Part 3
Trước nhà tôi có một khoảng đất trống rộng chừng bằng 6 – 7 chiếc chiếu. Mỗi ngày, chiều lại, lúc 4 – 5 giờ, có chừng vài ba chục đứa, hoặc nhiều hơn, nhóm nhau ở đó. Một phần đông là con trai bờ 10 – 12 tuổi; còn cũng có con gái cỡ tuổi ấy và những đứa bé mới biết đi lững chững. Trong đám con gái có những đứa ẵm em hay dắt theo em.
Trò chơi của chúng là đá banh hay đánh bi, hay đánh khăng đánh đáo, nhưng không chơi được lâu, vì thế nào rồi cũng đập bậy nhau và chưởi lộn. Tôi để ý nhứt ở mấy đứa trẻ Huê kiều mà cũng biết chưởi nhau bằng tiếng An Nam rất thạo.
Không đợi đến lúc chưởi lộn mới om sòm, bắt đầu vào chơi chúng đã làm om sòm rồi. Người ngoài dầu lắng nghe cũng không nghe ra câu gì cả, chỉ những tiếng “mầy tao” và “đu mẹ”. Hai tiếng sau nầy chúng dùng rất phổ thông, bất kỳ câu nào đều mở đầu bằng nó.
Buổi chiều xong rồi đến tối. Vào hồi 7 – 8 giờ, chừng là lúc nhà nào nhà nấy ăn cơm xong, chúng lại nhóm đến, diễn những trò như ban chiều và không quên kết thúc bằng những trận chưởi nhau trước khi về đi ngủ.
Mỗi khi chúng chưởi nhau và nói tục nói tĩu, nếu có người lớn nào đến can thiệp, chúng sẽ cự lại bằng những câu cứng lý sự lắm, đại khái như câu nầy: “Ông có quyền gì rầy tôi?”
Tội nghiệp! Cha mẹ của các em ấy hình như cũng không biết đến sự con mình buông lung hoang toàng như thế, vì buổi chiều thì vào giờ họ đi mần, buổi tối thì vào giờ họ ngồi tiệm cà phê hoặc đi chơi giải trí.
Coi gương mặt chúng, tôi biết rằng hết thảy những đứa trẻ đó đều không có đi học ở trường nào cả, từ trước đến giờ. Lại còn điều nầy chỉ rõ hơn nữa, nếu chúng có đi học thì hồi 4 – 5 giờ chiều sao có thể đi chơi?
Ngó thấy chúng mà ai cũng phải ghê cho cái xã hội An Nam sau nầy, chừng 15 – 20 năm nữa!
Ngoài Bắc Kỳ có tỉnh nào đó người ta định mở thêm năm trăm trường học trẻ con vào một lúc, sao không bớt cho xóm nầy lấy một trường?
À mà Sài Gòn ta vẫn có Bình dân học hội hay học hiệu gì đó mà!...    
THÔNG REO
CỌP VẪN CÓ ÍCH CHO NGƯỜI
Người ta nếu có nhiều kinh nghiệm, biết suy xét đến nơi, thì đối với mọi vật trên thế gian, dầu là vật độc ác đến đâu đi nữa cũng đừng nên bảo là nó có hại. Bởi vì theo thực sự thì vật nào cũng có ích cả, dầu đến con cọp là con thú dữ, hay ăn thịt người ta, người ta cho nó là có hại, thế nhưng nó vẫn là có ích.
Cọp mà lại có ích, cái lẽ ấy mới vừa phát kiến bên xứ Ấn Độ, tôi thấy nói trên một tờ báo ngoại quốc.
Nói ở Ấn Độ, trong một miền núi kia có nhiều cọp quá, thỉnh thoảng nó lại ra giết hại nhân dân trong miền.
Chánh phủ địa phương thấy một mối hại cho nhân dân như vậy, bèn rao ra cho các thợ săn, ai đến trong miền đó bắn được cọp thì mỗi lần bắn được đều có thưởng.
Lịnh ấy ra rồi, bao nhiêu thợ săn các nơi đều tựu về đó mà săn bắn cọp. Đã có nhiều người được thưởng lắm. Chẳng những thế, những người ấy họ còn có thể bán da cọp để làm giàu.
Trải qua ba năm, tính ra có hằng ngàn con hổ bị bắn, rồi cả miền đó không còn có người nào bị nạn bởi nó nữa, dân sự thái bình rất mực đến nỗi ban đêm ngõ cửa cứ để vậy mà ngủ.
