Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi 1876
Part 1
Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi 1876  (1881)  của Trương Vĩnh Ký
- thông tin về bản này . 
Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi 1876 là tập nhật ký của Trương Vĩnh Ký, viết bằng chữ Quốc ngữ, ghi lại chuyến đi Bắc Kỳ năm 1876 của tác giả, được xuất bản năm 1881. Đây là một trong những tác phẩm đầu tiên của văn học quốc ngữ Việt Nam.
13729 Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi 1876 1881 Trương Vĩnh Ký
Năm ất hợi (1876), bái trưởng tham biện vừa xong, vùng tính đi ra Bắc chơi một chuyến cho biết. Trong bụng muốn cũng đã lâu; nên xin với quan trên, nhơn dịp chiếc tàu Duchaffaud đi mà đi. Về sắm hòm rương áo quần. Rủ thầy ba Hớn với ông sáu Thìn, nguyên một người ở tỉnh Bắc Ninh, một người ở Sơn Tây mà vào trong Nam Kỳ đã lâu, đi theo trước là cho có bạn, sau nữa là cho họ về thăm quê quán.
Qua ngày 18 tháng chạp đề huề xuống tàu. Sớm mai giờ thứ 9 rưỡi nhổ neo. Vợ con đi đưa, ngồi xe đi rào trên bờ cho đến tàu quày trở rồi ríu ríu chạy xuống đồn Cá Trê, mới về. Xế giờ thứ hai ra cửa Cần Giờ, chỉ mũi chạy ra mũi Né.
TỚI CỬA HÀN
Ngày 21 vô vũng Hàn vừa giờ thứ 5 chiều. Vô đó mà đưa ông Nguyễn Hữu Độ, là quan triều sai vô, lên mà về kinh. Đậu ngủ đó một đêm.
Chạy hai ngày rưỡi nữa, vô thân trong Cát Bà đậu lại đó (ngày 25 hồi giờ thứ 10). Đến giờ thứ nhứt rưỡi qua tàu Aspic mà lên Hải Phòng (đồn Ninh Hải).
TỚI HẢI PHÒNG
Lên bờ đi thăm quan lãnh sự (M. Ture), rồi qua bên kia sông tới nhà trọ nhà chú Khách Wan Sing. Sáng bữa sau lại qua ăn cơm nơi quan lãnh sự, rồi đi thăm các thầy làm việc ở đó cho luôn.
Trở lại, đi theo thuyền ông thương biện Lương quen khi đi sứ ở bên Tàu năm 1863 mà lên tỉnh Hải Dương. 27 tới tỉnh. Vào thành ra mắt quan lớn là ông Phạm Phú Thứ làm Thương chánh đại thần kiêm tổng đốc tỉnh Hải Dương và tỉnh Quảng Yên, có quen thuở đi sứ bên Tàu. Người mừng rỡ lắm. Nội ngày cũng tới viếng ông tuần phủ Nguyên Doãn, nguyên trước có quen khi người vô giao hoà lần sau tại Gia Định.
ĐI LÊN HÀ NỘI
Các quan cầm ở lại đó chơi, ăn tết rồi hãy lên Hà Nội. Khi ấy là mùa đông, trời rét lạnh nên ăn ngon cơm lắm. Mấy bữa ấy, hội các quan lớn nhỏ cả tỉnh đủ mặt; khi ăn khi uống chuyện vãn cả đêm cả ngày. Quan đại lại bày làm rạp hát cho ba bữa luôn, coi hát bội cho no, rồi lại hát nhà trò. Vui vầy với nhau thế ấy cho tới mồng 6 tết, chiều giờ thứ nhứt mới lên võng lên cáng mà đi đường bộ lên thành Hà Nội. Trước hết nghỉ chân tại cái chùa kia. Qua cung sau, nghỉ Ngạt Kéo, mặt trời chen lặn tới huyện Cẩm Giàng. Ông huyện tên là Dương Xuân ra rước vô nhà ngủ đó. Sáng, cơm nước rồi giờ thứ 8 từ giã ra đi.
TỚI HÀ NỘI
Từ Cẩm Giàng lên cho tới Hà nội nghỉ bốn chặng:
Quán Cầu Đất (giờ thứ 10).
Tại Đồng Súng (giờ thứ 12 trưa).
Ngã tư Dầu (giờ thứ nhứt rưỡi).
Chợ Bún (giờ thứ 3 rưỡi).
Giờ thứ tư rưỡi chiều ra tới bờ đê, đi trên đường quai xuống mé sông Bồ Đề, mướn đò đưa qua cửa Phố Mới.
Giờ thứ 8 tối tới nhà Hương Công là khách thương Gia Định ra mua hoa chi nha phiến đó.
