Part 4
Có lẽ con trâu biết có cọp, đâm sợ vùng chạy lên, nên khi cọp ta nhảy vào thì trâu cũng đã giáp vòng mà trở lại chỗ cũ. Vì cọp vướng phải trâu nên chụp hụt con bé. Con bé lại hoảng hồn té nhào xuống cái muống thúy. Trong đó đã có một ít nước mía, con bé nằm ngửa và đưa hai tay hai chưn lên lơi bơi. Cái mặt che vẫn láng vì thường có thoa dầu, nhờ có ánh đèn, dọi cái bóng lơi bơi của con bé vào đó. Cọp ta nhìn cái bóng, tưởng là đứa gái ở trong che, bèn đút một cẳng vào để lôi ra. Không ngờ cái cẳng ấy bị che nghiến mất. Con cọp không chịu thôi, đưa một cẳng khác, cũng bị nghiến. Nó đưa cái thứ ba nữa, cũng bị nghiến nốt. Sau cùng bị nghiến đến cái cẳng thứ tư, thế là nó chỉ còn cái thân trơ trọi.
Gần sáng, cả làng chạy tới, ai nấy đều nhìn con cọp rồi nhìn nhau mà cười. Còn con bé, sau khi họ vớt ra, hú hồn hú vía mất một chặp lâu mới sống lại. Té ra nó không chết vì con cọp, mà con cọp lại chết vì nó.
Sau khi việc nầy xảy ra, người ta ở chung quanh làng đó cứ nhắc đến “con cọp chòi mía” để làm tượng trưng cho một cái triết lý: Kẻ ác có lắm khi không ai hại nó, trời cũng chẳng hại nó, chính nó tự hại.  
THÔNG REO
KHÔNG THỂ NÓI LÀ “ĐẺ”
Theo tin báo Bắc, người ta nói ở ngoài ấy có một người đàn bà chết rồi là còn đẻ.
Số là có một người đàn bà chết trôi, có mang đã 7 – 8 tháng, cái xác chết còn đang để chờ quan khám rồi mới liệm. Thì bỗng dưng thấy chỗ xác chết có máu ra lai láng; coi kỹ thì trong quần người đàn bà có đứa con trai lò ra và cố nhiên cũng đã chết.
Việc đã xảy ra như thế. Thế mà một truyền mười, mười truyền trăm, ai nấy đều nói người đàn bà chết rồi còn có thể đẻ được, rủ nhau đi coi.
Có viên thầy thuốc cắt nghĩa cái hiện trạng nầy, nói: “Đó không phải đẻ. Chỉ bởi cái hơi trong bụng người đàn bà sình lên đầy và mạnh quá, tống đứa con ra, chớ không phải đẻ”.
Viên thầy thuốc cắt nghĩa như vậy đúng lắm. Người ta còn sống mới đẻ được, chớ chết rồi còn đẻ gì?
Đó chẳng những thêm tri thức cho chúng ta về sanh lý học, mà cũng về văn học nữa.
Về sanh lý học, lấy “sanh sanh” làm nguyên tắc. Sanh là sống mà cũng có nghĩa là đẻ là nẩy nở nhiều thêm ra. Cho nên phàm vật gì có sống thì mới sanh sản được, còn chết thì hết sanh sản.
Người ta chết đi, cái hơi trong xác chết nó cứ sình lên mãi, có thể gọi là nó “lên men” ( fermenter ) được. Nếu cứ để cái xác đến ba ngày mà không liệm thì nó cứ phình to lên mãi, tục gọi là “sình chương chương mẩy” vậy. Cái làm cho sình lên đó chỉ là cái hơi. Nó bị nhốt ở trong bụng người ta nên nó mạnh lắm, nó phải kiếm chỗ mà thoát. Nhơn đó nó tống đứa nhỏ ra như là đẻ, lẽ ấy không lạ gì, cũng như nồi nước sôi làm cho cái đầu máy xe hỏa chạy đó thôi.
Như vậy, nếu nói chết rồi mà còn đẻ, thì là trái với sanh lý học lắm, nói thế cũng như chưởi sanh lý học!
Về văn tự học, cái hiện trạng đó nhắc cho chúng ta, những người biết viết, phải nhớ rằng khi nào gặp cái trường hợp như thế thì không được dùng chữ “đẻ”.
Như trên có nói, chữ “sanh” là sống mà cũng có nghĩa là đẻ, nẩy nở nhiều thêm ra. Vậy sống với đẻ, hai cái đó có tương quan với nhau: có sống mới có đẻ, không sống thì không đẻ.