Nhưng một mối hại khác lại xảy đến ở ngoài ý liệu của người ta. Mà mối hại nầy càng lớn hơn mối hại vì hổ hoạn.
Có vô số hươu, nai, heo rừng, chó rừng, chó sói cùng nhau làm gió làm mưa ở trong miền ấy sau khi sơn quân càng ngày càng vắng mặt. Chúng nó phá mùa màng, đào tận gốc những cây màu hoa lợi, lại bắt heo bắt gà, cũng bắt đến người ta mà giết đi, ấy là riêng về chó rừng và chó sói.
Thì ra những giống thú đó hồi trước không có trong miền ấy là nhờ cọp xơi chúng nó đi, chúng nó không sanh sôi nẩy nở ra được. Từ ngày người ta giết hết cọp, chúng nó mới sanh đẻ nhiều ra mà làm hại dân chúng. 
Người ta thấy cái nạn thú rừng lại còn dữ hơn, đáng lấy làm lo hơn cọp, bấy giờ quan địa phương bèn xóa bỏ cái lịnh trước, cấm thợ săn bắn cọp, có ý để cho cọp được tự do sanh sản. Quả nhiên từ đó về sau thấy không có cái hại về mùa màng hoa lợi nữa, dẫu rằng thỉnh thoảng có kẻ bị cọp ăn thịt thì cũng như lúc kia bị ăn thịt bởi chó rừng chó sói.
Hiện giờ ở miền đó bên Ấn Độ, cái lịnh cấm bắn cọp trở được coi là một điều luật pháp văn minh.      
THÔNG REO
THEO GIÁ GẠO CHĂNG?
Bên Tàu, ở tại “bồi đô” Trùng Khánh, các nhà từ thiện có lập ra một cái hội gọi là “Hội tư trợ nhà văn”, mục đích là lấy sức mạnh của công chúng và của đồng tiền mà binh vực những người viết báo viết sách, nâng cao trình độ sanh hoạt của họ lên, hầu để họ hết lòng hết sức làm cho văn nghệ trong nước mau tấn bộ.
Theo báo Tàu, mới đây hội ấy có mở cuộc hội nghị lần thứ mười hai, quyết nghị nhiều khoản; tôi lấy ra hai khoản đem vào chuyện hằng ngày hôm nay để bà con xem chơi cho biết.
Một khoản, trước ngày hội nghị không lâu, có hai nhà văn qua đời, hội nghị bàn đồng ưng trích ra trong số tiền vốn của hội lấy 1500 đồng mà giúp cho gia đình hai người ấy: một được 1000 đồng, một được 500 đồng. 
Một khoản, hội nghị quyết định rằng từ nay về sau các nhà văn giúp việc cho cơ quan xuất bản nào, trừ ra ăn lương tháng không kể; còn tính trả từng bài thì phải trả mỗi một ngàn chữ từ 15 đồng đến 20 đồng, chớ không được trả ít hơn.
Đó mới chỉ có hai khoản trong một cuộc hội nghị của hội ấy, tôi thuật lại đây để bà con ta thấy ở xứ họ có những việc mà không thể có được ở xứ ta. Làm sao tôi lại nói “không thể có được”? Là vì những việc như thế, tôi không hề thấy có ở xứ ta từ trước đến giờ nên tôi cũng tưởng từ giờ về sau sẽ không có luôn.
Nhưng có kẻ nhắc cho tôi nhớ chuyện cách ba năm trước, sau khi ông Nguyễn Khắc Hiếu chết, xã hội An Nam chẳng đã giúp cho gia đình ông ấy một số tiền lớn là gì? Chỉ kém ở chỗ không có một cái hội để thường thường tư trợ các nhà văn, chớ sau khi nhà văn chết mà giúp cho vợ con, thì người An Nam chúng ta cũng biết giúp vậy chớ.
À, thế thì ra cái chuyện như trong khoản thứ nhứt, ở xứ ta đây cũng có thể có được chớ chẳng phải là không. Nhưng còn sự nhấc cao giá văn lên như khoản thứ hai, thì ở ta đây mới thật là không có.
Ở ta đây giá văn hiện thời cứ một trương giấy viết là 8 cắc. Mà một trương bổ đồng chừng 250 chữ. Vậy một ngàn chữ ở xứ ta giá độ 3p20. Như thế, đem so với cái giá từ 15p đến 20p, thật hơn kém nhau xa quá! Tôi phải lấy làm bất bình về chỗ đó.