Ở TẠI THÀNH HÀ NỘI
(Ngày mồng tám tết 1876)
ĐI THĂM LÃNH SỰ
Sáng ngày ra đi thăm ông de Kergaradec làm lãnh sự Lang Sa tại Hà Nội, còn ở đỡ trong trường thi của An Nam. Ra gặp ông điều lộ Lang Sa tên là Jardon cầm ở lại ăn cơm sớm mai đó. Rồi ra khỏi đó, thầy ba Hớn đem vô nhà bá hộ Kim ở hàng xa cừ chơi, đi coi hàng xa cừ một dãy đó là người có đạo cả. Luôn đường lại rủ nhau.
COI CHÙA NGUYỄN ĐĂNG GIAI
Đi coi cảnh chùa ông Nguyễn Đăng Giai lập một bên mép hồ Hoàn Gươm.
Nguyên thuở ông Nguyễn Đăng Giai ngồi tổng đốc tại Hà Nội, người bày ra cho đi thú quyên tiền quan dân mà lập nên kiểng chùa thờ Phật. Làm cũng đã công phu lắm, tốn tiền gạo hết nhiều, nên mới có bài thơ học trò bác chê ông ấy rằng:
Phước đức chi mầy bỏ đi Giai?
Làm cho tổn Bắc lại hao Doài,
Kìa gương Võ Đề còn treo đó,
Ngạ tử Dài thành Phật cứu ai?
Cảnh chùa ấy thật đã nên là tốt: vô cửa hai bên có tháp cao. Vào trong có hồ đi quanh co vòng theo chùa, lại ăn lọt dưới chùa nữa, hai bên mép xây gạch xây đá cả. Cầu bắc tứ phía qua chùa đều cũng xây đá gạch hết hẳn hoi. Xung quanh bốn phía có nhà hành lang chạy dài ra sau giáp nhau.
Trong chùa đàng trước để tượng Phật đứng bàn cả đám, hình lớn to, quang thếp cả. Hai bên sau có làm động và tháp điện, đều bong hình nổi ra hết. Đàng sau có đền, có tạc hình cốt ông Nguyễn Đăng Giai.
Phải chi nhà nước lo tu bổ giữ gìn thì ra một cái kiếng rất xinh rất đẹp. Mà nay thấy chùa thầy sãi ở đó, dở ngói, cay gạch bán lần đi mà ăn, nên hư tệ đi uổng quá.
HỒ HOÀN GƯƠM
Ngoài cửa có cái hồ Hoàn gươm rộng lớn; giữa hồ lại có cái cù lao nho nhỏ có cất cái miễu Ngọc Sơn, cây cối im rợp huyền vũ coi tươi tốt. Nhà thiên hạ, phố xá ở bao lấy miệng hồ.
Hồ nầy ở tại ngoài cửa đông nam tỉnh thành. Người ta truyền rằng: vua Lê Thái Tổ ngự thuyền dạo chơi trong hồ, có con quy lớn nổi lên, vua lấy gươm chỉ nó, nó ngậm gươm nó lặn đi. Có kẻ lại rằng: vua Lê Thái Tổ thuở xưa được gươm thần, ấn thần bèn khi binh, lấy để truyền làm báu đời. Đến đời vua Lê Thánh Tông mất thì gươm ấn ấy đều mất đi. Sau người ta thấy đầu gươm nổi dưới hồ, thò tay lấy, nó lại thụt mất di, nên gọi là hồ Hoàn Gươm
Đời sau lấy chỗ ấy làm chỗ tập binh thuỷ, nên cũng có kêu tên là hồ Thuỷ Quân nữa. Lúc năm Vĩnh Hựu có lập Thoại Cung (Khánh Thoại), đắp gò Đào Tư gò Ngọc Bội mà tượng việc võ công. Sau lập ra hai sở, sở bên bắc kêu là lã vọng hồ, sở bên nam lại kêu là hữu vọng hồ.