Thế mà, người đàn bà đã chết, có đứa con lòi ra, nếu cũng dùng chữ “đẻ” để chỉ sự ấy, thì chẳng là vô nghĩa lắm sao? Nói như thế đã không đúng, mà lại có hại, hại những người dốt họ có thể tưởng lầm.
Không nói đẻ thì nói thế nào?
À cha chả! Cái mới là khó chớ. Tôi nghĩ mãi mới được chữ “bựt ra”. Tôi muốn cái ông phóng sự, khi gặp việc như thế, phải viết trên báo: “Cái xác chết có đứa con bựt ra”, chớ không được nói “đẻ”. Chữ đó không lạ gì và nó có nghĩa đúng lắm. Hễ cái gì nó tức vì bí hơi thì nó bựt ra, mà đây đứa con bựt ra cũng chỉ vì bí hơi. Chỉ khác một điều: cái gì bí hơi mà bựt ra thì thường có nổ thành tiếng lớn. Khi đứa con bựt ra đây hoặc không có nổ chăng, hoặc có nổ nhỏ mà người ta không nghe thấy chăng?
THÔNG REO
ANH, NGA SAO KHÔNG DÙNG LÍNH NHẢY DÙ?
Tôi hôm nay cũng bàn tới sự dụng binh, thì thật là chuyện không ai ngờ có.
Vả chăng đời nay người ta dụng binh theo lối mới, còn tôi học theo Tôn Ngô binh pháp , thì có ăn nhập vào đâu mà bàn, − nhiều người chắc tưởng như vậy.
Tuy vậy, đông tây kim cổ cũng chỉ có nhứt lý: mặc dầu binh pháp nào, cái chỗ bí yếu cũng giống nhau. Một hòn núi, ông leo lên từ bên kia, tôi leo lên từ bên nầy, nếu chúng ta đều không lộn đường thì chúng ta sẽ gặp nhau ở trên đảnh.
Tôi muốn bàn tới cái lẽ tại làm sao mà bộ tham mưu của Anh và Nga lại không dùng lính nhảy dù để làm rối bên địch như Đức đã dùng.
Ấy cũng là một câu hỏi của bên Pháp đặt ra mà hãng Arip lấy đem vào tin mới rồi, thông tin cho chúng ta biết.
Họ nói, chính đạo binh nhảy dù là của Nga bày ra, hiện Nga có đến một trăm ngàn bộ đội đã luyện tập thành thục, sao mà trong trận đánh với Đức đây, chẳng hề thấy Nga dùng tới?
Còn bên Anh, trước kia thấy lính nhảy dù của Đức lập nhiều công trận thì họ liền luyện tập theo kiểu và đem ra dùng. Lần thứ nhứt, Anh cho lính nhảy dù xuống đất Ý thì đã bị bắt làm tù binh hết thảy. Về sau không thấy nói Anh còn có dùng hạng lính ấy lần nào. 
Người ta chỉ nói thế, nhưng người ta không cắt nghĩa tại làm sao Nga không dùng lính nhảy dù và Anh chỉ dùng có một lần rồi thôi đi, còn Đức lại cứ dùng.
Cái lẽ ấy, tôi tưởng người ta biết thừa ra, có điều người ta không nói đó thôi; dễ lắm, không gì khó biết cả.
Số là đội binh nhảy dù phải nhờ có đội binh thứ năm là kẻ làm nội công thì mới thành công được. Sau khi họ ở máy bay nhảy xuống, có bọn nội công hiệp sức với nhau hành động mới làm nên việc, không thì họ chịu phép.
Trận chiến nầy gây ra từ nước Đức. Đức đã sắp đặt sẵn đội binh thứ năm ở các nơi nên mới dùng lính nhảy dù ở đó một cách công hiệu.
Còn Anh hay Nga cũng vậy, trước kia không định đi xâm lược nước nào, cho nên Nga dầu lập đội binh nhảy dù mà cũng không lập sẵn đội binh thứ năm.
Không có kẻ nội công để tiếp ứng thì lính ở trên trời nhảy xuống chỉ làm mồi cho bên địch, như lính nhảy dù của Anh bị bắt ở Ý đó.
Bởi lẽ đó mà Đức dùng lính nhảy dù được, còn Anh và Nga không dùng.
Nếu vậy, bây giờ Anh và Nga đặt đội binh thứ năm ở các nơi đi, có được không?
Có lẽ không được. Hồi đầu chưa ai để ý nên Đức mới đặt nội công ở các nước được, còn bây giờ đâu đó đều giữ như khem, có chỗ nào thò tay vào!  
