôn.

HÌNH THẾ

Tỉnh nầy là hùng tỉnh thứ nhứt Bắc Kỳ: ruộng nương tốt, nhơn vật thạnh, buôn bán lớn, chợ búa đông. Phía T. B. có ngã ba hoàng giang là sông Nhĩ Hà chảy xuống, sông sâu mà lại rộng; phía N. xuống ngã ba Ngô Xá, bên hữu có sông Vị bao tỉnh thành, xuống nữa tới ngã ba Độc Bộ Giang, xuống Kiến Xương phủ tới ngã ba Côn Giang, bên hữu từ sông Vị qua khỏi phủ Xuân Trường, phía D. thì là ngã ba sông Dõng Ngãi lại thành ra ngã tư Ngô Đồng, đều chảy ra biển cả, ra 6 cửa:

Liêu (Hải Liêu): *đều lên Nam Định được cả.

Lác: *đều lên Nam Định được cả.

Ba Lạt: *đều lên Nam Định được cả.

Lân: * đều lên Nam Định được cả.

Trà (Trà Lý): *đều lên Nam Định được cả.

Hộ (Diêm Hộ): *đều lên Nam Định được cả.

KHÍ HẬU

Nực mát, nóng rét cũng gần như Hà Nội. Lúa mà hè tháng chạp chín, lúa mùa thu thì tháng 6 chín. Sen tháng 6, cúc tháng 10 thạnh.

THÀNH TRÌ

Thành Nam Định châu vi 830 trượng, 7 thước, 3 tấc, cao 1 trượng, 2 thước, 2 tấc, có bốn cửa; hào rộng 6 trượng, sâu 6 thước, lập tại huyện Mỹ Lộc.

HỘ KHẨU

Minh Mạng năm đầu kể được 58,003 người dân tráng. Nay kể được 70,898 người dân tráng.

ĐIỀN PHÚ

Ruộng đất được 524,977 mẫu; thuế: lúa được 470,712 đấu, tiền 229,637 quan; bạc được 175 lượng.

Ở tại nhà cụ Nghiêm một ngày mồng 6, qua trưa mồng 7 xuống phà quan tỉnh bắc đưa mà xuống Phát Diệm. Quan tỉnh đem cho tra tiễn chân lên đường, cấp 1 ông đội, 1 ông thông phán với 8 tên lính đi theo hộ đệ.

Từ giã cụ xuống đi vào Ninh Bình, mà trước hết muốn xuống Phát Diệm viếng cụ Sáu đã. Giờ thứ 6 rạng mặt mồng 8 thì tới tuần Lộc Bộ, giờ thứ nhứt xế tới đồn Bình Hải, cửa Hải Liêu, đậu đó chờ nước lớn mà vô ngòi Giới hay là Kim Giang mà vào Phát Diệm chỗ cụ Sáu ở.

Tối chạng vạng thuyền mới tới bến, đậu ngoài vàm rạch. Cho người đem thiệp lên trình. Cụ cho rước lên nhà vuông xơi nước, sau mời lên lầu chuyện vãn cho tới giờ thứ 11 mới phân nhau ra đi nghỉ. Sáng ra cụ cho mời đi xem lễ, rồi ra đi xem cảnh nhà thờ trái tim. Nhà thờ Đức Bà nhỏ mà tốt, bàn thờ, giáng ngự, bàn dậm, hết thảy đều làm bằng đá Thanh chạm cả. Trước cửa có xây non bộ đất lớn có hồ có cầu đi qua.

Còn nhà thờ lớn ngoài thì có ngũ môn lâu; trong bàn thờ cũng làm bằng đá Thanh làm kiểu cách khéo đẹp dễ coi lắm. Lại nơi nhà hành lang thấy đang có trổ đá Thanh chạm đỏ, lại làm một cây thánh giá đá nguyên một miếng trổ ra để sau có dựng lên trên lầu nhà thờ. Đàng sau nhà thờ cụ có xây một cái núi lớn gần bằng hòn núi thiệt vậy, để làm núi Calvario, trong ruột có xây hang để làm hang đá Đ. C. G. [ 2 ] sinh ra. Việc rất quả hung! Lên núi tìm chọn đá nguyên cả viên, viên nào nhằm thế thì lấy mà chở đem về mà làm chẳng sợ tốn kém công nhân vật liệu.