Có truyện ngoài lại nói ông Lê Lợi, sau là vua Lê Thái Tổ, thuở hàn vi đi chài dưới hồ ấy mà được cán gươm vàng. Tích nó là làm vầy: Thuở ấy nhà Trần suy di, bị Hồ Quý Ly chiếm ngôi; lại bị nhà Minh bên Tàu qua đánh lấy nước, nói để lập con cháu nhà Trần lại; mà không có làm. Có ông Nguyễn Thuần có chí khí hay cần vương tá quốc, mới đi lên non lên núi mà tìm con cháu dòng tiền Lê, lo lấy nước lại. Đi bơ bơ, tối chun xá vô cái miễu ở dựa mép đường đi mà ngủ. Khuya lại nghe tiếng kêu; ớ anh! Sao chưa sắm sửa đi chầu? Thì nghe tiếng đáp lại rằng: Thôi, anh có đi, thì xin kiếu giùm cho tôi chút; nay tôi có khách; Bãi chầu rồi rẽ có sự gì nói cho tôi hay với. Nguyễn ngủ lại; sáng ra lại nghe tiếng ứng kêu mà nói trên Thiên đình đã định cho Lê Lợi làm vua. Nguyễn dậy mới càng đi tìm sát lắm. Tới chỗ kia gặp Lê Lợi đang cuốc đất làm rẫy. Nguyễn vùng kêu là anh, chào mừng nói là bà con anh em con chú con bác. Ở đó hẩm hút với nhau. Nguyễn ở nhà vỡ đất trồng trặc gặp được cái lưỡi gươm, còn Lê Lợi đi chài dưới hồ Huờn Gươm lại được cái cán, đem về. Nói chuyện với nhau, đem ra rửa lắp lại vừa khít, mà lại là vàng cả. Nguyễn nói điềm làm vua chắc. Lo rèn khí giái, lập binh. Động lại dắt nhau chạy. Tới nơi kia cũng cứ làm rẫy nuôi nhau; Lê Lợi ra đi bụi cắc cớ ngồi trên hai gò mối. Sông rồi thấy dơ, mới lấy chân đạp gò mối mà lấp đi, chẳng ngó được một cục gì nặng vuông vuông, cầm đem về cho Nguyễn. Nguyễn rửa ra coi thì là cái ấn ngọc. Nguyễn mới chắc ý trời đã tới, mới giục Lê Lợi ra khí nghĩ mà đánh Minh.
Tối mắc quan lãnh sự mời ăn cơm, nên liên đường đi chơi, rồi về lãnh sự ăn cơm. Cuối canh hai mới về nhà trọ mà ngủ.
Đức thầy Phước (Mgr. Puginier) thật đã có lòng; cầm ông sáu Thìn với thầy ba Hớn lại ở đó nói chuyện mà chờ khuya lơ khuya lắc. Té ra qua sáng bữa sau mới đi thăm đức thầy được. Người mừng rỡ, hỏi thăm hỏi lom đủ. Rồi cầm ở lại dùng cơm với người, có cố Mĩ (P. Landais) là thầy chính sở Hà Nội và cố Phước (P. Bonfils) là ký Lúc người đồng bàn trò chuyện vui vẻ lắm. Xế qua mới từ tạ các đằng mà về nhà Công ty cũng ở một dãy đó. Mới bàn với nhau kêu thợ may mền lót bông, áo quần dồi bông kẻo trời đông thiên lạnh lẽo lắm.
Bữa sau mồng 10 tháng giêng, còn lẩn quẩn coi những đồ đặt làm ngày chưa ra, và mua đồ vặt, lụa hàng, đũi mẫu tư (Hưng Yên).
Hiệu Huỳnh Lục Ký là chủ hàng Quảng Đông giàu, gởi thiệp mời đi uống rượu với ông Hương Công. Tối về, lại hầu đức thầy. Sáng ra chúa nhựt xem lễ tại nhà đức thầy. Rồi về nhà trọ nghỉ. Đức thầy mói cho cố Mĩ tới thăm thay vì người, vì không phép người đi tới nhà chệch khách mà đi thăm lại.
Giờ thứ nhứt chiều đang nghỉ trưa, vùng có người vào báo rằng: quan tổng đốc Hà Nội Trần Đình Túc ở trong thành ra, đi tiền hô hậu hủng (củng), tới tại nhà Công ty tìm mà thăm.
Bịt khăn mặc áo tiêm tất rước người vô. Ngồi nói chuyện với người cho tới giờ thứ 3, người mới về thành. Ông tổng đốc nầy là người trong Quảng, con nhà trâm anh, làm quan đã nhiều đời, đâu cũng bảy tám đời. Người đã lớn tuổi ngoài 70, mà còn sõi lắm. Tối lại đi lại hầu đức thầy.
Rặng mặt 13 cho ông sáu Thìn đi nua đồ vặt: rương chữ thọ mà đựng đồ; sách vở, giấy mực, đồ cần… Chiều lại, giờ thứ 3 rưỡi, mới đi vô thành mà trả lễ cho quan thượng. Có gặp quan bố tới hầu đó nữa. Tối về, Công ty đãi tiệc rượu có nhà trò một bữa. Khi ấy thầy ba Hớn đã xin tách ra đi về tỉnh Bắc (Bắc Ninh) thăm bà con đi rồi, còn lại có một ông lão Sáu.
Mấy bữa 14, 15, 16, quan thượng mời vô thành ăn cơm với người, rồi cho một ông đội hầu đem đi dạo coi các nơi chơi.