Nhưng có kẻ khác lại nói cho tôi biết rằng sự hơn kém đó là bằng theo giá gạo. Văn sĩ cũng mua gạo nấu cơm ăn mà viết ra văn, vậy hễ ăn gạo mắc thì văn viết ra giá phải mắc, ăn gạo rẻ thì văn viết ra giá phải rẻ, há chẳng phải là lẽ tự nhiên và công bình lắm ư?
Bên Tàu dạo nầy giá gạo rất cao. Ở Thượng Hải hôm trước có tin rằng giá 100p một tạ. Còn ở Trùng Khánh, người ta tính ra mỗi người ăn hết 60p bạc gạo mỗi tháng. Vậy mà bảo giá văn không cao sao được?
Ở Nam Kỳ gạo tốt nhứt chỉ 13p một tạ, nhưng gạo văn sĩ ăn lại không tới giá đó, thì giá văn rẻ là phải.
À có lẽ! Hoặc giả cái giá văn hơn kém đó là theo giá gạo chăng? Tôi cũng muốn nói như vậy cho rồi.  
THÔNG REO
CÒN CẤM NỮA CHĂNG?
Đó là tôi muốn hỏi về thứ sách khiêu dâm. Đã lâu rồi, nghe như thứ sách ấy bị cấm, bị tịch thâu, nhưng không biết hiện nay còn cấm nữa chăng? Nếu còn cấm thì người ta cũng nên đi soát xem các hàng sách nhỏ khắp trong chợ Bến Thành lấy vài bận. Khi soát xem qua, người ta chắc sẽ thấy ở đó còn có ít nhiều cuốn tiểu thuyết đáng đốt lắm.
Sở dĩ tôi nhớ mà nhắc đến việc nầy là vì thấy các nhà giáo dục Huê kiều ở đây mới có làm một việc giống như vậy. Họ cấm học trò của họ đọc “Liên hoàn đồ họa”.
“Liên hoàn đồ họa” là một lối tiểu thuyết kiếm hiệp mà trong đó vẽ nhiều hơn viết. Mỗi trương là một bức vẽ, mà vẽ câu chuyện liên tiếp nhau, vì vậy nên gọi là “liên hoàn”.
Họ dùng những bức vẽ để kể chuyện, và chỉ dùng một ít chữ để cắt nghĩa những bức vẽ, người xem chỉ xem vẽ là biết chuyện: cách ấy rất hiệp với tâm lý của trẻ con.
Nhưng hết thảy những tiểu thuyết theo lối liên hoàn đồ họa đều nói chuyện kiếm hiệp: giết người, cứu người, phun ra lửa, nhả ra gươm, đi mây về gió, toàn những sự huyền hoặc quái ác rất hại cho đầu óc đơn giản của con trẻ.
Những sách ấy in tại bên Quảng Đông, Hương Cảng; họ in bằng giấy xấu bán giá rất rẻ. Thế rồi có người buôn qua bán cho trẻ con Khách ở đây. Ở đây, có những anh Khách kiết mua về đem giàn ra mấy góc đường phố cho người ta thuê xem, những kẻ thuê xem toàn là đám hạ lưu và đồng ấu, cố nhiên cũng là Khách trú vậy.
Có nhiều chú tửng [ 8 ] mê “liên hoàn đồ họa” đến nỗi cha mẹ cho đồng tiền nào để ăn quà đều đem thuê thứ sách tai hại ấy để cầy cục xem, xem cho đến bỏ học, bỏ làm công việc.
Thật, “liên hoàn đồ họa” quả là một cái họa cho trẻ con học trò Hoa kiều ở xứ nầy.
Bởi thấy nó làm hại như thế nên mới rồi các trường học Hoa kiều ở Sài Gòn, Chợ Lớn đồng ra lịnh cấm học trò từ rày về sau không được xem “liên hoàn đồ họa” nữa.
Họ không cấm, chớ cấm thì chắc được.
Chỉ có sự cấm tiểu thuyết khiêu dâm ở xứ ta nghe sôi nổi lên một lúc, rồi không biết sao hình như vắng đi.