THÔNG REO
MÀY NGÀI VÀ MÀY TẰM
Nhơn Dân báo số vừa rồi có bài của cô Mộng Tuyết bắt bẻ hai chữ “mày ngài” của báo Tri tân [ 14 ] mà tôi kéo dài ra thành câu chuyện: mày ngài và mày tằm.
Hai danh từ nầy đã có nhiều người làm lầm lộn nhau, cả đến cụ Nguyễn Du là ông tổ sư quốc văn của chúng ta cũng không khỏi.
Trước hết chúng ta nên định nghĩa rõ ràng hai chữ nầy rồi nói chuyện gì hãy nói. “Ngài” là con bướm do trong cái kén nở ra; còn “tằm” là con tằm nở ra từ trứng của con ngài rồi lần lần lớn lên và làm ra cái kén.
Trong báo Tri tân , theo cô Mộng Tuyết thuật lại, ông Hoa Bằng giải chữ “nga mi” là “nét mày như con ngài” và thêm rằng: “Nếu nét mày đã như con ngài thì không biết còn đẹp cái nỗi gì?”
Phải, nếu cặp mắt của người đàn bà như hai con tằm “ăn ba” hay “thức lớn” nằm trên đôi con mắt thì coi bặm xị quá, không còn đẹp vào đâu nữa.
Nhưng không phải.
Khi nào người ta nói cặp mày của mỹ nhân mà nói “nga mi”, tức chỉ hai cái vòng cong trên đầu con ngài, như cô Mộng Tuyết có cắt nghĩa. Đại khái muốn tả ra cặp lông mày cong mà nhỏ.
Thế còn mày tằm?
Mày tằm là cặp mày to, rậm, dài, có vẻ bặm xị, thường là cặp mày của bậc anh hùng, của trang hảo hớn hay là võ tướng.
Như trong truyện Tam Quốc nói ông Quan Công “mi nhược ngọa tàm”, nghĩa là lông mày như con tằm nằm. Con tằm nằm, thì chưng mày phải là dài, thẳng, to và rậm, mới xứng với sự so sánh ấy.
Thế mà trong khi cụ Nguyễn Du tả trạng mạo Từ Hải, một vị anh hùng cụ muốn tả, cụ lại nói rằng “râu hùm, hàm én, mày ngài”, có phải bướng không?
Nếu Từ Hải mà có cặp mày ngài thì thành ra Từ Hải trở lại có cái đẹp của cô Kiều, coi sao được?
Thật thế, đàn ông, nhứt là thứ đàn ông làm tướng giặc, mà lại có cặp chưng mày vòng nguyệt như mày của con ngài thì thật chẳng có đàn bà nào coi cho vừa mắt họ cả.
Cho nên, chỗ Truyện Kiều tả về Từ Hải đó, giá cụ Nguyễn Du không nói “mày ngài” mà nói “mày tằm” mới đúng.
Cái mà ông Hoa Bằng “không biết còn đẹp cái nỗi gì?”, nếu đem mà đặt trên khuôn mặt Từ Hải lại trở thấy là đẹp, vì có thế nó mới xứng với râu hùm hàm én.
Cô Mộng Tuyết hãy khoan thứ đi! Rất đỗi đến cụ Nguyễn Du còn làm lầm lộn thay, huống gì ông Hoa Bằng ở báo Tri tân !   
THÔNG REO
LOÀI MUỖI CŨNG TỬ VÌ TÌNH
Trên thế gian có chuyện nào kỳ lạ vô song, y như là chuyện ấy phải xảy ra ở nước Huê Kỳ. Ngày nay mới nghe thấy loài muỗi biết tử vì tình là một, cũng nghe thấy từ bên nước ấy.
Tuy vậy, người hay vật ở đâu cũng giống nhau. Loài người bên Huê Kỳ với loài người ở An Nam cũng đồng là loài người, thì loài muỗi ở Huê Kỳ với loài muỗi ở đây cũng đồng là loài muỗi.
Cho nên người An Nam đã biết tử vì tình không khác gì người Huê Kỳ hay người trong thế giới, thì muỗi An Nam rồi đây, đến ngày bị phát kiến, chúng ta cũng sẽ thấy nó biết tử vì tình như muỗi Huê Kỳ. 
Một nhà khoa học bên Mỹ, nhơn khi nấu món ăn trên một cái lò điện, lắng nghe một thứ tiếng vo ve rất nhỏ từ trong lò phát ra. Rất lạ là đến sau, xem thấy trong lò điện có vô số con muỗi chết. Thì ra cái tiếng vo ve ấy đã quyến rũ chúng đâm đầu vào.