ĐỀN KÍNH THIÊN
Trước hết vô hoàng thành cũ. Lọt khỏi ngũ môn lâu, lên đền Kính Thiên. Đền ấy nền cao lắm, có 9 bậc xây đá Thanh, hai bên có hai con rồng cũng đá lộn đầu xuống. Cột đền lớn trót ôm, tinh những là gỗ liêm cả. Ngó ra đàng sau còn thấy một hai cung điện cũ chỗ vua Lê ở thuở xưa, bây giờ hư tệ còn tích lại đó mà thôi.
CỘT CỜ
Ra ngoài cửa ngũ môn lâu, thẳng ra cửa Nam, có cột cờ cao quá xây bằng gạch, có thang khu ốc trong ruột nó mà lên cho tới trên chót vót. Leo lên thôi đã mỏi chân mỏi cẳng. Ra tại chuồng cu đứng ngó mông, thấy núi non xa gần, ngắm nhìn chót núi Tân Viên. Không dám ngó xuống, vì ngợp lắm. Một bận đi xuống cũng hết hơi.
ĐỀN CÔNG
Đi lại cửa tây ra ngoài thành đi coi đền công. Chỗ ấy huyền vũ có cây cao lớn sum sê rễ nó xỏ xà leo với nhau như rễ, mát mẻ, im rợp quá.
ÔNG THÁNH ĐỒNG ĐEN
Ra cửa ô Bưởi đi coi chùa Trần Võ Quan, tục kêu là ông thánh đồng đen, ở một bên mép hồ Tây. Tượng ấy là tượng ngồi cao lên tới nóc chùa, đúc bằng đồng đen cả. Tóc quăn như đầu Phật; mặt cũng tựa tựa; còn từ cổ sắp cuống thì ra như hình ông thánh Phao Lồ, một tay chống lên trên cán cây gươm chỉ mũi lên trên mu con rùa, một tay thì ngay ngón trỏ mà chỉ lên trời, chân thì đi dép. Có chữ đề mà đã mòn đã lu đi coi không ra.
CHÙA MỘT CỘT
Coi rồi mới ra đi đến xem chùa một cột, là cái miễu cất lên trên đầu cây cột đá lớn trồng giữa ao hồ.
Nguyên tích ai thiết lập ra thì người ta nói mờ ớ, không biết lấy đâu làm chắc cho mấy. Cứ sách sử kí và Đại Nam nhứt thống chí, thì chùa ông thánh đồng đen kêu là Trần Võ Quan Tự, ở về huyện Vĩnh Thuận, phường Đoan Chương đời nhà Lê, năm Vĩnh Trị năm Chánh Hòa, vua Hi Tông (1675) sửa lại đúc tượng đồng đen cao 8 thước 2 tấc, nặng 6600 cân, tay hữu chống trên cây gươm, chỉ mũi trên lưng con rùa, có rắn vấn doanh theo vỏ gươm. Trong sử nói đời Thục vua An Dương Vương bị tinh gà ác và phục quỷ núi Thất Diệu, mà nhờ có thần hiện trên núi Xuân Lôi thuộc về tỉnh Bắc Ninh trừ ma phá quỷ hết đi, thì vua dạy lập miễu phía bên bắc thành vua mà thờ là thần, đặt hiệu là Trần Thiền Chấn Võ Đế Quân.
Thuở Minh Mạng năm thứ 2 vua ngự ra Bắc có ban 50 lượng bạc, lại một cái áo võ tư vàng.
Năm Thiệu Trị thứ 2, vua ngự có ban tiền vàng 1 đồng, áo vàng 1 cái, 1 bài thơ, và 1 đôi liễn nữa.
Còn chùa một cột, thì cũng ở hạt huyện Vĩnh Thuận, làng Thanh Bửu, ở giữa cái hồ vuông, có trụ đá cao trót trượng, yên viên chừng 9 thước, trên đầu có cái miễu ngói chồng lên, như cài hoa sen ở dưới nước ngóc lên. Sử chép rằng: Thuở xưa vua Lý Thái Tông nằm chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi tòa sen dắt vua lên đài. Tỉnh dậy học lại với quần thần, sợ điềm có xấu có hệ chi chăng. Thì thầy chùa thầy sải tâu xin lập ra cái chùa thể ấy, đặng cho các thầy tụng kinh mà cầu diên thọ cho vua, thì vua cho và dạy lập ra.
Qua đời vua Lý Nhân Tông sửa lại, bồi bổ, lập tháp, đào ao, xây thành, làm cầu, tế tự, hễ tháng tư mồng 8 vua ngự ra đó kỳ yên. Lại đúc chuông, mà đúc rồi, chuông đánh không được kêu, nên bỏ ra ngoài Quy Điền. Đời vua Lê Thái Tổ đánh giặc với quan nhà Minh, vây trong thành đông Quan binh khí hết đi ,nên quan Minh lấy mà đúc súng, đúc đạn đi.