Có lẽ ở các hàng sách hiện giờ không còn có bán thứ sách nào có thể gọi là khiêu dâm nữa. Nếu người ta tưởng thế thì lầm lắm. Phải lấy về mà đọc qua một bận mới thấy. [ 9 ]
THÔNG REO
DIỄN KỊCH
Thấy trên một tờ báo, một ban diễn kịch ở Bắc rao rằng rồi đây sẽ vô Nam thử diễn cho công chúng trong nầy xem.
Nếu có vậy thì quả thật anh em ở ngoải sẽ hiến cho chúng ta một trò vui mới. Vì ở đây lâu nay chỉ xem cải lương, hát bộ, còn kịch thì chỉ thấy kịch người Pháp, chớ chưa hề có kịch An Nam.
À, nhớ ra cũng có một vài lần anh em Bắc Kỳ diễn kịch ở đây rồi. Nhưng đó là diễn theo lối tài tử, chớ chưa có thành ban hay đoàn, diễn theo lối nghề nghiệp chuyên môn.
Có người sợ công chúng ở Sài Gòn không thích xem kịch vì không quen. Như thế, ban kịch Bắc có vào đây cũng sẽ không được hoan nghinh mấy.
Nhưng tôi không tin như vậy. Trái lại, tôi quyết rằng đương hồi nầy nếu có ban kịch Bắc vào, người ta sẽ xem đông lắm. Vì ai nấy coi bộ chán hát bộ và cải lương rồi mà lòng người lại đương tẻ ngắt, cần có cái gì hay hay là lạ để giải trí cho khuây, thì là một cơ hội tốt cho ban kịch Bắc vào đây lắm vậy.
Nói tới kịch, tôi lại nhớ một câu chuyện về kịch.
Ở bên Tàu, trước cũng không có kịch, họ mới bắt chước Tây mà đặt kịch và diễn kịch chừng vài chục năm nay. Ở Trung Huê ngày nay có một nhà văn được công chúng xưng là “kịch tác giả”, bút danh Điền Hán, là người soạn kịch có tiếng hơn hết.
(Trong nước ta chưa có ai đáng được xưng là kịch tác giả. Họa may ngoài Bắc có ông Vi Huyền Đắc. Mà Điền Hán thì cũng bằng Vi Huyền Đắc của ta phóng đại ra đến một trăm lần. Nói vậy cho biết danh tiếng của Điền Hán ra sao!)
Trong một bài tự thuật, nói về sự từng trải của mình về kịch, Điền Hán có viết rằng:
“Không biết làm sao trong các môn loại văn học tôi lại chọn lấy kịch. Sự thực, mươi năm nay tôi đã soạn được hơn mười bổn… Vì vậy ở trong làng văn lạc hậu của Trung Quốc tôi được nhận làm kịch tác giả. Nhờ kịch mà tôi được trổi lên, nhờ kịch mà tôi được nhiều bạn, nhờ kịch mà tôi có cái ăn cái mặc; và cũng vì kịch mà có lần tôi suýt mang họa, lại cũng vì kịch mà có mấy người bạn đã quen hoặc chưa quen của tôi bởi diễn vở kịch của tôi mà đã mất sanh mạng hay mất tự do!”
Nhơn nói đến kịch mà tôi nhớ ra câu ấy của Điền Hán và lấy làm ghê quá. Té ra cái thứ đó mà nó cũng làm cho ai vọc đến nó cũng có thể chết bất đắc kỳ tử như là kẻ sát nhơn phóng hỏa mà tôi không biết!
Đã là kịch thì chẳng qua cũng làm trò đùa dỡn mà thôi, trong kịch dầu có tình tiết gì khả nghi cũng chưa phải là sự thực, thì việc gì lại đến nỗi bị giết hay là bị bỏ tù?
Nói đến, người tôi bắt ghê quá! Hay là chỉ có cái xứ của ông Tần Thủy Hoàng mới có như vậy mà thôi?
Phải, đó là câu chuyện bên Tàu. Chỉ bên Tàu mới có thế.
Còn Sài Gòn hay Nam Kỳ đây cũng vẫn là An Nam, đất nước ông bà, hiền lành lắm, không có gì đáng lo hết, anh em nếu định vô thì cứ vô đi!      
THÔNG REO
ĐỌC MÀ ĐỪNG TIN
Trong những chuyện xưa tích cũ của nước An Nam ta, hoặc truyền miệng cho nhau, hoặc có chép trong sách, phần nhiều là chuyện huyền hoặc không thể tin; đã thế mà lại còn có chuyện không có ý nghĩa gì cả nữa là khác.