Chép ra đây ít bài thơ vẽ cảnh, thì biết thắng cảnh là chừng nào:

TRẦN THIẾT

Sực xem thấy nhà thờ Phát Diệm,

Thật nguy nga cung điện hẳn hoi,

Đọc kinh rồi đứng đó mà coi,

Hồ sơn thuỷ lâu đài như tạc,

Sách có chữ rằng: Thị chu lưu bàn bạc,

Bất dĩ Tần nhỉ bất dĩ Hán,

Nhờ đội ơn trên ra sức phù trì,

Cho người thế biết đường giữ đạo,

Sách có chữ: hữu công vì văn giáo,

Thị thánh hiền vì vạn thế sanh dân,

Chữ rằng: đức dữ nhật tân.

HIẾU SƠN CAO ĐỈNH

Ngoài có hồ trong lại có hang,

Rõ ràng thay, hà xứ bất giang san,

Ấy mới biết: Thiên chi hạ, mạc phi vương thơ,

Thơ rằng: hoà khí dữ xuân phong,

Nhớ có câu: đạo vị vô cùng

Sách có chữ: địa dĩ nhân nhi thắng,

Tứ phương giai ngã cảnh,

Nhân dĩ đức nhi long,

Hữu thiên hà xứ bất.

NHÀ THỜ TRÁI TIM

Tâm giả nhân chi bản dã,

Gốc đá tươi hoa quả cũng tươi,

Có luân thường đạo lý mới ra người,

Nên phải cậy trái tim cho chắc chắn,

Thơ rằng: bì thới tuy nhân văn,

Quân tử bất ưu bần,

Chữ rằng: phụ hảo tâm nhân,

Vậy phải giữ chữ tâm cho vững,

Nhờ Chúa cả hộ cho mạnh khoẻ,

Nọ mới hay bì cực thới lai,

Hữu nhân hữu thổ hữu tài…

Thấy phong cảnh Phát Diệm thật nên ghê,

Nhân ngồi chơi tay tả bút đề,

Vịnh phong cảnh vài câu quốc ngữ:

Thơ rằng;

Tứ thời giai hứng dữ,

Vạn vật tình quan nhi,

Trên cửa lầu chuông trông uy nghi,

Trước hồ thấy hoa sen đỏ chói,

Đường thập đạo đá xây bốn lối,

Cửa ngũ môn xuất nhập đạo cung môn,

Tứ thời phong cảnh tứ thời xuân…

Nội ngày ấy cho phái tỉnh lên Ninh Bình trình tờ. Chiều tối bữa ấy có 3 cô là cô Khánh (P. Ravier), cô Hiền (P. Thorol), cô Hiển (P. Roussin), tới họ đặng qua bữa thứ 2 có làm việc toàn xá trong xứ ấy.

Cụ Sáu làm cụ xứ chính sở, có các cụ khác giúp người nữa là cụ Ngân, cụ Bản, cụ Tư, cụ Tính, cũng đều có gặp mặt đó cả.

Các cô nghe nói, có cho mời ta xuống hỏi thăm chuyện nọ chuyện kia, đem rượu lễ đãi, nói chuyện một lát rồi từ giã trở lên phòng.

Qua ngày thứ 2 là ngày 11, xem lễ tại nhà thờ Trái Tim rồi ra đi coi hang đá, đi rảo vòng rồi về nhà cụ, cơm nước xong rồi từ giã các cô, các cụ mà đi.

Cụ Sáu chính tên người là Trần Triêm, triều đình đặt là Trần Lục; người là người đắc lực với triều đình; người tài trí thông minh, lanh lợi việc ăn ở xử trí theo phần đời lắm; mưu mô gan dạ cũng hung, dân sự phục tình, quan quyền cũng yêu đương trọng đãi. Nhờ cụ mưu mô trí biến mà xử trí yên với Văn Thân lúc khôn khó giao hòa trả tỉnh lại. Nói qua vậy cho biết người là người anh danh đặt Bắc, là chỗ nhờ cậy của nhà chung địa phận nam.

Vậy phần thì đã vào chay rồi, phần thì cụ mắc làm toàn xá cho họ, nên từ cụ mà đi vô Thanh Hoá. Vậy cụ liền dạy sắm thuyền, đồ hoả thực, lại cho thầy Trương Văn Thông đi theo đem đường. Giờ thứ mười rưỡi xuống thuyền đi ngòi Truy Lộc ra kinh Càn ngã ba Ngạt Kéo ra cửa Thần Phù (Đại Chính) rồi theo sông Trường Giang. Bên tay mặt làng Truy Định có núi Đường Ràng, núi Chiếc Đũa, núi Bản Tiền, núi Con Trâu gần núi Nẹ, núi Chóp Chài hay là Trát Con Lợn. Núi cao hơn hết nội đầm ấy là núi Chóp Chài hay là Trát Con Lợn. Núi cao hơn hết nội đám ấy là núi Chóp Chài, nên có lời ví rằng: Nhứt cao là núi Chóp Chài, nhứt rộng là bể, nhứt dài là sông.