HỒ TÂY
Cái hồ Tây ở tại huyện Vĩnh Thuận, phía tây thành Hà Nội; kể châu vi nó được 20 dặm, nước sâu từ 1 thước cho đến một trượng; thuở xưa tên nó kêu là Làng Bạc. Nước trong ve trong vắt như mặt kính vậy. Thường người ta phiêu hàng lụa thì đều dùng nước hồ ấy mà làm. Tục ngoài ấy hay nói: Làm người phải cho cả ý; người nào mang bị là người Tây Hồ; mang bị là mang hàng lụa đi đến đó mà giặt mà xả.
Đời xưa các vua, có làm cung điện mà chơi đó. Như đời vua Lý Nhân Tông ngự thuyền nhỏ đi chơi, mà bị Lê Văn Thạnh làm thuật hóa cọp mà nhát, nhờ Mục Thận vãi chài chụp được… Vua Trần Dũ Tông, khi còn nhỏ đi dạo thuyền té dưới hồ Tây, nhờ có thầy Trâu Canh cứu được cho khỏi chết v.v…
Người ta truyền miệng rằng: có con kim ngưu ở núi Làng Kha chạy nhủi dưới hồ ấy. Rốt đời Cảnh Hưng, nước hồ nó đổi sắc đi, lại nói bên phía đông hồ thường đêm có thấy một con trâu ăn cỏ đó, mà hễ người ta lại gần thì nó hụp xuống hồ mất đi. Cách ít lâu sau, mưa dông sấm chớp luôn cả một đêm, sáng ra thấy dấu trâu ở trong hồ ra mà sang qua sông Nhĩ Hà. Sau tiệt đi không thấy nữa. Xung quanh mép hồ nhà dân sự ở đông. Đã nên là mộït kiểng sơn thuỷ quá vui quá đẹp; phải mà sửa soạn bồi bổ cho hẳn hoi, thì lại càng ra xinh ra đẹp hơn nữa bội phần.
VĂN THÁNH MIẾU
Đó rồi đi coi Văn Thánh miếu ở tại phía tây nam thỉnh thành, tại huyện Thọ Xương, làng Minh Giám, là chỗ thuở đời nhà Lý vua Thánh Tông đi tế tượng thánh Khổng Tử, và 4 vị á thánh, lại 72 sĩ hiền. Sau miễu hai bên tả hữu có bia tấn sĩ tạc đá xanh, dựng lưng quỳ sắp hàng, từ đời kia qua đời nọ nhiều lắm. Đời nhà Trần, nhà Lê cũng nhân đó mà làm luôn. Đời Gia Long có lập thêm cái khuê văn các trong cửa Nghi Môn.
Coi rồi lại lộn về cửa nam, vô coi tàu voi, rồi trở về nhà trọ nghỉ. Tối lại hầu đức thầy.
Rằm quan thượng trong tỉnh cho mời vô thì cơm với người. Người cho đi bắn cò chim về uống rượu, lại hối bà lớn và các cô làm mắm rươi hai ba thứ cho mà ăn thử với thịt kẻo chưa biết.
Người ham hỏi chuyện và nói chuyện lắm, cả ngày coi sách coi vở luôn luôn. Người ăn học lịch lãm đã nên là có công. Hầu quan lớn một buổi, từ giã người ra về Phố Mới. Mua đồ sửa soạn sắp đặt cho sẵn; trả tiền trả bạc đồ mua đồ đặt cho xong đi. Tối cũng lại hầu chuyện đức thầy Phước.
Kế lấy được thơ thầy ba Hớn ở Bắc Ninh mời qua một bữa chơi cho biết xứ. Thì đã lo võng đá đặng sáng bửng tưng ra có đi. Ai ngờ mới mờ mờ đất, trong thành quan thượng cho ra mời vô, vì có ông đại thần dưới Hải Dương lên; nên đi không đặng, phải cho ông sau Thìn thế hành lên cáng tuốt qua Bắc Ninh với thầy ba kẻo trông.
Vừa đâu thấy quân gia kéo đỏ đường vô thành; ấy là quan đại nhập thành. Ở trong thành thăm các quan cho đến trưa mới về được. Xế lại đi xuống trường thi thăm các quan Lang Sa; về nai nịt đồ đạc tính có lo lộn xộn xuống Hải Dương về Hải Phòng mà về Gia Định.
Bữa sau 17 tháng giêng trưa ông sáu Thìn với thầy ba Hớn ở tỉnh Bắc Ninh mới về. Bàn với nhau sự về bữa 19. Vậy nhứt diện kiểm điểm đồ lễ, nhứt diện đi thăm viếng từ tạ các quan tây nam cả. Về nhà Công ty đãi đưa chân một bữa. Chiều lại vô quan thượng *từ mà về, người có cho 4 ông đội với 6 tên lính đi theo đưa xuống tỉnh người Đông.