Như những chuyện Phò Đổng thiên vương, Chử Đồng Tử, xảy ra ở bốn ngàn năm trước, thuộc về đời thần thoại, chẳng nói làm chi. Có chuyện chỉ cách vài ba trăm năm nay mà cũng huyền hoặc vô lý như thế, mới là đáng chán.
Mới xem Việt báo , [ 10 ] thấy có đăng bài thuật chuyện ông Nguyễn Công Hãng, người ở vào đời vua Lê Cảnh Hưng mới đây chớ không xa xôi gì.
Nguyễn Công Hãng 21 tuổi đậu tấn sĩ, sau làm đến thủ tướng giúp vua Lê chúa Trịnh, có nhiều công trạng và danh tiếng; ông lại có đi sứ Tàu, tỏ ra người có thủ đoạn về việc ngoại giao.
Tục truyền rằng: khi Nguyễn Công Hãng còn làm thủ tướng, có một vị quan nhỏ mắc bịnh sắp chết. Các học trò của vị quan ấy vì thầy mình cầu mộng ở đền thờ thần Tản Viên. Được thần phán bảo rằng: “Việc nầy ta không có quyền; hãy cầu xin đức Nam Đẩu, ngài sẽ ban thêm tuổi thọ cho”.
Bọn học trò kêu nài mãi, thần lại dạy: “Nguyễn Công Hãng là một bậc dị nhân, về mà kêu với ông ta cũng được”.
Bọn học trò trở về kêu với Hãng. Công Hãng liền cầm bút phê vào đơn xin rằng: “Cho sống thêm một kỷ nữa!”
Sau quả nhiên viên quan ấy khỏi bịnh và sống thêm một kỷ là 12 năm nữa.
Đó là lời tục truyền mà người viết bài trong Việt báo thuật lại như thế. Theo đó thì ông Công Hãng đương làm quan tại triều mà cũng cầm quyền sanh tử ở Thiên tào hay Âm ty gì đó, tùy theo người ta tin tưởng.
Nhưng cũng theo tục truyền và có chép trong bài ấy của Việt báo , thì lại có chuyện khác tương phản với chuyện ấy, nếu người đọc có để ý đến.
Nói Nguyễn Công Hãng đương làm quan lớn có một thầy số bảo ông ấy phải liệu mà về hưu đi, nếu không sẽ mang họa. Công Hãng chưa kịp về thì một vị chúa Trịnh khác lập lên, lấy tư thù đày Công Hãng đi Tuyên Quang, nửa đường còn sai người đuổi theo giết chết.
Thế thì ra Công Hãng đã cầm quyền sanh tử, đã ban thêm tuổi thọ cho người khác được, sao không tránh được cái chết của mình, sao không tự mình ban thêm tuổi thọ cho mình?
Câu chuyện vô nghĩa lý là ở chỗ đó. Ngoài sự huyền hoặc không đáng tin ra, lại còn có cái vẻ ngây ngô khờ khạo nữa.
Đọc những chuyện như thế, chúng ta chỉ “nghe để làm tai”, chớ chẳng nên nhắm mắt tin là “ba bó một dạ”. [ 11 ]
THÔNG REO
VỚI CỌP MÀ LU LƠ THẾ SAO ĐƯỢC?
Tôi đọc báo thấy tin nầy mà sởn tóc gáy!
Ở ngoài Bắc, làng gì đó về miền núi, nhơn có cọp về giết hại súc vật, dân làng bèn rủ nhau đánh bẫy. Cái bẫy làm cách nào không rõ, mà sau vài hôm gài xong, bỗng thấy mất cái bẫy đi. Người ta đánh dấu theo, mới biết ra con cọp mắc bẫy rồi tha luôn đi vào hang nó. Ôi cha, đã đánh bẫy cọp, sao còn để cho cọp tha bẫy đi được?
Tuy về sau người ta bắn cọp chết được ở hang nó, chớ cũng là nguy hiểm lắm, sau khi nó ngoạm cho vài kẻ bị trọng thương rồi nó mới chịu hạ.
Đó cũng tỏ ra cái thói làm việc cẩu thả của người An Nam. Cẩu thả với cái gì còn không được thay, huống hồ cẩu thả với con cọp thì còn sẽ mang hại bởi nó hơn là cứ để yên mà đừng chọc nó ra, đừng đánh bẫy nó làm gì!