Giờ thứ tư chiều tới sở nhà Chung Tòng Chánh, lớn rộng được 413 mẫu đất, 113 mẫu có 3 hòn núi bao là núi Ghép, núi Hạng Hộc và núi Miễu, còn ngoài 300 mẫu nữa, mới khai phá từ năm 1872, là của nhà nước thế lại đất nhà chung Kẻ Vĩnh bị kẻ ngoại cướp phá đi. Ở đó có cụ Bần mà người đi kẻ liệt khỏi; còn lại nhà có thầy già từ Khánh, lên đó coi rồi ăn bữa cơm, xuống thuyền đi đi. Giờ thứ 7 qua đón Chính Đại bắt phu đưa đi. Đến giờ thứ 8 rưỡi tối tới bia Thần. Đánh đuốc lên coi thấy trên núi đá hàm có chạm một chữ * Thần, người ta nói bề cao 7 thước, bề ngang nét chữ kẻ trót thước, một bên có đề: *Nhựt Nam nguơn chùa thần bút.

LÃ VỌNG, HANG THỊ

Đi nữa thì đi ngang qua Lã Vọng và hang Thị. Giờ thứ 9 tới nhà ông Chánh là anh cậu Sáu tại Mỹ Quang Phường, trọ (đỗ) đó đặng sáng ra có đi coi hang Từ Thức.

ĐỘNG TỪ THỨC

Hang Từ Thức ở tại xã Trị Nội, tổng Kiều Vịnh, huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung.

Đi đến đó phải đi qua cái đèo, rồi đi vòng lại bên tả mới tới miệng hang. Chỗ ấy kêu là Từ Thức động hay là Bích Đào động.

Ở ngoài có cái miễu nhỏ nhỏ, nơi cửa động có chữ đề khắc vô đá. Vào trong phải có đuốc, vô trong nó rung rinh, có chỗ có đường như cột đá; dưới chân, chỗ thì có đá viên tròn vo bằng viên đạn cũng nhiều, nhỏ hơn nữa cũng nhiều, có chỗ thì đầy những đá đen cục hòn mà thành hình như trái mảng cầu khô; còn có chỗ lại có đá ra hình bàn ghế, mòn trơn có vân có hoa như chạm trổ vậy. Trên đầu ngó lên thấy thạch nhũ như là màn treo có thể bỏ xuống, trong đá coi nhấp nháng sáng ngời như kim sa. Hết bùng binh nầy tới bùng binh khác. Sau hết xuống tới cổ kiềng là cái miệng xuống hang dưới nữa, nó như miệng giếng, phải nghiêng mình lận theo thì xuống mới đặng; dưới đáy hết thì có cái như cái ao bèo cám lênh láng. Đi hồi giờ thứ 6 đến giờ thứ 8 rưỡi mới tới nơi.

Coi rồi trở ra, những kẻ đi theo nói có nghe còn có cái hang Trung Thu nữa, vậy mới rủ nhau đi ngang làng Trị Nội, Giáp Nội, Giáp Lục, vô đình làng tổng đang nhóm, bắt người dẫn đường đi, nó giầu lắm, kẻ nói có, người nói không, không chịu đi chi. Sau hết làng cho một chú kia đi đem đường, nó đem tới chân núi có hang nhỏ đó, nó chỉ xả là đó; vào coi không phải; nộ nạt ngăm đe nó cũng có nói không biết. Cho người leo lên núi tìm. Khi tìm được, nó rồ lên kêu và lấy khăn làm cờ phất bảo đã tìm được hang. Ta mệt thì mệt cũng ham xăn áo trèo lên; ban đầu còn để giày, sau phải cởi ra, tay vịn chân trèo, mồ hôi mồ hám loã ra ướt dầm dề. Tới nơi rã rời gân cốt, ngồi thài lai trên viên đá nghỉ cho bớt mệt đã sẽ vào hang. Thắp đuốc kéo nhau mà đi coi được hai ba từng rồi mệt thôi bỏ ra, xuống mà về. Tới giờ thứ 1 rưỡi mới tới nhà trọ. Từ giã làng họ và chủ nhà, xuống thuyền cứ đi lên mãi, giờ thứ 5 rưỡi tới chùa.