Rạng mặt 19, đi từ giã đức thầy, các cô, các cụ. Giờ thứ 8 xuống thuyền qua sông Bồ Đề vô ngã sông Giàu, xuống Lục Đầu Giang, sông Thiên Đức. Giờ thứ 4 rưỡi chiều ngày 20 tới tỉnh Hải Dương. Đi ngã ấy có qua cái thác. Tức cười cái mụ đò! Ai nấy lên bờ đi bộ bớt cho nhẹ thuyền; mình với thầy ba Hớn ở lại để coi *hồi xuống thác thể nào cho biết. Thấy nước chảy thật nên gớm! Thuyền gần tới thác, mụ đò thắp nhang, đốt giấy vàng bạc, vái lớn tiếng cách nghiêm trang tề chỉnh. Rồi hai mẹ con ôm chèo kềm lái cho vững để nước tông chiếc thuyền chạy trợt xuống một cái gọn gàng.
Thuyền tới tỉnh đậu lại tại bên Hồ. Sáng ra mới lên thành *và quan đại từ giã các quan, xin lui về Hải Phòng. Ở đó cả ngày *rồi tối các quan cầm ngủ trong thành, tiễn nhà trò một bữa vui lắm *nhà học có đủ mặt các quan.
Đây rồi ta xuống Hải Phòng. Mà ta để đình việc đi một lát, *ta nói về tỉnh Hà Nội và Hải Dương, là hai tỉnh ta đã đi qua cho *biết hành tích địa thế nó ra làm sao mà nghe mà chơi đã, rồi sẽ nói *chuyện đi đứng các chỗ khác.
TỈNH HÀ NỘI
Tỉnh Hà Nội từ D. qua T. 25 dặm, từ N. qua B. 129 dặm1
GIÁP GIẢI
D. chạy tới mép sông Nhĩ Hà, bên kia về tỉnh Bắc Ninh.
T. giáp giải tỉnh Sơn Tây.
N. chạy tới sông Thanh Khuyết, ngang tỉnh Ninh Bình.
B. [ 1 ] chạy tới bờ sông Nhĩ Hà, ngang địa phận tỉnh Bắc Ninh.
Từ tỉnh thành lấy vô tới kinh đô (Huế), kẻ được 1104 dặm.
DANH TÍCH
Tỉnh nầy nguyên thuở đầu đời Hùng Vương là bộ Giao Chỉ.
Đời Tần là nước vua An Dương Vương.
Đời nhà Hán, nhà Tuỳ là bộ Giao Chỉ.
"Đường là An Nam đô hộ phủ; đời ấy mới xây Đại La Thành. Đinh phân làm đạo. Tiền Lê phân làm Lộ. Lý lập đô thành tại đó kêu là Nam Kinh, lại vì vua Lý Thái Tổ thấy rồng doanh thuyền ngự, nên đạt tên là Thăng Long thành. Trần đổi tên kêu là Trung Kính. Minh choán lấy mà trị thì kêu là Đông Quan Thành; hậu Lê kêu là Đông Kinh, rồi kêu Trung đô; sau từ Lê Thuận Tông lại kêu là Đông Đô, đối với Tây Đô là Thanh Hoá. Nguỵ Tây Sơn kêu là Bắc Thành. Gia Long làm ra trận, phân đất bắc ra làm Năm trấn trong là: Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Sơn Tây, Kính Bắc, Hải Dương; Còn Tuyên quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Yên, sáu trấn kêu là Sáu Trấn ngoài, vì có Nùng ở xen. Minh Mạng năm thứ 12 cải làm ra tỉnh; năm thứ 15 cải kêu 13 tỉnh đất bắc là Bắc Kì. Tự Đức năm thứ 5, mới phân tỉnh ra".
TỈNH HÀ NỘI
Có 4 phủ, 15 huyện.
1/. Hoài Đức phủ, D T 19 dặm, N B 40 dặm. Đời Lê thì kêu là Phụng Thiên phủ
"Hán" Lang Biên huyện,
"Tổâng" Tổng Bình huyện,
Sau gọi là Tổng Bình quận.
Lúc thuộc Minh là Đông Quan huyện. Lê sau kêu là Vĩnh Xương.
Đời Minh Mạng năm thứ 2, lảnh 8 tổng, 115 thôn, phường.