Tôi biết có nhiều thứ bẫy cọp lắm, như là bẫy lồng, bẫy kẹp, cũng đều không bằng hai thứ bẫy tôi sắp kể đây, nó đã chắc chắn mà lại còn có vẻ mỹ thuật là khác. Ủa hay, chơi với cọp lại không cần có mỹ thuật à?
Trước hết, địa thế chỗ để cái bẫy, phải lựa chỗ dốc như là cái bờ khe bờ suối.
Bẫy rất là đơn giản, mới xem như chỉ một khúc gỗ để đó, không có gì đáng ngờ cả, cho nên thường bắt được cọp luôn, mười lần không trật một.
Một khúc gỗ lim – không lim thì gỗ khác, miễn cho cứng là được – bề dài chừng một thước hai tây, yêu viên [ 12 ] chừng 4 – 5 tấc tây lớn tròm trèm cây cột nhà, đục rỗng ở trong từ đầu nầy đến đầu nọ. Đục hoàn thành rồi, xem cũng như cái ống máng nước của thành phố dùng để xây cống các con đường, bằng xi-măng, thứ nhỏ. Thế rồi hai đầu ống làm hai cái hom bằng sắt nhọn, như kiểu cái hom lờ cá mà gắn vào cho thật chắc, đừng để rơi ra được. Trước khi gắn hom, bỏ vào trong ống một con chó hạng thanh niên. Phải nhớ, chung quanh ống, nhứt là phía để hướng lên trời, phải đục nhiều cái lỗ nhỏ cho con chó có thể thò cái giò ra được.
Tất cả cái bẫy chỉ có thế. Làm xong rồi, đem đặt cái ống nằm trên bờ khe, chỗ con cọp hay đi uống nước.
Thứ chó còn tơ nó hay kêu lắm; ở trong ống nó lại càng kêu hơn, đôi khi thấy cái lỗ có ánh sáng, nó lại thò giò ra nữa. Cọp ta đi ngang qua, thấy được, thế nào cũng thò tay vào bắt. Thò tay mặt, tức là cái cẳng trước bên hữu của nó, vào trong ống và đã mắc lấy hom rồi, nó sẽ thò tay trái tức cái cẳng bên kia vào sau. Thế là hai cái chưn trước của cọp bị dính cả không thể lấy ra được. Còn hai chưn sau, tất nhiên nó phải vùng vẫy để kiếm cách thoát. Không ngờ vùng một cái, mất thăng bằng, cả con cọp và cái ống sẵn dằm đều lăn xuống khe. Ấy là cọp chịu chết, không tài nào thoát được.
Đố ai thấy cái cảnh tượng ấy mà không tức cười. Vì vậy tôi cho là có mỹ thuật.
Bài sau tôi sẽ nói một cách đánh bẫy nữa, còn ngộ hơn nhiều.  
THÔNG REO
ĐI LƯỢM SẮT VỤN
Người Âu Mỹ họ văn minh chừng nào, càng sanh ra xa xỉ hoang phí, không biết tiếc của trời chừng ấy. Năm trước đã có lần họ đổ hàng triệu tấn cà phê xuống sông, thấy không ai nói chi, năm nay họ lại hủy phá không biết bao nhiêu đồ bằng sắt đang lúc giá rất mắc.
Thật thế, ở xứ ta đây giá sắt từ năm ngoái đến năm nay cứ mỗi lúc một cao lên. Tôi không thể nói chắc một ki-lô bao nhiêu, cũng vì giá nó cứ thay đổi và lên mãi, không có nhứt định. Hình như sắt nguyên tấm hiện nay trong xứ đã khan lắm, người ta phải mót đến sắt vụn.
Ở nhà tôi, có người đàn bà khéo để dành, để dành những cái đinh sứt vấu, cái bản lề cũ, cái trành dao cùn từ bao nhiêu năm trước, không ngờ năm nay đem ra bán cho bọn khách ve chai, họ mua ráo hết, mà được tiền vô khối đa.
Tội nghiệp ở nhà quê mấy anh thợ rèn rèn những lưỡi cày, lưỡi cuốc, rựa đốn tre, phảng phát bờ, đều chắp nối những mảnh sắt vụn lại mà làm thành ra. Trong khi ấy người ta lại đang tay mà phá vỡ những thứ đồ bằng sắt rất ròng rặt và nguyên khối.