Tới một bước nữa, nhà khoa học xét thấy bao nhiêu con muỗi chịu chôn mình trong lửa điện đều là con trống cả, không có lấy một con mái. Lấy làm kỳ quái quá đỗi, lại tới một bước nữa, nhà khoa học xét thấy cái tiếng vo ve trong lò điện nó giống hệt với tiếng vo ve của con muỗi mái lúc nó hát bài hoa tình để quyến rũ tình nhân.
À, có thế, thảo nào các anh chàng cảm nhau quá mà đến kéo nhau cả lũ hy sinh trong lò điện!
Loài muỗi tử vì tình, câu chuyện là như thế.
Người ta nói rằng do sự thí nghiệm ấy của nhà khoa học nọ, không bao lâu, trong nước Mỹ đã có một sự phát minh và chế tạo rất mới mẻ: chế tạo cái máy bắt muỗi, hình giống cái lò điện, trong đó thường phát ra tiếng hát hoa tình vo ve của “nước muỗi”.
Người ta lại nói rằng một ngày kia thứ máy ấy dùng khắp mười tám châu của nước Huê Kỳ ấy là loài muỗi ở đó sẽ không còn.
Ở Sài Gòn nhiều muỗi quá, nhứt là về dạo mùa hè nầy. Không biết có ai đi Huê Kỳ mà gởi mua thứ máy giết muỗi ấy, không được nhiều cũng được lấy vài trăm cái, để dùng trong các khách sạn, mỗi buồng mỗi cái.
Ông nào là nhà tư bổn, hãy xuất một món tiền làm cái việc
Còn về phần thủ lợi thì chắc lắm, các chủ phòng ngủ sẽ trả tiền thuê cho ông tha hồ mỗi đêm là bao nhiêu tùy ông định, vì họ cần dùng lắm.
Lâu nay vải mùng mắc quá, ở các phòng ngủ, mùng đều rách cả, hoặc đến không có. Sợ có những người đưa nhau đến đó bị muỗi đốt, truyền bịnh rét rừng cho, trước sau rồi cũng đến bỏ mạng chăng.
Nếu có thế thì bọn họ lại vì tình mà chết trước giống muỗi An Nam!
THÔNG REO
CÁI CHẾT VÌ MỘT HỦ TỤC
Có những cái hủ tục trong xã hội ta, đại khái là những sự mê tín, làm cho người ta có thể chết được lắm, chứ đừng tưởng là nó vô hại.
Thầy phù thủy nhơn chữa cho con bịnh mà giết chết con bịnh, sự ấy tôi nhớ vừa xảy ra dặp [ 15 ] đến mấy lần, có đăng trên các báo Nam và Bắc.
Mới rồi lại có một anh chàng tự tử vì việc hôn nhân không được toại nguyện. Mà hôn nhân không được toại nguyện là tại bên nhà gái coi thấy tuổi của chàng và nàng không hợp nhau.
Ông Vương Đắc Cẩn, một thanh niên có học thức và có gia tài mấy chục vạn, vào hạng hào phú ở Bắc Kỳ thình lình dùng súng lục bắn vào ngực tự tử.
Người ta ngờ cho cái chết của Cẩn vì sự tuyệt vọng của cuộc hôn nhân. Nhà chức trách đòi cô Từ Minh Kha, người thiếu nữ bị ngờ có quan hệ trong vụ tự sát, đến hỏi. Cô Minh Kha khai rằng tháng hai năm nay Cẩn có nhờ người đến hỏi cha mẹ cô xin cô làm vợ. Ông thân cô đem so tuổi của cô với tuổi của Cẩn, thấy không hợp nhau bèn từ chối.
Có lẽ cái chết của Cẩn gây ra bởi đó chăng?
Cô thiếu nữ nói bằng cái giọng không quả quyết là phải lắm. Ai lại nhận cho gia đình mình làm thủ phạm của một vụ sát nhân?
Dầu không quả quyết, lời của cô thiếu nữ cũng đáng tin. Vì nếu không phải thế thì hầu như không còn có lý do nào khác.
Thế là sự coi tuổi, chính nó có thể là sự giết người.
Tôi biết rằng sự coi tuổi là cốt ở ngũ hành sanh khắc, mà ngũ hành gốc ở can và chi mà ra.
Nhưng chữ can và chữ chi của mỗi năm, dầu bởi sự luân chuyển mà thành ra, cũng phải có gốc. Gốc nó từ năm đầu kỷ nguyên của vua Nghiêu, trước đây đến ba bốn ngàn năm gì đó.
Như năm nay là năm Tân Tỵ, là kể bắt đầu từ năm Giáp Thìn, năm thứ nhứt của vua Nghiêu mà suy diễn ra.