Phủ nầy chia ra làm 2 huyện
1/. Vĩnh Thuận huyện, 5 tổng, 40 thôn, phường, trại. 2/. Từ Liêm huyện, 13 tổng, 82 xã, trang, thôn, sở. 2/. Thường Tín phủ. D T. 20 dặm, N B. 54 dặm. Thành đất, châu vi 203 trượng, 2 thước; cao 7 thước 2 tấc; hào rộng 3 trượng, cửa 3 cái. Đời Hán về Giao chỉ quận; đời Trần sắp về trước thì là châu Thượng Phước. Minh thì là châu Phước An; hậu Lê kêu là Thường Tín; Minh Mạng năm thứ 12, cho lãnh 3 huyện:
1/. Thượng Phước huyện, 12 tổng, 82 xã, thôn. 2/. Thanh Trì huyện, 12 tổng, 100 xã, thôn, phường, châu. 3/. Phú Xuyên huyện, 11 tổng, 84 xã, thôn. 3/. Ưng Hoà phủ Đ T. 74 dặm, N B. 83 dặm. Thành đất, châu vi 271 trượng, 2 thước, cao 7 thước 2 tấc; hào rộng 2 trượng. 2 thước, 3 cửa. Đời Hán thuộc Giao Chỉ, đời nhà Lý làm ra Ưng Thiên phủ; Minh cải là Ưng Bình. Tự Đức năm thứ 5 cho lãnh 4 huyện:
1/. Sơn Minh huyện, 8 tổng, 75 xã, thôn. 2/. Hoài An huyện 4 tổng, 50 xã, thôn, phường, sở. 3/. Chương Đức huyện 9 tổng, 69 xã, thôn, trại, sở. 4/. Thanh Oai huyện 12 tổng, 93 xã, thôn. 4/. Lý Nhân phủ, Đ T. cự 56 dặm, N B. 77 dặm. Thành đất rộng 329 trượng, cao 7 thước 2 tấc, hào rộng 5 trượng, có 3 cửa. Đời Hán thuộc về quận Giao Chỉ, đời nhà Trần sắp về trước là Châu Lợi Nhơn, Minh là phủ Giao Châu; Tự Đức năm thứ 5 cho lãnh 5 huyện:
1/. Kim Bảng huyện 6 tổng, 57 xã, thôn, trang, sở. 2/. Duy Tiên huyện, 6 tổng, 60 xã, thôn, trang. 3/. Thanh Liêm huyên, 8 tổng, 63 xã, thôn, trang. 4/. Nam Xang huyện, 9 tổng, 86 xã, thôn. 5/. Bình Lục huyện, 4 tổng, 37 xã, thôn. (Thổ sản phủ Lý Nhân ca)
Nam Xang nước lụt lắm ốc nhồi, (lồi)
Kim Bảng lươn bung mới dạo sôi,
Thanh Liên bỏm bẻm nhai trầu quạch,
Bình Lục phì phào hút thuốc hôi,
Duy Tiên thịt thúi ba chiều chợ.
HÌNH THẾ
Hình thể tỉnh Hà Nội tốt lắm. Nó ở chính giữa các tỉnh Bắc Kì. Phía T, phía N có núi non che án; đất bằng đai rộng; bên tả có sông Nhĩ Hà đoanh quanh; bên hữu có sông Hạc Giang chảy. Tỉnh ấy đã hơn tám trăm năm là đất cựu đế đô.
KHÍ HẬU
Tháng giêng mùa xuân phây phay gió đông thổi, trời rét (lạnh). Tháng 2 tháng 3 dịu bớt; tháng 4 tháng 5 thường nắng. Từ tiểu mãn sắp về sau, sông Nhĩ Hà nổi nước; ban đầu mưa nhiều to đám, sau nước đầy hoài làm nên lụt; lúc ấy lo giữ bờ đê bờ quai nhặt lắm.
Thượng tuần tháng 7, mồng 3, mồng 7, mồng 8, mỗi bữa thường có mưa lớn, tục kêu là mưa ngâu (vì so Chức Nữ qua sông Ngân Hà về với sao Kiên Ngưu).
Tháng 9 mồng 9 có mưa thì được mùa, không mưa thì mất mùa.
Có lời ngạn ngữ rằng: Mồng 9 tháng 9 có mưa, thì con đi sớm về trưa mặc lòng; Mồng 9 tháng 9 không mưa, thì con bán cá cày bừa con ăn.
Mùa đông rét lạnh, lại có thứ sương tục kêu là sương muối, hay hại cỏ cây lắm, rét buốt da tay chân, như kim châm.
Câu ví gió đông rằng: gió đông non chui vào đụn rạ; sống là họa, chết đá cầm tay. Nói về thằng đểu hoang, không còn có chi mà che thân mà cự rét, vì: quay đất nó đã quấy anh; quần áo cổ hết một manh chả còn.
Đại để nó là mùa xuân mùa đông thì lạnh nhiều; mà mùa hè mùa thu thì mưa giả. Ruộng sâu thì đông cấy, hè gặt. Từ tháng giêng cho tới tháng 8, để tắm được.