Theo điện tín Bá Lâm [ 13 ] 4 Juillet: Ở bên Nga, từ xứ gì đến xứ đó, bằng tiếng Tây khó kêu lắm, một con đường rộng hàng mười mấy thước, dài đến bảy trăm cây số, hiện đang bỏ ngổn ngang những cỗ xe bằng sắt bị quân địch phá hư. Những cỗ xe ấy có nhiều kiểu, có nhiều việc dùng, hoặc để vận lương, hoặc để nấu bếp, hoặc để chở đồ cần dùng việc binh mà đều bọc sắt cả. Hết thảy đều đã bị trái phá và đạn hột lựu bắn vỡ tan, nhiều mảnh sắt vụn bay xa đến hàng trăm thước. Ngoài ra còn có súng cao xạ và súng đại bác nữa, cũng bị phá hư để nằm kình càng cả đống ở đó, mà đồ này cũng lại bằng sắt.
Giá tin đó mà đúng, được lắm, chúng ta trong khi thiếu sắt dùng, không cần bàn tới chuyện đào mỏ làm chi, nếu có thể thì cứ đi tới đó mà lượm những mảnh sắt vụn ấy đem về, cũng đủ dùng hay là bán.
Tôi định rủ một tốp anh em đi theo cái việc làm ăn lương thiện ấy. Tôi nói với họ rằng không hề chi hết, người ta đánh nhau mặc họ, mình chỉ có việc lượm sắt vụn mà thôi, đừng can dự đến việc của người ta, thì sau khi lượm được rồi, mình sẽ bình an mà về. Nhưng, đi rủ mãi mà chẳng có ai nghe tôi hết, chẳng có ai chịu đi. Họ sợ rủi mà những mảnh sắt vụn ấy văng nhằm thì lại chết oan mạng, bỏ vợ bỏ con, mà còn mang tiếng dại là khác; chỗ trâu bò húc nhau, ai biểu ruồi muỗi đến làm gì chớ!
Thôi, chi bằng hãy cứ việc ở nhà để lo “cày ruộng đắp bờ”; cái là chắc chuyện hơn.
THÔNG REO
MỘT CÁCH ĐÁNH BẪY CỌP KHÁC
Tục ngữ nói “Mạnh dùng sức, yếu dùng chước”. So với cọp, người ta yếu hơn cọp, thì người ta dùng chước, mà cái chước ấy có thể biến hóa ra vô cùng vô tận.
Tiếp với bài trước, tôi cho bạn đọc một cách đánh bẫy cọp nữa. Cách nầy sánh với cách trước còn có vẻ mỹ thuật hơn. Thật tình nó ít khi kiến hiệu, mà đã kiến hiệu thì thôi, vui đáo để, có thể làm một trò xem cho công chúng luôn đến trong hai ba ngày.
Lối bẫy nầy người ta gọi là “bẫy câu” hay là “bẫy dùi đục”.
Lựa một khoảng đất trong núi, chỗ cọp hay bén mảng tới, rộng độ bằng một cái nền nhà nhỏ. Sắm sẵn năm bảy cây tre thật to thật dài, chôn thật sâu chung quanh khoảng đất ấy và cách nhau từng quãng, mỗi quãng một cây. Chôn xong, túm đầu hết thảy bao nhiêu ngọn tre mà buộc lại cho thật kỹ.
Lại sắm một cái dây gai, đánh cho thật săn thật chắc, bề dài nó phải đo cho bằng từ chỗ các ngọn tre bị buộc chúm lại thả thòng xuống chưa đến đất chừng một thước tây. Cái dây gai ấy sẽ cột vào chỗ các ngọn tre chúm lại. Và dùng một cái ống bằng sắt dài độ năm tấc tây, trong rỗng, lọt cái dây gai thong thả. Cái ống ấy xỏ qua cái dây gai rồi kiếm cách giữ nó lại ở đầu trên cùng, nghĩa là liền dưới chỗ khúm nhau của các ngọn tre; đợi khi nào ở dưới nầy có cái sức gì dựt mạnh thì nó mới tuột xuống.
Làm việc đến đó, trước mặt chúng ta thấy ra cái gì giống như cái người ta buộc nạng để gác sào phơi, chỉ không phải nạng ba mà là năm hoặc bảy. Và trên đầu nạng có một sợi dân gai thòng xuống chưa tới đất, trên đầu dây có một cái ống sắt như ống thổi lửa. Mới thấy vậy đó, chắc chưa ai đoán được là cái gì.