HANG DƠI

Hang Dơi, chữ đặt là Bạch A Động. Ghé lại lên coi; nó là cái núi tầm phồng ruột, trong rộng rinh, đàng sau có chùa; ngoài cửa động có đề thơ lại có hiệu:*

Bửu thiên động chùa đề. Đại thuận tam niên nhụ ngạt.v.v…

Coi rồi xuống thuyền đi lên Khan Dừa, thuyền cạn nước đi đà không được, phần trời đã tối: thầy Thông, nghe tiếng trẻ học trò (đồng nhi) đi nhà thờ về, bèn bảo xuống đẩy thuyền, nó xúm nó đẩy.

CỤ ĐỆ

rần tới bên cụ xứ đó là cụ Đệ. Cụ thắp đèn xuống rước lên, khi ấy là giờ thứ 8. Lên vào nhà, người ta đến coi đông lắm; cụ vui vẻ, mừng rỡ hết sức; đem rượu lễ rót đãi, ở đó chuyện vãn cho tới giờ thứ 10 rưỡi, mới từ tạ cụ mà xuống. Cụ lại cho thầy Khoa sắm vật thực xuống đi đưa lên tỉnh. Ngủ thuyền sáng ra giờ thứ 6 dậy, lên sông Trường Giang, giờ thứ 8 rưỡi tới tuần Nga (12 tháng 2, 8 mars 1876). Đi ngã sông Hàn, lên vực Chế, rồi tới bến Gũ. Ở đó bên hữu có dãy núi Làng Ngang, bên tả có núi Chè (Tứ Mĩ): qua khỏi thác Con Bò thì lên Hàn Kim San, rồi lên ngã ba Bông. Ở đó lạch cạn, mới bắt thuỷ cơ chuyên luận đệ, canh hai mới tới bến Ngự rồi vô bến Cốc. Qua làng Hang, núi Lửa mà lên tỉnh. Giờ thứ 2 rưỡi khuya tới tỉnh. Tin lên nhà Chiêu Tư ở Tuỳ Biên thôn, Đông Phổ giáp, cho cáng xuống rước lên. Ăn uống nói chuyện cho tới sáng ăn thua.

TỈNH THANH HÓA

Đ. T. cự 174 lý, N. B. cự 285 lý.

Đ. chạy xuống tới biển.

T. chạy lên tới Sơn Đông giáp Ai Lao.

N. chạy vô tới Nghệ An; nơi huyện Quỳnh Lưu.

B. chạy ra tới Ninh Bình, tại huyện Phụng Hoá.

Từ tỉnh thành vào kinh 843 lý.

Đời Hùng Vương là bộ Cửu Chơn; đời Triệu Võ Đề là quận Cửu Chân. Đời Hán, Ngô, Tần, Tống, cũng là Cửu Chơn. Đời Lương Võ Đề mới đặt lại là Ái Châu. Nhà Đinh đặt là đạo, Lê đặt là Lộ, Lý cải ra trại rồi cải ra phủ Thanh Hóa; quảng thải 10 năm cải làm Thanh Đô Trần; Hồ Quý Ly cải tên Thanh Hóa phủ làm Thiên Xương phủ, hiệp với Cửu Chơn, Ái Châu làm Tam Phụ, kêu là Tây Đô. Đời Lê làm đạo, thừa tuyên, trần. Đến Thiệu Trị cải làm tỉnh. Đến nay từ Tự Đức 3 năm, tỉnh Thanh Hóa lãnh 5 phủ, 10 huyện, 3 châu, kèm 1 phủ ki mi có 3 huyện.

1/. Hà Trung Phủ, 5 huyện: Tông Sơn Quý huyện, 4 tổng, 63 xã, thôn, trang.

Nga Sơn huyện, 6 tổng, 102 xã, thôn, trang.

Hậu Lộ huyện, 4 tổng, 73 xã, thôn, vạn.

Hoằng Hóa huyện, 5 tổng, 92 xã, thôn, trang, sở.

Mĩ Hóa huyện ,4 tổng, 79 xã,thôn, trang, sở.

2/. Thiệu Hoa phủ, 3 huyện: đông Sơn huyện, 7 tổng, 146 xã, thôn, trang.