PHONG TỤC
Trong tứ dân đều có chuyên nghề cả, mà nông thì hội hơn. Chốn Thiềng Thị thì công thương tụ, có lộn Ngỏ Khách. Đàn ông còn trai hay ngồi quán ngồi lều trà rượu ăn chơi, còn việc cày cấy thì nhờ đàn bà con gái làm.
Đàn ông ăn mặc cũng thường, diêu áo vấn tới đầu gối, đầu hay đội nón ngựa, bịt khăn đen.
Đàn bà mặc áo có thắt lưng làm bìu (bọc), yếm đỏ, không gài nút nịt, nút vai thả không ra mà thôi, đầu đội nón giàu (ba tầm), lớn gần bàng cái nia, hai bên có hai quai tụi vấn toòng teng, đầu vấn ngang, lấy lượt nhiễu vấn tóc mà khoanh vấn theo đầu. (có một làng Kẻ Lòi có đàn bà bới tóc); Dưới mặc váy, chân đi dép sơn; nước da mịn màng trắng trẻo, má hồng, da ửng, gót son, phốp pháp người; răng nhuộm đen cánh gián.
Thói trật áo thắt lưng là nhơn bởi trời đông thiên rét lạnh; đàn bà có con, cho bú một lần phải mở nhiều áo khó lòng, nên để luôn như vầy. Còn thắt lưng thì cũng là vì lạnh; con gái thấy vậy cũng bắt chước làm theo, mùa nào mùa nấy cũng để luôn như vậy mà thành tục.
Ngày tư ngày tết, hay đơm thần quải tổ, mở tiêch ăn chơi, hát xướng, phụ tiên kỳ thần. Việc tang lễ hay làm trọng thể xa xỉ quá. Nên Tàu có lời rằng: Sanh ư Quảng Đông, tử tại Hà Nội, gia quan ư Triều miển.
NHÀ TRÒ
Khi đám tiệc, hôïi hữu, hôn tế, kỳ yên, chập miễu, thường hay dụng nhà trò. Nhà trò là con gái đương xuân sắc chuyên tập nghề ca xướng, tục kêu là cô đào. Có đám tiệc, thì người ta rước tới hát, thường hát theo ca trù, giậm Tuý Kiều, câu hát, thơ phú, hoặc kể truyện. Hát cũng khi ngồi khi đứng, tay nhịp sanh, miệng hát nhiều cung bậc giọng thấp giọng cao ngân nga hay và êm tai lắm; có chú kép ngồi một bên gảy (khảy) cái đàn đáy, lại có người đánh trống nhỏ cầm chầu. Có khi lại đứng hát bộ vừa múa vừa hát. Có khách thì chủ đám lại bắt phải quỳnh tương rượu. Tay bưng chén rượu, miệng hát câu chi, hoặc tình ái, hoặc nhân ngãi, để mời cho khách uống đi. (Câu hát là giọng quỳnh, chén rượu là chén quỳnh tương), tích chén nước Vân Anh đem đưa cho Bùi Hàn uống… giọng nhà trò thường là những giọng sau nầy: mẫu dựng, Thiệt nhạc, ngâm vọng, tì bà, tát phẩn, hát nói, gởi thơ, quỳnh, hãm, cung bắc, của quyền, non mai, nường hạnh, chữ khi, tho, thổng v.v…
Tục hay nói: gái tháng 2, giai (trai tháng 8, nghĩa là thường tháng 2 làng tổng có làm đám hội, thì gái tranh sắc, tháng 8 làm cỗ nhắm *thì ).
HỘI
Làm hội là làng kỳ yên, rước đưa thần bụt. Viên quan chức sắc thì lưng đai bố từ, đầu đội mũ tú tài, chân đi hia, có một ông chánh đám; chánh tế thì đội mũ trái bí, cổ đeo choàng vai xuống nách thứ tràng mạng (là chuỗi, hôït hương thơm), đi có cờ xí, cờ tướng, cờ đuôi nheo, cờ linh tiền, kiệu song loan, đồ lộ bộ, tàn lọng; đi có hàng lớp thứ tự; ai ai cũng có cầm quạt che mặt. Còn quân đài đệ thì đội mão cứt heo, đóng khố nỉ thêu, mình ở trần, tay cầm khăn đỏ. Trai tơ gái lứa chưng đồ tử tế, đồ nhứt ra nhỏng nhẻo đi coi.
HÁT ĐÊM
Hội, giụm ba giụm bảy từ chòm từ khóm hát đùm, là hát hoa tình ghẹo chọc đối nhau.
Thường mùa hội, ngoài quán trong lều hay đánh quay đất (bong), thò lò (bong vụ), xóc đĩa (chẵn lẻ), đối mò (đối sấp ngửa).