Thế nhưng ba trăm năm nay đã có nhiều nhà học giả suy tính ra mà biết rằng năm đầu của vua Nghiêu không phải là năm Giáp Thìn. Cái thuyết ấy lâu nay học giới bên Tàu đều đã công nhận.
Sự ấy không phải một sự lạ. Cũng như trong học giới Âu châu lâu nay đều công nhận rằng cái năm Gia-tô [ 16 ] giáng sanh kể đến năm nay đáng lẽ là 1945 chứ không phải 1941, nghĩa là thuở trước người ta tính lộn, chậm đi hết 4 năm. Trong tôn giáo giới, người ta cũng cho thuyết đó là đúng, chỉ vì sự lầm lộn đã chất chứa đến hai ngàn năm rồi, nay chữa đi thì không tiện.
Nếu năm vua Nghiêu lên ngôi không phải Giáp Thìn, năm nay không phải Tân Tỵ, thì từ xưa đến giờ mỗi người kể tuổi mình theo can chi đều sai hết, thầy số và thầy bói, cả đến sách coi tuổi cũng đều ở trong vòng lầm lạc chẳng đâu vào đâu.
Một cái thuyết đã bị đánh đổ tận gốc mà còn được tin theo răm rắp. Tin theo răm rắp để có kẻ vì nó khinh rẻ cái mạng sống mà theo lẽ chưa đáng phải khinh rẻ. 
THÔNG REO
   
Chú thích
- ▲ Danh dự bác sĩ: tức là Tiến sĩ danh dự.
- ▲ Đây là trong giọng hài đàm, nêu 2 cái mốc cho chẵn 10 năm; thật ra, Phan Khôi viết “Câu chuyện hàng ngày” (ký Tân Việt) trên Đông Pháp thời báo  1928, Thần chung 1929-30; sau đó từ tháng 5/1930 đến 1933 viết mục “Những điều nghe thấy” (ký Tha Sơn, Thông Reo) trên Trung lập .
- ▲ Đông Dương : tuần báo (có lúc đổi sang nhật báo) ra số 1 vào 17/9/1938; số cuối cùng: trong năm 1945; chủ nhiệm Châu Vĩnh Thạnh; tòa soạn: 50 – 52 đại lộ Charner, Sài Gòn.
- ▲ Ở Dân báo số tiếp theo (số 594, ngày 11/6/1941) bài trong mục “Chuyện hàng ngày” bị kiểm duyệt bỏ toàn bộ.
- ▲ expression (chữ Pháp): thành ngữ. Về từ “vê” này, Đại Nam Quấc âm tự vị ghi nghĩa là “say mê, ham hố”; nhưng nghĩa của riêng từ “vê” này dường như không liên quan tới nghĩa của thành ngữ “không hay vê cùng” như lời giải thích trên đây của tác giả.
- ▲ Ở số báo tiếp theo ( Dân báo số 603, ngày 21 Juin 1941) mục “Chuyện hàng ngày” để khung trống, vì toàn bài bị kiểm duyệt bỏ.
- ▲ chim đà: chim ostrich , tức “đà điểu”, phiên âm chữ Hán  鴕 鳥  hoặc  駝 鳥 (theo Trần Văn Kiệm: sđd.)
- ▲ Chú tửng: tiếng gọi người đàn ông Hoa kiều ( Từ điển phương ngữ Nam Bộ )
- ▲ Ở hai số báo tiếp theo ( Dân báo số 615, ngày 8 Juillet 1941, và số 616, ngày 9 Juillet 1941) mục “Chuyện hàng ngày” đều để khung trống, toàn bài bị kiểm duyệt bỏ.
- ▲ Việt báo : nhật báo, số 1 ra ngày 18/8/1936, số cuối cùng ra ngày 9/2/1942; tòa soạn: 24 ter Gia Long, Hà Nội; chủ nhiệm Bùi Xuân Học.
- ▲ Ở số tiếp theo, Dân báo số 619 ra ngày 12/7/1941, mục “Chuyện hằng ngày” bị kiểm duyệt bỏ toàn bài.
- ▲ Yêu viên: chu vi.
- ▲ Bá Lâm: Berlin (Đức)
- ▲ Tri tân : tuần báo văn hóa, số 1 (3/6/1941), số cuối cùng: số 214 (16/7/1946); tòa soạn: 349 Phố Huế, Hà Nội; chủ nhiệm Nguyễn Tường Phượng.
- ▲ Dặp: chưa rõ nghĩa; các từ điển từ cổ và phương ngữ chỉ có “dập” (= xóa), không hợp văn cảnh này.
- ▲ Gia-tô: tức Jesus Christ, người sáng lập đạo Thiên Chúa.