Nó là cái bẫy cọp ở tại chỗ nầy: Mút đầu dây dưới, buộc vào một cái lưỡi câu móc lấy một miếng thịt sống hoặc bò hoặc heo thật bự.
Người ta biết cọp có tánh láo ăn, ăn bao giờ cũng táp rồi nuốt chớ không nhai, cho nên mới có thể bày ra cái trò phỉnh gạt nó như vậy được.
Giả sử có con cọp đi tới đó thấy miếng thịt, vồ lấy, táp và nuốt ngay, thì cái lưỡi câu sẽ móc vào bụng nó và luôn cả sợi dây gai nữa. Dây gai, tánh nó bền mà dai, cọp không thể cắn đứt được. Vả lại, liền khi ấy răng nó bị thương rồi, còn cắn làm sao?
Là vì, sau khi cọp nuốt miếng thịt xong, bề nào nó cũng biết là trúng kế thì dùng sức để đánh tháo. Bởi sự dùng sức đó làm cho cái ống sắt ở trên tuột xuống đánh vào răng và miệng cọp, nó sẽ bị gãy răng hay giập miệng, nhưng không chạy đi đâu được.
Rồi cọp rống lên. Khi ấy người ta chẳng sợ gì cả, cứ chạy tới coi. Thấy cọp cứ rán sức dựt một cái thì cái ống sắt chạy lên, dựt một cái nữa ống sắt lại chạy xuống đập vào răng nó. Làm vậy hoài cho đến độ ba ngày người ta cứ để coi chơi cho chán rồi mới giết nó khi nó đã hết sức. 
THÔNG REO
MỘT CON CỌP BỊ CỤT CẢ BỐN CHƯN
Tôi là người ở miền núi nên biết được nhiều chuyện về cọp lắm. Tôi kể chuyện nó lần nầy nữa là ba, nhưng chắc bạn đọc cũng không chán, vì lần nầy càng thấy thú vị hơn hai lần trước.
Con cọp sắp nói đây, không phải nó mắc bẫy, mà bởi một sự tình cờ, khi nó đi kiếm mồi, nó đưa thân đến nơi chết.
Một cái đồng trồng mía ở gần núi, khi mía đã tới nước nấu đường được, người ta làm một cái chòi ở đó để đạp mía ra nước và nấu đường, kêu là “chòi mía”.
Trong chòi mía thường chia ra hai phần: một phần ở đầu kia có lò để nấu thì có vách che kín; còn một phần ở đầu nầy có bộ che và trâu đạp, thì để ngỏ, không có vách, cho tiện sự đi vào đi ra.
Bộ che làm bằng gỗ lim hay xoay, hai ống lớn, trên có cái cần gác qua cổ con trâu, hễ trâu đi vòng quanh thì hai ống che luân chuyển. Giữa hai ống che khít nhau, người ta có làm một cái như cái miệng để cho những cây mía vào đó, nhờ sự luân chuyển của đôi che mà nó dập ra và chảy nước.
Cái việc cầm những cây mía đút vào miệng che, phải dùng một người chuyên giữ, người ấy thường là trẻ con hay đàn bà, vì việc không khó.
Dưới chỗ hai ống che đứng, có một miếng ván dày và lớn gọi là “cái mông”. Trên cái mông có đục một đường mương, nước mía ép ra bao nhiêu thì do đường mương ấy mà chảy vào cái “muống thúy”.
Cái muống thúy chôn kế lấy cái mông, chỗ đường mương đã cùng, mà chôn trầm xuống dưới mặt đất chừng một tấc. Bao nhiêu nước mía chảy xuống, chứa ở đó, rồi dần dần múc vợi đi.
Bạn đọc biết qua đại khái cách cuộc cái chòi mía như thế rồi nghe câu chuyện mới phủng.
Một hôm người ta dậy đạp mía từ hồi gần sáng. Một đứa gái nhỏ giữ việc “chụm che”, tức là cầm những cây mía cho vào miệng che. Vì còn tối trời nên có thắp cái đèn dầu lu ly treo nơi cột.
Một con cọp đi kiếm ăn sớm, đến gần chòi, ngồi rình từ bao giờ không ai biết. Vừa lúc con trâu đi qua khỏi tầm mắt nó, con cọp nhảy tới định vồ đứa gái ngồi chụm che.